Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất đai phục vụ quản lý đất nông nghiệp và xác lập mô hình kinh tế sinh thái khu vực tây nam huyện Chương Mỹ, thành phố Hà - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Lê Thị Thu

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 
PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ XÁC 
LẬP 
MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI KHU VỰC TÂY NAM 
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Lê Thị Thu

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 
PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ XÁC 
LẬP 
MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI KHU VỰC TÂY NAM 
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 85 01 03


Nhân đây, tôi xin chân thành cảm  ơn sự  hợp tác, giúp đỡ  của lãnh đạo UBND, 
các đồng chí công chức địa chính, các đồng chí chủ nhiệm HTXNN 9 xã nghiên cứu; Các  
đồng chí của xí nghiệp đầu tư  và phát triển thủy lợi huyện Chương My, các đồng chí  
phòng Kinh Tế, phòng Quản lý đô thị, phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục thống 
kê huyện Chương Mỹ đã tạo rất nhiều điều kiện giúp đỡ  để  tôi có đầy đủ  dữ  liệu, số 
liệu nghiên cứu.
Cảm ơn sự động viên nhiệt tình, ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình 
thực hiện luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng để có thể hoàn thiện luận văn bằng tất cả khả năng của  
mình nhưng vẫn không thể  tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự  đóng  
góp quý báu của các thầy cô và các bạn. 
Hà Nội, tháng 12năm2015
Học viên

Lê Thị Thu

5


MỤC LỤC

6


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FAO

Tổ chức lương thực thế giới

HTSDĐ


XH

Xã hội

 MỤC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ SƠ ĐỒ MINH HỌA

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc  
biệt cũng là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác ở trên trái  
đất. Đất đai chính là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế trong sản 
xuất nông nghiệp, tạo ra lương thực thực phẩm giúp con người tồn tại.
Ngày nay do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự bùng nổ về dân 
số, nạn ô nhiễm và suy thoái về môi trường….. đã ngày càng thu hẹp diện tích đất nông  
nghiệp, vì vậy, việc nghiên cứu các hệ  thống sử  dụng đất nông nghiệp, đánh giá hiệu  
quả sử dụng đất để từ đó sử dụng và quản lý đất đai theo quan điểm nông nghiệp bền 
vững là vấn đề hết sức quan trọng đối với thế giới nói chung và nước ta nói riêng.
Khu vực tây nam huyện Chương Mỹ  nằm  ở  phía tây nam thủ  đô Hà Nội, cách 
trung tâm 30 Km có tốc độ  phát triển kinh tế  cao với tỷ  trọng sản xuất nông nghiệp  
chiếm 22% trong cơ  cấu kinh tế chung của toàn huyện. Cơ  cấu kinh tế  trong khu vực 
nông thôn đang có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng nhanh giá trị sản xuất công  
nghiệp, tiểu thủ  công nghiệp, xây dựng và dịch vụ  thương mại, giảm dần giá trị  sản  
xuất nông nghiệp. Bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh về trồng trọt, chăn  
nuôi, thủy sản quy mô lớn, giá trị  sản xuất nông nghiệp trên một héc­ta canh tác không  
ngừng được tăng cao. Tuy vậy, phương thức sản xuất mới chỉ chú trọng vào vào tăng  


­ Nghiên cứu đánh giá kinh tê­ sinh thai các h
́
́
ệ  thống sử  dụng đất nông nghiệp  

chủ yếu tại khu vực. 
­ Nghiên cứu đánh giá các mô hình kinh tế sinh thái tại khu vực nghiên cứu.
­  Đề  xuất hướng điều chỉnh quy hoạch sử  dụng đất của khu vực theo  hướ ng 
bền vững và xác lập một số  mô hình hệ  kinh tế  sinh thái (nông hộ, nông trại) phuc̣  
vu quan ly đât đai  phù h
̣
̉
́ ́
ợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu. 
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: 9 xã khu vực tây nam huyện Chương Mỹ  là Thủy Xuân 
Tiên, Thanh Bình, Tân Tiến, Nam Phương Tiến, Hoàng Văn Thụ, Hữu Văn, Mỹ Lương,  
Trần Phú, Đồng Lạc.
Phạm vi khoa học:
­ Nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất đai.
­ Đánh giá một số mô hình kinh tế sinh thái chủ yếu.
­ Đề xuất không gian sử dụng hợp lý trong đất trong nông nghiệp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin số liệu có liên quan trực tiếp 
hoặc gián tiếp đến nội của luận văn đã được công bố ở các cấp, ngành; Thu thập thông  
tin từ các hộ nông dân đang trực tiếp sử dụng đất.
Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ  gia đình, cá nhân đang sử  
dụng đất nhằm thu thập các thông tin như số liệu về tinh hình đời sống, sản xuất cũng  
như các vấn đề liên quan như chính sách, đất đai, lao động, việc làm, khó khăn trong sản 

