Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
MỤC LỤC
Trần Thị Ngọc Anh 1 Kiểm toán 45A
1
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
MỤC LỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Bảng 1 - Trụ sở và các chi nhánh của AASC
Bảng 2 - Tình hình biến động về cán bộ, nhân viên công ty trong 5 năm qua
Bảng 3 - Bảng tổng hợp bút toán điều chỉnh của Công ty ABC
Bảng 4 - Bảng tổng hợp bút toán điều chỉnh của Công ty XYZ
Sơ đồ 1.1 - Sơ đồ bộ máy quản lý
Sơ đồ 1.2 – Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán.
Sơ đồ 1.3 – Sơ đồ hạch toán theo hình thức nhật ký chung.
Sơ đồ 2.1 – Các công việc thực hiện trong giai đoạn kết thúc kiểm toán.
Sơ đồ 2.2 - Lập kế hoạch chiến lược.
MỤC LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cách viết tắt Cách viết đầy đủ
AASC Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
TSCĐ Tài sản cố đinh
BCTC Báo cáo tài chính
BCKT Báo cáo kiểm toán
BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
KTV Kiểm toán viên
GTGT Giá trị gia tăng
Trần Thị Ngọc Anh 2 Kiểm toán 45A
2
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán
kiểm toán, cùng với những kiến thức thực tế có được trong thời gian thực tập tại
AASC em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình lập và phát hành báo cáo
kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và
Kiểm toán” với mong muốn đi sâu tìm hiểu thực tế quy trình lập và phát hành
báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty cũng như nêu ra một số ý kiến
đóng góp nhằm hoàn thiện quy trình lập và phát hành báo cáo kiểm toán.
Chuyên đề gồm có 3 phần:
- Phần 1: Tổng quan về Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và
Kiểm toán (AASC)
- Phần 2: Thực trạng lập và phát hành báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính
tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán
(AASC)
- Phần 3: Hoàn thiện quy trình lập và phát hành báo cáo kiểm toán báo cáo
tài chính tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và
Kiểm toán (AASC)
Do giới hạn về thời gian và điều kiện thực tế còn nhiều hạn chế việc tiếp
cận nghiên cứu đề tài chỉ mới dừng lại ở mức độ kết hợp giữa nghiên cứu lý luận
với quan sát thực tiễn, phỏng vấn…cho nên vấn đề chưa được giải quyết cụ thể.
Mong rằng nội dung này sẽ được đưa ra bàn luận ở những bậc nghiên cứu cao
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Bùi Thị Minh Hải và các anh chị đang
công tác tại AASC đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
Sinh viên thực hiệnTrần Thị Ngọc Anh
Trần Thị Ngọc Anh 4 Kiểm toán 45A
4
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
Phần I - TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY DỊCH VỤ
triển của các doanh nghiệp Việt Nam, nhu cầu kiểm toán xác minh BCTC ngày
càng lớn. Để đáp ứng nhu cầu đó, AASC đã quyết định mở rộng thêm các chi
nhánh tại các tỉnh, thành phố: chi nhánh tại Thanh Hoá thành lập ngày
14/3/1997, chi nhánh mới tại TP. Hồ Chí Minh thành lập ngày 13/3/1997 thay
cho chi nhánh cũ, ngày 2/2/1995 văn phòng đại diện tại Hải Phòng được thành
lập nhưng đến ngày 1/1/2003 mới chính thức đi vào hoạt động và trở thành chi
nhánh của công ty, cuối cùng là chi nhánh được thành lập tại Quảng Ninh.
Hiện nay, AASC là một doanh nghiệp Nhà nước đầu ngành trong lĩnh vực
kiểm toán với trụ sở chính đặt tại số 1 Lê Phụng Hiểu - Quận Hoàn Kiếm – Hà
Nội và 5 chi nhánh tại các tỉnh thành.
Bảng 1 - Trụ sở và các chi nhánh của AASC
Trụ sở chính Số 01 Lê Phụng Hiểu – Hoàn Kiếm – Hà Nội
Các chi nhánh Chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh
Số 29 Võ Thị Sáu - Quận I – TP.Hồ Chí Minh
2. Chi nhánh Vũng Tàu
Số 237 Lê Lợi - Phường 6 – TP.Vũng Tàu
3. Chi nhánh Thanh Hoá
Số 25 Phan Chu Trinh - Phường Điện Biên – TP.Thanh Hoá
4. Chi nhánh Quảng Ninh
Cột 2 - Đường Nguyễn Văn Cừ - TP.Hạ Long
Không chỉ vươn tới mục tiêu uy tín và hiệu quả, công ty còn quan hệ chặt
chẽ với các Bộ, Vụ, Viện, các ngành, các cơ quan nghiên cứu, và đẩy mạnh hoạt
động hợp tác với các công ty, tổ chức kiểm toán, kế toán trong và ngoài nước
như: VACO, E&Y, PwC, KPMG nhằm tăng cường hiệu quả của công tác
Trần Thị Ngọc Anh 6 Kiểm toán 45A
6
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
chuyên môn, tiếp cận được với các kiến thức quốc tế, trao đổi và phổ biến kinh
nghiệm thực tiễn Việt Nam với các hãng kiểm toán quốc tế.
