ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Thu
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ XÁC
LẬP
MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI KHU VỰC TÂY NAM
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Thu
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ XÁC
LẬP
MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI KHU VỰC TÂY NAM
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 85 01 03
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của lãnh đạo UBND,
các đồng chí công chức địa chính, các đồng chí chủ nhiệm HTXNN 9 xã nghiên cứu; Các
đồng chí của xí nghiệp đầu tư và phát triển thủy lợi huyện Chương My, các đồng chí
phòng Kinh Tế, phòng Quản lý đô thị, phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục thống
kê huyện Chương Mỹ đã tạo rất nhiều điều kiện giúp đỡ để tôi có đầy đủ dữ liệu, số
liệu nghiên cứu.
Cảm ơn sự động viên nhiệt tình, ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng để có thể hoàn thiện luận văn bằng tất cả khả năng của
mình nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng
góp quý báu của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 12năm2015
Học viên
Lê Thị Thu
5
MỤC LỤC
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FAO
Tổ chức lương thực thế giới
HTSDĐ
XH
Xã hội
MỤC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ SƠ ĐỒ MINH HỌA
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc
biệt cũng là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác ở trên trái
đất. Đất đai chính là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế trong sản
xuất nông nghiệp, tạo ra lương thực thực phẩm giúp con người tồn tại.
Ngày nay do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự bùng nổ về dân
số, nạn ô nhiễm và suy thoái về môi trường….. đã ngày càng thu hẹp diện tích đất nông
nghiệp, vì vậy, việc nghiên cứu các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá hiệu
quả sử dụng đất để từ đó sử dụng và quản lý đất đai theo quan điểm nông nghiệp bền
vững là vấn đề hết sức quan trọng đối với thế giới nói chung và nước ta nói riêng.
Khu vực tây nam huyện Chương Mỹ nằm ở phía tây nam thủ đô Hà Nội, cách
trung tâm 30 Km có tốc độ phát triển kinh tế cao với tỷ trọng sản xuất nông nghiệp
chiếm 22% trong cơ cấu kinh tế chung của toàn huyện. Cơ cấu kinh tế trong khu vực
nông thôn đang có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng nhanh giá trị sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ thương mại, giảm dần giá trị sản
xuất nông nghiệp. Bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh về trồng trọt, chăn
nuôi, thủy sản quy mô lớn, giá trị sản xuất nông nghiệp trên một hécta canh tác không
ngừng được tăng cao. Tuy vậy, phương thức sản xuất mới chỉ chú trọng vào vào tăng
Nghiên cứu đánh giá kinh tê sinh thai các h
́
́
ệ thống sử dụng đất nông nghiệp
chủ yếu tại khu vực.
Nghiên cứu đánh giá các mô hình kinh tế sinh thái tại khu vực nghiên cứu.
Đề xuất hướng điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của khu vực theo hướ ng
bền vững và xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái (nông hộ, nông trại) phuc̣
vu quan ly đât đai phù h
̣
̉
́ ́
ợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: 9 xã khu vực tây nam huyện Chương Mỹ là Thủy Xuân
Tiên, Thanh Bình, Tân Tiến, Nam Phương Tiến, Hoàng Văn Thụ, Hữu Văn, Mỹ Lương,
Trần Phú, Đồng Lạc.
Phạm vi khoa học:
Nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất đai.
Đánh giá một số mô hình kinh tế sinh thái chủ yếu.
Đề xuất không gian sử dụng hợp lý trong đất trong nông nghiệp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin số liệu có liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến nội của luận văn đã được công bố ở các cấp, ngành; Thu thập thông
tin từ các hộ nông dân đang trực tiếp sử dụng đất.
Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất nhằm thu thập các thông tin như số liệu về tinh hình đời sống, sản xuất cũng
như các vấn đề liên quan như chính sách, đất đai, lao động, việc làm, khó khăn trong sản
7. Kết quả đạt được
Bản đồ đơn vị đất đai và bản đồ hệ thống sử dụng đất đánh giá các hệ thống
sử dụng đất đai chủ yếu trên địa bàn.
Nghiên cứu và đánh giá các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện hữu tại khu vực
nghiên cứu và từ đó xác lập mộ số mô hình kinh tế sinh thái (nông hộ, nông trại) phù
hợp với tiềm năng của khu vực.