7. Kết quả đạt được
­ Bản đồ đơn vị đất đai và bản đồ hệ thống sử dụng đất đánh giá các hệ thống  
sử dụng đất đai chủ yếu trên địa bàn.
­ Nghiên cứu và đánh giá các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện hữu tại khu vực  
nghiên cứu và từ  đó xác lập mộ  số  mô hình kinh tế  sinh thái (nông hộ, nông trại) phù  
hợp với tiềm năng của khu vực.
­ Đề  xuất được các giải pháp quản lý sử  dụng đất khu vực tây nam huyện  

10


Chương Mỹ.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài các mở  đầu, kết luận luận văn được bố  cục thành 3 chương chính như 
sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu đánh giá hệ  thống sử  dụng đất đai và mô  
hình hệ kinh tế sinh thái
           Chương 2: Phân tích các điều kiện tự  nhiên, kinh tế  ­ xã hội khu vực tây nam  
huyện Chương Mỹ phục vụ quy hoach s
̣
ử dung đ
̣
ất nông nghiệp và xác lâp mô hình hệ 
kinh tế sinh thái
Chương 3: Đánh giá hệ  thống sử  dụng đất và định hướng sử  dụng đất nông  
nghiệp phuc vu quan ly đât đai khu v
̣
̣
̉
́ ́

khả  năng sử  dụng đất và nước xem như là bước nghiên cứu kế  tiếp công 
tác   nghiên   cứu   đặc   điểm   đất.   Trong   phân   loại   khả   năng   đất   có   tưới 
(Irrigation land suitability classification) của Cục cải tạo đất đai – Bộ nông 
nghiệp Mỹ  (USBR), đất được phân loại thành 6 lớp: từ  lớp có thể  trồng  
trọt được (Arable) đến lớp có thể  trồng trọt được một cách có giới hạn 
(Limited arable) đến lớp không thể  trồng trọt được (Non – arable). Đến  
năm 1961, Cơ  quan bảo vệ  đất – Bộ  Nông nghiệp Mỹ  (USDA) đề  xuất  
nghiên cứu “Phân hạng khả năng đất đai” dựa trên những hạn chế của đất 
đai gây trở ngại đến sử dụng đất, những hạn chế khó khắc phục cần phải 
đầu tư  vốn, lao động kỹ  thuật… mới có thể  khắc phục được. Hạn chế 
được chia thành hai mức: hạn chế  tức thời và hạn chế  lâu dài. Hệ  thống 
đất đai được chia thành ba cấp: lớp, lớp phụ  và đơn vị. Còn đất đai được  
chia thành tám lớp và hạn chế tăng dần từ lớp I đến lớp VIII, từ lớp I đến 
lớp VI có khả  năng sử  dụng cho nông – lâm nghiệp, lớp V đến VII chỉ  có 
thể sử dụng lâm nghiệp, lớp VIII chỉ sử dụng cho các mục đích khác. Đây  
là một trong những cách tiếp cận trong đánh giá đất đai, có quan tâm đến 
các yếu tố  hạn chế  và hướng khắc phục các hạn chế, có xét đến vấn đề 
kinh tế ­ xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất. 
Đánh giá đất theo quan điểm của Nga (Liên Xô cũ) và các nước Đông  
Âu