Qua hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành, tháng 8 năm 2001 AASC đã
Trần Thị Ngọc Anh 8 Kiểm toán 45A
Phòng hành
chính tổng hợp
Phòng công
nghệ thông tin
Phòng
kế toán
Chi nhánh TP. Hồ Chí
Minh
Phòng kiểm toán
các ngành sản xuất vật
chất
Phòng kiểm toán các
ngành thương mại dịch
vụ
Phòng kiểm toán
và
Tư vấn
Chi nhánh
Quảng Ninh
Chi nhánh Thanh
Hoá
Chi nhánh Vũng
Tàu
Phòng kiểm toán xây
dựng cơ bản
Phòng đào tạo và
hợp tác quốc tế
Phòng kiểm toán
Dự án
đốc 5
Tạ
Quan
g Tạo
Giám
đốc
Ô.
Ngô
Đức
Đoàn
8
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
Hiện nay, bộ phận quản lý chủ chốt của công ty nằm tại trụ sở chính ở Hà
Nội với toàn bộ Ban giám đốc và các phòng chức năng, phòng nghiệp vụ được
sắp xếp từ trên xuống dưới. Đứng đầu là Giám đốc phụ trách quản lý chung và
các Phó giám đốc phụ trách các lĩnh vực hoạt động khác nhau. Hàng năm, công
ty tiến hành phân công lại Ban giám đốc, đảm bảo sự chỉ đạo tập trung thống
nhất, phát huy sức mạnh của tập thể lãnh đạo trong tổ chức điều hành công việc.
Công ty có 2 phòng chức năng là phòng Hành chính tổng hợp và phòng Kế
toán.
Phòng Hành chính tổng hợp: là phòng thực hiện các chức năng ban hành
các văn bản, quyết định về công tác, tổ chức của công ty, quản lý các công văn
đi, công văn đến, và các việc tổ chức, hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ (điều động
xe, hậu cần ).
Phòng Kế toán: Ban hành, bổ sung, sửa đổi quy chế tài chính, hạch toán
kết quả hoạt động và ra BCTC trong công tác điều hành, quản lý công ty và giải
quyết mọi vấn đề về tài chính của công ty.
Ngoài 2 phòng chức năng, AASC còn có 7 phòng nghiệp vụ trực tiếp
tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty.
Phòng Công nghệ thông tin: bao gồm 1 trưởng phòng và 7 nhân viên với
Phòng đào tạo và kiểm soát chất lượng: với 2 mảng chính là quan hệ hợp
tác quốc tế và đào tạo, kiểm soát chất lượng. Phòng thực hiện các hoạt động chủ
yếu như sau: tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới, đào tạo nội bộ, sát hạch định
kỳ cho nhân viên, cập nhật chính sách, chủ trương mới, tiếp cận, phổ biến các
qui trình, kiến thức kiểm toán mới và thực hiện kiểm soát chất lượng.
Các chi nhánh của công ty cũng có cấu tạo như 1 mô hình thu nhỏ của trụ
sở chính, tuy nhiên lại gặp khó khăn về việc giới hạn lãnh thổ, quy mô và
cơ sở vật chất. Chi nhánh lớn nhất là chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh do Phó
giám đốc Tạ Quang Tạo trực tiếp quản lý.
Trần Thị Ngọc Anh 10 Kiểm toán
45A
10
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
Đội ngũ nhân viên
Nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng, AASC đã tuyển chọn và đào tạo
được một đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao và có rất nhiều kinh
nghiệm trong công tác Kế toán và Kiểm toán.
Bảng 2 - Tình hình biến động về cán bộ, nhân viên công ty trong 5 năm qua
STT Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1 Nhân viên 231 254 249 300
2 Số lượng KTV 74 87 103 115 118
3 Thẩm định viên về giá - - - 4 8
4 Tiến sĩ, thạc sĩ 3 3 3 8
5 Học ACCA 5 5 3 6
Hiện nay, AASC có hơn 300 nhân viên kiểm toán trong đó có 118 nhân
viên đạt chứng chỉ kiểm toán cấp Nhà nước, 8 nhân viên đạt chứng chỉ thẩm
định viên về giá. Các chuyên gia tư vấn của AASC với bề dày kinh nghiệm hoạt
động thực tiễn nhiều năm và đặc biệt kinh nghiệm trong công tác tư vấn quản trị
tài chính sẽ giúp cho khách hàng sẽ đạt được những mong muốn về lợi nhuận.