Đề xuất được các giải pháp quản lý sử dụng đất khu vực tây nam huyện
10
Chương Mỹ.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài các mở đầu, kết luận luận văn được bố cục thành 3 chương chính như
sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất đai và mô
hình hệ kinh tế sinh thái
Chương 2: Phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực tây nam
huyện Chương Mỹ phục vụ quy hoach s
̣
ử dung đ
̣
ất nông nghiệp và xác lâp mô hình hệ
kinh tế sinh thái
Chương 3: Đánh giá hệ thống sử dụng đất và định hướng sử dụng đất nông
nghiệp phuc vu quan ly đât đai khu v
̣
̣
̉
́ ́
khả năng sử dụng đất và nước xem như là bước nghiên cứu kế tiếp công
tác nghiên cứu đặc điểm đất. Trong phân loại khả năng đất có tưới
(Irrigation land suitability classification) của Cục cải tạo đất đai – Bộ nông
nghiệp Mỹ (USBR), đất được phân loại thành 6 lớp: từ lớp có thể trồng
trọt được (Arable) đến lớp có thể trồng trọt được một cách có giới hạn
(Limited arable) đến lớp không thể trồng trọt được (Non – arable). Đến
năm 1961, Cơ quan bảo vệ đất – Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đề xuất
nghiên cứu “Phân hạng khả năng đất đai” dựa trên những hạn chế của đất
đai gây trở ngại đến sử dụng đất, những hạn chế khó khắc phục cần phải
đầu tư vốn, lao động kỹ thuật… mới có thể khắc phục được. Hạn chế
được chia thành hai mức: hạn chế tức thời và hạn chế lâu dài. Hệ thống
đất đai được chia thành ba cấp: lớp, lớp phụ và đơn vị. Còn đất đai được
chia thành tám lớp và hạn chế tăng dần từ lớp I đến lớp VIII, từ lớp I đến
lớp VI có khả năng sử dụng cho nông – lâm nghiệp, lớp V đến VII chỉ có
thể sử dụng lâm nghiệp, lớp VIII chỉ sử dụng cho các mục đích khác. Đây
là một trong những cách tiếp cận trong đánh giá đất đai, có quan tâm đến
các yếu tố hạn chế và hướng khắc phục các hạn chế, có xét đến vấn đề
kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất.
Đánh giá đất theo quan điểm của Nga (Liên Xô cũ) và các nước Đông
Âu
12
Nội dung đánh giá đất ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu theo hai
hướng bao gồm đánh giá chung về nông nghiệp của vùng và đánh giá riêng
về đất canh tác của từng xí nghiệp nông nghiệp dựa trên hiệu xuất cây
trồng là ngũ cốc và cây họ đậu.
Đơn vị đánh giá đất là các chủng đất bao gồm: đất trồng cây nông
nghiệp có tưới, đất nông nghiệp được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm và
dụng đấ t, FAO (1989); đánh giá đấ t cho mục tiêu phát triển, FAO (1990); đánh giá
đất đồ ng cỏ, FAO (1991 ); đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác phục vụ quy
hoạch sử dụng đất, FAO (1995).
Ở Việt Nam
Các nhà khoa học trong các công trình của mình đề cập đến cơ sở lý luận về mô
hình hệ kinh tế sinh thái là Phạm Quang Anh (1983) và Nguyễn Văn Trường đề cập đến
cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái trong những tác phẩm: Tiếp cận vấn đề kinh tế
sinh thái ở Việt Nam, Vấn đề kinh tế sinh thái ở Việt Nam,
Có những công trình đã vận dụng những cơ sở lý luận này trên những đơn vị
lãnh thổ cụ thể như:
Viện Địa lý, 1995 1996, Mô hình tự nhiên kinh tế xã hội vùng gò đồi Sáu Lán
thuộc khu kinh tế mới Sen Bàng huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình (Nguyễn Văn Vinh,
Nguyễn Văn Nhưng);
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 1998 2000, Mô hình ứng dụng tiến bộ
khoa học công nghệ thích hợp phát triển kinh tế xã hội vùng gò đồi xã Gio Linh, Quảng
Trị; Phòng Nông nghiệp huyện Triệu Phong.
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 1995 2000, Mô hình vườn đồi tại vùng
kinh tế mới tây Đồng Hới;
Trương Quang Hải và nnk, 2004, Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tế
sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả Tà Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh
Lào Cai.
Lê Đức Tố và nnk, 2005, Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế
14
sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam
(Chương trình KC.09, mã số KC.09.12. 20022003).