12


Nội dung đánh giá đất  ở  Liên Xô cũ và các nước Đông Âu theo hai  
hướng bao gồm đánh giá chung về nông nghiệp của vùng và đánh giá riêng 
về  đất canh tác của từng xí nghiệp nông nghiệp dựa trên hiệu xuất cây 
trồng là ngũ cốc và cây họ đậu.
Đơn vị  đánh giá đất là các chủng đất bao gồm: đất trồng cây nông 
nghiệp có tưới, đất nông nghiệp được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm và 

dụng đấ t, FAO (1989); đánh giá đấ t cho mục tiêu phát triển, FAO (1990); đánh giá  
đất đồ ng cỏ, FAO (1991 ); đánh giá đất và phân tích hệ  thống canh tác phục vụ  quy  
hoạch sử dụng đất, FAO (1995).
Ở Việt Nam
Các nhà khoa học trong các công trình của mình đề cập đến cơ sở lý luận về mô 
hình hệ kinh tế sinh thái là Phạm Quang Anh (1983) và Nguyễn Văn Trường  đề cập đến 
cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái trong những tác phẩm: Tiếp cận vấn đề kinh tế 
sinh thái ở Việt Nam, Vấn đề kinh tế sinh thái ở Việt Nam,
Có những công trình đã vận dụng những cơ  sở  lý luận này trên những đơn vị 
lãnh thổ cụ thể như: 
­ Viện Địa lý, 1995 ­ 1996, Mô hình tự nhiên kinh tế ­ xã hội vùng gò đồi Sáu Lán 
thuộc khu kinh tế  mới Sen Bàng huyện Bố  Trạch tỉnh Quảng Bình  (Nguyễn  Văn Vinh, 
Nguyễn Văn Nhưng); 
­ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 1998 ­ 2000, Mô hình ứng dụng tiến bộ 
khoa học công nghệ thích hợp phát triển kinh tế ­ xã hội vùng gò đồi xã Gio  Linh, Quảng  
Trị; Phòng Nông nghiệp huyện Triệu Phong. 
­ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 1995 ­ 2000,  Mô hình vườn đồi tại vùng  
kinh tế mới tây Đồng Hới; 
­ Trương Quang Hải và nnk, 2004, Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ  kinh tế  
sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả ­ Tà Phìn, huyện Sa  Pa, tỉnh  
Lào Cai. 
­ Lê Đức Tố và nnk, 2005, Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế ­  

14


sinh   thái   trên   một   số   đảo,   cụm   đảo   lựa   chọn   thuộc   vùng   biển   ven   bờ   Việt   Nam  
(Chương trình KC.09, mã số KC.09.12. 2002­2003). 
­ Đào Đình Bắc và nnk, 2005, Cơ  sở khoa học về mô hình hệ  kinh tế  sinh thái 
đối với các cư dân miền núi tái định cư sau công trình thuỷ điện nhỏ Chu Linh, huyện Sa  

Là các thuộc tính của đất tác động đặc biệt đến tính thích hợp của đất đó đối  
với loại hình sử dụng đất riêng biệt. Đặc tính đất đai của bản đồ  đơn vị đất đai có thể 
thể hiện rõ rệt các điều kiện đất cho loại hình sử dụng đất. vì vậy nó chính là câu trả 
lời trực tiếp cho các yêu cầu sử  dụng đất của các loại hình sử  dụng đất. Các đặc tính  
đất đai như: chế  độ  nhiệt, chế  độ   ẩm, khả  năng thoát nước, chế  độ  cung cấp dinh 
dưỡng, độ sâu của lớp đất,…  
Tính chất đất đai
Là các thuộc tính của đất có thể  đo đếm hoặc  ước tính như  trung bình lượng  
mưa hằng năm, độ chua đất (pH), độ sâu lớp đất,…
Tính chất của đất được dùng để phân biệt các đơn vị bản đồ đất đai với nhau và 
mô tả các đặc tính đất đai. Các tính chất đất đai có thể ảnh hưởng cùng lúc đến một vài  
đặc tính đất đai và từ đó ảnh hưởng đến tính thích hợp đất khác nhau. Ví dụ như thành  
phần cơ giới ảnh hưởng đến độ ẩm của đất,… 
b. Loại hình sử dụng đất (Land Use Type)
Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng  
đất đối với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế ­ xã hội và 
kỹ thuật được xác định.
Tùy theo mức độ nghiên cứu và yêu cầu đánh giá mà loại hình sử dụng đất phân 
loại thành: loại hình sử dụng đất chính và loại hình sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất chính (Major type of Land Use) 
Là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ 
yếu dựa trên cơ sở sản xuất các cây trồng hàng năm, lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu  
giải trí nghỉ ngơi, động vật hoang dã và của công nghệ được dùng đến như  tưới nước, 
cải thiện đồng cỏ.
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type – LUT)
Là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định. 
Các thuộc tính đó bao gồm: quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức  
kéo trong làm đất, đầu tư  vật tư  kỹ  thuật,… và các đặc tính về  kinh tế  kỹ  thuật như 