Đội ngũ nhân viên của AASC được đào tạo có hệ thống ở trong nước và
viên kế toán này sẽ chịu trách nhiệm về những công việc kế toán được giao.
Trần Thị Ngọc Anh 12 Kiểm toán
45A
Kế toán trưởng
Kế toán
Ngân
hàng
Kế toán
Thanh
toán
Kế toán
Tổng
hợp
Kế toán
Tiền
lương
12
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
Để phù hợp với công việc quản lý, công ty đã sử dụng hình thức kế toán
Nhật ký chung.
Trần Thị Ngọc Anh 13 Kiểm toán
45A
13
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
Sơ đồ 1.3 – Sơ đồ hạch toán theo hình thức nhật ký chung
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng, hoặc định kỳ
Quan hệ đối chiếu
1.3.2. Chính sách kế toán áp dụng tại Công ty
Phần II - THỰC TRẠNG LẬP VÀ PHÁT HÀNH
BÁO CÁO KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC)
2.1. Quy trình tiến hành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính tại
Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
(AASC)
2.1.1. Tiếp cận khách hàng
Nhằm từng bước khẳng định vị trí của mình trong lĩnh vực kiểm toán độc
lập cũng như tăng sức mạnh cạnh tranh với các công ty kiểm toán lớn đang hoạt
động tại Việt Nam, AASC luôn chủ động trong việc tìm kiếm khách hàng.
Khách hàng của AASC có thể chia làm 2 loại:
- Khách hàng thường xuyên.
- Khách hàng kiểm toán năm đầu tiên.
Khách hàng thường xuyên
Khách hàng thường xuyên là những khách hàng đã được AASC kiểm toán
năm trước và có kế hoạch kiểm toán trong những năm tiếp theo.
Công ty ABC là một ví dụ về khách hàng thường xuyên của AASC
Công ty ABC là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở Thương mại - Tỉnh
P, được thành lập theo Quyết định số 123/QĐ-UB ngày 15/10/1991 của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh P.
Theo giấy chứng nhận kinh doanh số 1020 ngày 15/10/1991 đã được đăng
ký thay đổi lần thứ 5 ngày 15/05/2004, do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh P cấp.
Trần Thị Ngọc Anh 16 Kiểm toán
45A
16
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty ABC là:
- Hàng nông sản:
+ Chế biến các loại trái cây như nhãn, chôm chôm, thanh long, xoài,
Công ty XYZ là một ví dụ về khác hàng năm đầu tiên của AASC
Công ty XYZ là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở Thương mại - Tỉnh
Q, được thành lập theo Quyết định số 456/QĐ-UB ngày 25/02/1995 của Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Q.
Theo giấy chứng nhận kinh doanh số 3250 ngày 15/03/1995 đã được đăng
ký thay đổi lần thứ 3 ngày 15/05/2002, do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Q cấp.
Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty XYZ là :
- Thu mua, chế biến và xuất khẩu các loại thủy sản (đông lạnh, khô, ướp
đá, đóng hộp), bột cá.
- Sản xuất và cung ứng nước đá phục vụ cho khai thác thủy sản.
- Sản xuất và cung ứng bao bì phục vụ công tác bảo quản trong khai thác
và chế biến thủy sản.
- Nhập khẩu và cung ứng vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, các loại
máy móc, vật tư phụ tùng, phương tiện vận chuyển, ngư lưới cụ, xăng dầu phục
vụ nghề cá.
- Nuôi trồng thủy sản các loại (Tôm sú, cá Tra, Basa, Rô Phi, ).
Vốn điều lệ: 31.756.000.000đ
Thị trường: hàng hóa của Công ty đã xuất khẩu đến 15 nước và vùng
lãnh thổ khu vực Ðông Nam Á, Ðông Bắc Á, Châu Âu, Bắc Mỹ và Nga
Tổng số lao động: 3000 người.
Niên độ kế toán: 01/01 – 31/12
2.1.2. Lập kế hoạch kiểm toán
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc
kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm
căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên
Trần Thị Ngọc Anh 18 Kiểm toán
45A
18
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
BCTC, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo ba giai đoạn: lập kế hoạch
Môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và
hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc đối với hệ thống
kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị.
Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết
lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể.
Như vậy một hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là tốt khi mà những
yếu tố trên được thực hiện tốt. Hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện chặt
chẽ, đầy đủ thì những rủi ro kiểm soát, rủi ro tiềm tàng và rủi ro phát hiện là thấp
nhất.