Đào Đình Bắc và nnk, 2005, Cơ sở khoa học về mô hình hệ kinh tế sinh thái
đối với các cư dân miền núi tái định cư sau công trình thuỷ điện nhỏ Chu Linh, huyện Sa
Là các thuộc tính của đất tác động đặc biệt đến tính thích hợp của đất đó đối
với loại hình sử dụng đất riêng biệt. Đặc tính đất đai của bản đồ đơn vị đất đai có thể
thể hiện rõ rệt các điều kiện đất cho loại hình sử dụng đất. vì vậy nó chính là câu trả
lời trực tiếp cho các yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất. Các đặc tính
đất đai như: chế độ nhiệt, chế độ ẩm, khả năng thoát nước, chế độ cung cấp dinh
dưỡng, độ sâu của lớp đất,…
Tính chất đất đai
Là các thuộc tính của đất có thể đo đếm hoặc ước tính như trung bình lượng
mưa hằng năm, độ chua đất (pH), độ sâu lớp đất,…
Tính chất của đất được dùng để phân biệt các đơn vị bản đồ đất đai với nhau và
mô tả các đặc tính đất đai. Các tính chất đất đai có thể ảnh hưởng cùng lúc đến một vài
đặc tính đất đai và từ đó ảnh hưởng đến tính thích hợp đất khác nhau. Ví dụ như thành
phần cơ giới ảnh hưởng đến độ ẩm của đất,…
b. Loại hình sử dụng đất (Land Use Type)
Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng
đất đối với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế xã hội và
kỹ thuật được xác định.
Tùy theo mức độ nghiên cứu và yêu cầu đánh giá mà loại hình sử dụng đất phân
loại thành: loại hình sử dụng đất chính và loại hình sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất chính (Major type of Land Use)
Là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ
yếu dựa trên cơ sở sản xuất các cây trồng hàng năm, lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu
giải trí nghỉ ngơi, động vật hoang dã và của công nghệ được dùng đến như tưới nước,
cải thiện đồng cỏ.
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type – LUT)
Là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định.
Các thuộc tính đó bao gồm: quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức
kéo trong làm đất, đầu tư vật tư kỹ thuật,… và các đặc tính về kinh tế kỹ thuật như
16
Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
17
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa dạng
trên nhiều vùng đất khác, vì vậy khái niệm sử dụng đất nông nghiệp bền vững thể hiện
trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu
cầu và mục đích sử dụng của con người. Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được
gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả
năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài
nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường
sống của con người và sinh vật.
1.2.3. Đánh giá, phân hạng đất đai theo FAO
Khái niệm về đánh giá đất
Theo Docutraev đã định nghĩa về đánh giá đất như sau: “Đánh giá đất
là đánh giá khả năng sản xuất của đất dựa vào độ màu mỡ của đất”.
Còn theo A. Yonng (Anh) cho rằng: “Đánh giá đất là quá trình đoán
định tiềm năng của đất đai cho một hoặc một số loại hình sử dụng đất
được đưa ra để lựa chọn”.
FAO đã đề xuất định nghĩa về đánh giá đất như sau: “Đánh giá đất là
một quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất
cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần
phải có.
Kết hợp 3 quan điểm nêu trên, có thể định nghĩa đánh giá đất một
cách đầy đủ hơn như sau: đánh giá đất đai là đánh giá tiềm năng của đất đai
cho một hoặc một số loại hình sử dụng đất được lựa chọn dựa trên cơ sở
so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của khoanh đất cần đánh giá với
Bước 4: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Nguyên tắc lựa chọn và chỉ tiêu phân cấp các yếu tố dùng trong xây dựng bản
đồ đất đai
+ Nguyên tắc lựa chọn: Phù hợp với yêu cầu sử dụng đất; mang tính phổ biến
cao nhất; xuất phát từ thực tế sản xuất; phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
hội.
+ Các chỉ tiêu thường được lựa chọn: Các chỉ tiêu về khí hậu và thời tiết; các chỉ
tiêu về đất; các chỉ tiêu về địa hình; các chỉ tiêu về chế độ nước.
Xây dựng các bản đồ đơn tính: Bản đồ đơn tính là bản đồ thể hiện
đặc tính, tính chất riêng biệt của đất.
Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai: Các bản đồ đơn tính được chồng
xếp các bẩn đồ chuyên đề cùng tỷ lệ và cùng lưới chiếu bằng công nghệ
GIS để tạo thành bản đồ đơn vị đất đai.
Tổng hợp và mô tả đơn vị đất đai.
Bước 5: Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai
Tiến trình phân loại đánh giá mức độ thích hợp đất đai dựa trên cơ sở so sánh,
đối chiếu giữa các đặc tính, tính chất của đơn vị đất đai với các yêu cầu của LUT để
xác định mức độ thích hợp.