16

 ­ Bền vững về  mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống 

17


người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa dạng  
trên nhiều vùng đất khác, vì vậy khái niệm sử dụng đất nông nghiệp bền vững thể hiện  
trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu 
cầu và mục đích sử dụng của con người.  Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được 
gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả 
năng sản xuất của cây trồng một cách  ổn định, không làm suy giảm về  chất lượng tài  
nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường  
sống của con người và sinh vật.
1.2.3. Đánh giá, phân hạng đất đai theo FAO

Khái niệm về đánh giá đất
Theo Docutraev đã định nghĩa về đánh giá đất như sau: “Đánh giá đất 
là đánh giá khả năng sản xuất của đất dựa vào độ màu mỡ của đất”.
Còn theo A. Yonng (Anh) cho rằng: “Đánh giá đất là quá trình đoán  
định tiềm năng của đất đai cho một hoặc một số  loại hình sử  dụng đất 
được đưa ra để lựa chọn”.
FAO đã đề xuất định nghĩa về đánh giá đất như sau: “Đánh giá đất là 
một quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất 
cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần 
phải có. 
Kết hợp 3 quan điểm nêu trên, có thể  định nghĩa đánh giá đất một 
cách đầy đủ hơn như sau: đánh giá đất đai là đánh giá tiềm năng của đất đai 
cho một hoặc một số loại hình sử dụng đất được lựa chọn dựa trên cơ  sở 
so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của khoanh đất cần đánh giá với 

Bước 4: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
­ Nguyên tắc lựa chọn và chỉ tiêu phân cấp các yếu tố  dùng trong xây dựng bản  
đồ đất đai
+ Nguyên tắc lựa chọn: Phù hợp với yêu cầu sử  dụng đất; mang tính phổ  biến 
cao nhất; xuất phát từ  thực tế  sản xuất; phù hợp với điều kiện tự  nhiên, kinh tế  ­ xã 
hội. 
+ Các chỉ tiêu thường được lựa chọn: Các chỉ tiêu về khí hậu và thời tiết; các chỉ 
tiêu về đất; các chỉ tiêu về địa hình; các chỉ tiêu về chế độ nước.

­ Xây dựng các bản đồ đơn tính: Bản đồ đơn tính là bản đồ thể hiện  
đặc tính, tính chất riêng biệt của đất.
­ Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai: Các bản đồ  đơn tính được chồng  
xếp các bẩn đồ  chuyên đề  cùng tỷ  lệ  và cùng lưới chiếu bằng công nghệ 
GIS để tạo thành bản đồ đơn vị đất đai.
 ­ Tổng hợp và mô tả đơn vị đất đai.
Bước 5: Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai
Tiến trình phân loại đánh giá mức độ  thích hợp đất đai dựa trên cơ  sở  so sánh, 
đối chiếu giữa các đặc tính, tính chất của đơn vị  đất đai với các yêu cầu của LUT để 
xác định mức độ thích hợp.
­ Cấu trúc phân hạng thích hợp đất đai 
Theo hướng dẫn của FAO (1976)[17], phân hạng thích hợp đất đai được phân 
thành 4 cấp: Loại, hạng, hạng phụ và đơn vị:
Hạng
Bộ (Order)         Hạng (Class)         Hạng phụ (Subclass)      Đơn vị (Unit)