Sơ đồ 2.2 - Lập kế hoạch chiến lược
Đối với khách hàng năm đầu tiên như công ty XYZ, việc xây dựng kế
hoạch chiến lược được lập một cách chi tiết để có những đánh giá ban đầu về
tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán. Đồng thời, KTV tiến hành đánh giá hệ thống
kiểm soát từ đầu, tức là KTV tiến hành thu thập xem xét hệ thống kế toán, các
chính sách kế toán, các quy định quản lý của Ban giám đốc đối với đơn vị.Việc
Trần Thị Ngọc Anh 20 Kiểm toán
45A
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Thu thập thông tin cơ sở
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán
20
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
đánh giá này, KTV thực hiện dựa trên xét đoán nghề nghiệp và theo chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ.
Còn đối với khách hàng thường xuyên như Công ty ABC thì việc lập kế
hoạch chiến lược đã được thực hiện một cách chi tiết vào năm đầu tiên kiểm
toán, đồng thời dần hoàn thiện vào những năm kiểm toán tiếp theo. Tuy nhiên
Vì việc xem xét các ảnh hưởng của các sự kiện , điều kiện đã được phát hiện để
đưa ra những đánh giá ban đầu về các bộ phận của rủi ro kiểm toán và sự hiện
hữu của các sự kiện, điều kiện này có thể ảnh hưởng tới nội dung, lịch trình và
phạm vi của các thủ tục kiểm toán.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570 - Hoạt động liên tục- giả
định hoạt động liên tục là một nguyên tắc cơ bản khi lập và trình bày BCTC.
Theo giả định này, tài sản và nợ phải trả được ghi nhận dựa trên cơ sở là đơn vị
có khả năng thực hiện giá trị các tài sản và thanh toán các khoản nợ phải trả
trong điều kiện kinh doanh bình thường. Vì vậy yếu tố “hoạt động liên tục” có
ảnh hưởng trực tiếp tới việc kiểm toán BCTC.
Một đơn vị được coi là hoạt động liên tục trong một tương lai gần có thể
dự đoán được (ít nhất là một năm kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán) khi không
có ý định hoặc yêu cầu phải giải thể, ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy
mô hoạt động, tìm kiếm sự bảo hộ từ các chủ nợ theo pháp luật và các quy định
hiện hành.
Công ty ABC là khách hàng thường xuyên thì việc xem xét giả định hoạt
động liên tục đã được đánh giá vào những năm trước. Vì vậy, trong năm nay
KTV chỉ tập trung vào những thay đổi của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn tới
giả định này.
Còn đối với công ty XYZ là khách hàng năm đầu tiên thì việc xem xét giả
định hoạt động liên tục được KTV viên xem xét kỹ hơn thông qua những chỉ tiêu
trên BCTC và những yếu tố có liên quan như: nhà cung cấp, thị trường kinh
doanh…
Khi tiến hành một cuộc kiểm toán, KTV cũng phải quan tâm đến tính
trọng yếu của thông tin và mối quan hệ của nó với rủi ro kiểm toán. Bởi vì, mục
Trần Thị Ngọc Anh 22 Kiểm toán
45A
22
Lập và phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
tiêu của kiểm toán BCTC là để KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác
luận kiểm toán và từng thủ tục được tham chiếu xuống các trang giấy làm việc
thực hiện thủ tục đó.
Vì hai công ty ABC và XYZ đều là doanh nghiệp nhà nước và cùng hoạt
động trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại nên chương trình kiểm toán xây
dựng cho cả hai công ty là tương đối giống nhau.
2.1.3. Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm
toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán.
Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các công việc đã ấn
định trong kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực
về mức độ trung thực và hợp lý của bảng khai tài chính trên cơ sở những bằng
chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy. Trong quá trình kiểm toán, KTV phải thường
xuyên ghi chép những phát hiện, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số,
các sự kiện … nhằm tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm
toán và loại trừ những ấn tượng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ,
các sự kiện thuộc đối tượng kiểm toán. Chính vì vậy kết quả đánh giá mức trọng
yếu và rủi ro kiểm toán của KTV ở thời điểm lập kế hoạch kiểm toán ban đầu có
thể khác với kết quả đánh giá ở những thời điểm khác nhau trong giai đoạn thực
hiện kiểm toán. Sự khác nhau này là do sự thay đổi tình hình thực tế hoặc sự
thay đổi về sự hiểu biết của KTV về đơn vị được kiểm toán dựa trên kết quả
kiểm toán đã thu thập được. Hơn nữa, trong khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV
thường ấn định mức trọng yếu có thể chấp nhận được thấp hơn so với mức sử
dụng để đánh giá kết quả kiểm toán nhằm tăng khả năng phát hiện sai sót.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV cần xem xét tính trọng yếu trên
phương diện mức độ sai sót tổng thể của BCTC trong mối quan hệ với mức độ
sai sót chi tiết của số dư các tài khoản, của các giao dịch và các thông tin trình
bày trên BCTC. Ngoài các sai sót trọng yếu, thường có một số lượng lớn các sai
Trần Thị Ngọc Anh 24 Kiểm toán
45A
24
45A
25