Cấu trúc phân hạng thích hợp đất đai
Theo hướng dẫn của FAO (1976)[17], phân hạng thích hợp đất đai được phân
thành 4 cấp: Loại, hạng, hạng phụ và đơn vị:
Hạng
Bộ (Order) Hạng (Class) Hạng phụ (Subclass) Đơn vị (Unit)
20
S: Thích hợp
như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, nâng cao
mức sống của toàn dân.
Đánh giá hiệu quả môi trường:
Đánh giá tác động của các hoạt động sản xuất nông nghiệp đến môi trường. Các
hoạt động này không có những tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí,
không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học.
Bướ c 7: Xác định loại s ử dụng đấ t thích hợp nhấ t
Từ kết quả phân hạ ng thích hợp và đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hộ i, môi
trườ ng, lựa ch ọn nh ững LUT thích hợp, đáp ứng các mục tiêu kinh tế, xã hộ i, môi
trườ ng và đề xuất các hệ thố ng sử dụng đấ t tố i ư u phục vụ quy hoạch sử d ụng
đất và tăng cườ ng công tác quản lý, bả o vệ tài nguyên đấ t của vùng.
Như vậy, đánh giá đấ t dựa trên cơ sở so sánh các dữ liệu tài nguyên đấ t vớ i
các yêu cầu sử d ụng đấ t của loại hình sử dụng đấ t. Nó cung cấ p thông tin về sự
thích hợp đấ t đai cho việc s ử d ụng đấ t. Kết quả đánh giá đấ t cho phép xác đị nh
tiềm năng sản xu ất của đấ t, là cơ sở cho việc xây dự ng các dự án đầ u tư sả n xuấ t
và đề xuất các biện pháp khoa học k ỹ thu ật phù hợp vớ i điề u kiệ n đị a phươ ng.
Phục vụ cho vi ệc định hướ ng s ử dụng đấ t, chố ng xói mòn, thoái hóa đấ t và bả o vệ
môi trườ ng.
Bướ c 8: Quy hoạch s ử d ụng đấ t
Bướ c 9: Ứng d ụng c ủa vi ệc đánh giá đấ t
1.3. Xác lập về hệ mô hình kinh tế sinh thái
1.3.1. Khái niệm chung về kinh tế sinh thái và mô hình hệ kinh tế sinh thái
Hệ kinh tế sinh thái
Khái niệm hệ kinh tế sinh thái được xem xét từ những năm 70 của thế kỷ XX
dưới nhiều góc độ và trên các quan điểm khác nhau của các nhà khoa học, trước hết
khía cạnh về tính thích nghi sinh thái (Mukina, 1973), hiệu quả kinh tế (Zvorưvkin K.B,
22
ngày càng tăng của mình. Hệ sinh thái nông nghiệp duy trì trên cơ sở quy luật khách quan của
nó, tương đối đơn giản về thành phần và đồng nhất về cấu trúc Hệ sinh thái nông nghiệp
được duy trì dưới sự tác động thường xuyên của con người, nếu ngừng tác động nó sẽ quay
về hệ sinh thái tự nhiên[13].
1.3.2. Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái
a) Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái
Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng trên cơ sở: (1) Kiểm kê, đánh giá
hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác điều tra tự
nhiên, điều tra kinh tế xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất xã hội; (2) Phân
tích chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ; (3) Hoàn thiện
các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (theo chu trình
sinh địa hoá). [3]
Nội dung các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái được khái quát hóa trên
hình 1.1,dựa theo các bước đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan bao gồm đánh giá thích
nghi sinh thái, đánh giá ảnh hưởng môi trường, đánh giá hiệu quả kinh tế, đánh giá tính
bền vững xã hội và đánh giá tổng hợp. Đánh giá thích nghi sinh thái là xác định mức độ phù
hợp của các đơn vị đất đai đối với đối tượng phát triển.[6].
24
Hình1.:Tổng quát các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái[6].
Theo một số tác giả, một mô hình hệ KTST được xác lập theo 4 nguyên tắc
chung: (1) Địa điểm xây dựng mô hình phải mang tính đặc trưng cho toàn vùng để sau
khi hoàn tất, mô hình cũng sẽ được áp dụng hiệu quả cho các vùng khác có điều kiện
tương tự;(2) Mô hình phải có tính khả thi, mang hiệu quả cao về kinh tế và môi trường;
(3) Quy mô của mô hình phù hợp với cơ chế quản lý mới trong nền kinh tế thị trường;
(4) Mô hình phải ổn định và có năng suất lao động cao, cải thiện môi trường, đảm bảo
khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển của toàn bộ hệ thống[4].
Việc xây dựng mô hình giúp con người đảm bảo sử dụng đúng mức, ổn định, dự