20


S: Thích hợp


như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, nâng cao  
mức sống của toàn dân.
­ Đánh giá hiệu quả môi trường:
Đánh giá tác động của các hoạt động sản xuất nông nghiệp đến môi trường. Các  
hoạt động này không có những tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, 
không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học. 
Bướ c 7: Xác định loại s ử dụng đấ t thích hợp nhấ t 
Từ  kết quả  phân hạ ng thích hợp và đánh giá hiệu quả  kinh tế, xã hộ i, môi  
trườ ng, lựa ch ọn nh ững LUT thích hợp, đáp  ứng các mục tiêu kinh tế, xã hộ i, môi 
trườ ng và đề  xuất các hệ  thố ng sử  dụng đấ t tố i  ư u phục vụ  quy hoạch sử  d ụng  
đất và tăng cườ ng công tác quản lý, bả o vệ tài nguyên đấ t của vùng.
Như  vậy, đánh giá đấ t dựa trên cơ  sở  so sánh các dữ  liệu tài nguyên đấ t vớ i  
các yêu cầu sử  d ụng đấ t của loại hình sử  dụng đấ t. Nó cung cấ p thông tin về  sự 
thích hợp đấ t đai cho việc s ử  d ụng đấ t. Kết quả  đánh giá đấ t cho phép xác đị nh  
tiềm năng sản xu ất của đấ t, là cơ  sở  cho việc xây dự ng các dự  án đầ u tư  sả n xuấ t 
và đề  xuất các biện pháp khoa học k ỹ  thu ật phù hợp vớ i điề u kiệ n đị a phươ ng.  
Phục vụ cho vi ệc định hướ ng s ử dụng đấ t, chố ng xói mòn, thoái hóa đấ t và bả o vệ 
môi trườ ng. 
Bướ c 8: Quy hoạch s ử d ụng đấ t 
Bướ c 9: Ứng d ụng c ủa vi ệc đánh giá đấ t
1.3. Xác lập về hệ mô hình kinh tế sinh thái
1.3.1. Khái niệm chung về kinh tế sinh thái và mô hình hệ kinh tế sinh thái
Hệ kinh tế sinh thái
Khái niệm hệ  kinh tế  sinh thái được xem xét từ  những năm 70 của thế  kỷ  XX 
dưới nhiều góc độ  và trên các quan điểm khác nhau của các nhà khoa học, trước hết  
khía cạnh về tính thích nghi sinh thái (Mukina, 1973), hiệu quả kinh tế (Zvorưvkin K.B,  

22



ngày càng tăng của mình. Hệ sinh thái nông nghiệp duy trì trên cơ sở quy luật khách quan của 
nó, tương đối đơn giản về thành phần và đồng nhất về cấu trúc Hệ  sinh thái nông nghiệp  
được duy trì dưới sự tác động thường xuyên của con người, nếu ngừng tác động nó sẽ quay  
về hệ sinh thái tự nhiên[13].
1.3.2. Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái
a) Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái 
Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng trên cơ sở: (1) Kiểm kê, đánh giá  
hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác điều tra tự 
nhiên, điều tra kinh tế xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất xã hội; (2) Phân 
tích chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ; (3) Hoàn thiện  
các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (theo chu trình 
sinh ­ địa ­ hoá). [3]
Nội dung các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái được khái quát hóa trên  
hình 1.1,dựa theo các bước đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan bao gồm đánh giá thích 
nghi sinh thái, đánh giá  ảnh hưởng môi trường, đánh giá hiệu quả  kinh tế, đánh giá tính  
bền vững xã hội và đánh giá tổng hợp. Đánh giá thích nghi sinh thái là xác định mức độ phù  
hợp của các đơn vị đất đai đối với đối tượng phát triển.[6].

24


Hình1.:Tổng quát các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái[6].
Theo một số  tác giả, một mô hình hệ  KTST được xác lập theo 4 nguyên tắc 
chung: (1) Địa điểm xây dựng mô hình phải mang tính đặc trưng cho toàn vùng để  sau 
khi hoàn tất, mô hình cũng sẽ  được áp dụng hiệu quả  cho các vùng khác có điều kiện 
tương tự;(2) Mô hình phải có tính khả thi, mang hiệu quả cao về kinh tế và môi trường; 
(3) Quy mô của mô hình phù hợp với cơ chế quản lý mới trong nền kinh tế thị trường;  
(4) Mô hình phải ổn định và có năng suất lao động cao, cải thiện môi trường, đảm bảo 
khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển của toàn bộ hệ thống[4].
Việc xây dựng mô hình giúp con người đảm bảo sử dụng đúng mức, ổn định, dự 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status