Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển Nông - Lâm nghiệp và du lịch khu vực Đồng Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp - Pdf 59

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thiên nhiên, các thành phần tự nhiên (TN) luôn có mối quan hệ chặt chẽ 
với nhau, tạo thành các thể  tổng hợp địa lí TN thống nhất. Mỗi khu vực chỉ  thích  
hợp với một số loại hình sử  dụng nhất định và ngược lại. Khai thác, sử  dụng hợp  
lý tài nguyên phục vụ  phát triển mà không gây tác động xấu đến TN, đòi hỏi con  
người phải hiểu biết các quy luật của thiên nhiên. Nếu chỉ đánh giá một thành phần  
thì không thể đưa ra kiến nghị tổng hợp cho sự phát triển. Để giải quyết những vấn 
đề thực tế mang tính tổng hợp cao, hướng nghiên cứu cảnh quan (NCCQ), đánh giá  
cảnh quan (ĐGCQ) đã trở thành hướng nghiên cứu quan trọng, đáp ứng được nhiều  
vấn đề thực tế đặt ra và là cơ sở khoa học của việc lựa chọn các mục tiêu sử dụng 
thích hợp lãnh thổ. 
Hệ  sinh thái đất ngập nước (ĐNN) là một phần của cảnh quan thiên nhiên. 
Các công trình nghiên cứu cua cac nha khoa hoc cho biêt s
̉
́
̀
̣
́ ố liêu vê giá tr
̣
̀
ị kinh tê c
́ ủ a 
các hệ  sinh thái đất ngập nước  mang lai 
̣ ước tính khoang 14.900 t
̉
ỷ  USD (chiếm  
45% tổng giá trị của tất cả các hệ sinh thái tự nhiên trên toàn cầu). Con số này phản 
ánh những giá trị  và chức năng lớn lao của đất ngập nước bao gồm: Kiểm soát lũ 
lụt, bổ  sung nước ngầm,  ổn định bờ  biển và chống sóng bão, giữ  lại các chất bồi 
lắng và chất dinh dưỡng, giảm thiểu sự  biến đổi khí hậu, làm sạch nước, nguồn 
cung cấp đa dạng sinh học, cung cấp các sản phẩm của đất ngập nước, giải trí và  

́
ại lợi ích và giá trị  to lớn về  kinh tế, xã hội, văn hóa, môi 
trường. Đất ngập nước cũng là nơi cư  trú của nhiều loài động thực vật quý hiếm  
của Việt Nam và thế giới.
Viêt Nam là m
̣
ột trong những quốc gia rất giàu tiềm năng về đất ngập nước 
về diện tích, chức năng và giá trị va do n
̀
ằm trong vùng nhiệt đới, nươc ta đ
́
ược coi  
là một trong quôc gia co cac trung tâm có m
́
́ ́
ức đa dạng sinh học cao so vơi cac quôc
́ ́
́ 
gia, vung lanh thô trên th
̀
̃
̉
ế giới. Các hệ sinh thái nước ngọt cua Viêt Nam có kho
̉
̣
ảng 
2.611 loài thủy sinh vật, 1.403 loài tảo biển, 190 loài giáp xác, 147 loài trai  ốc, 54 
loài cá, 157 loai đông v
̀ ̣
ật nguyên sinh [30] Các vùng đất ngập mặn nội địa lớn như 

ĐNN có tầm quan trọng quốc tế và quốc gia, phục hồi các vùng ĐNN quan trọng đã  
bị suy thoái.
­ Thử nghiệm và nhân rộng các mô hình sử dụng khôn khéo và phát triển bền 
vững ĐNN tại các vùng ĐNN đặc thù cho các hệ sinh thái.
Những năm gần đây, do tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa va đô th
̀
ị  hóa, 
một diện tích rất lớn đất ngập nước đã bị chuyển hóa sang mục đích sử dụng khác, 
vì vậy tính chất, giá trị của đất ngập nước bị mai một. Sự phát triển này đã làm cho  
tai nguyên môi tr
̀
ường Viêt Nam nói chung, đ
̣
ất ngập nước nói riêng đang có dâu
́ 
hiêu bao đông do ch
̣
́
̣
ất thải công nghiệp, ô nhiễm dầu, sử  dụng hóa chất bảo vệ 
thực vật, chất hữu cơ và các chất độc hại khac trong qua trinh khai thác tài nguyên. 
́
́ ̀
Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên tham gia công ước Ramsar (công  
ước các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế  ngày 2/2/1971), điêu nay
̀ ̀ 
cho thấy Việt Nam đã sớm nhìn nhận được tầm quan trọng của các vùng đất ngập  
nước. Từ  đó đến nay, Việt Nam đã luôn nỗ  lực để   khuyến khích việc sử  dụng 
khôn khéo và quản lý bền vững các vùng đất ngập nước cua quôc gia. Nh
̉

́
̣
̉
̀ ̀ ́
̉
̀ ững cac vung đât ngâp n
́ ̀
́
̣ ước con
̀ 
nhiêu han chê. Thách th
̀ ̣
́
ức hiên nay đ
̣
ối với đất ngập nước là rất lớn, các hệ  sinh  
thái đất ngập nước của nước ta chiếm diện tích rộng lớn nhưng hầu như  chưa 
được chú ý đầy đủ  và đánh giá đúng mức cũng như  thiếu sự  đảm bảo về  thể  chế 
và pháp lý. Cần có sự đâu t
̀ ư trung và dài hạn để xây dựng cơ sở tri thức, khung thể 
chế  và pháp lý, khoa hoc công nghê nhăm nâng cao nh
̣
̣
̀
ận thức của cộng đồng và 
tăng cường năng lực ở các cấp đã được phân cấp để quản lý hợp lý đất ngập nước.  

3



̀  Nghị   đinh
̣   số 
109/2004/NĐ­CP ngay 23/9/2003 (viêt tăt la Nghi đinh 109) 
̀
́ ́ ̀
̣ ̣
quy đinh chi tiêt 
̣
́ viêc̣  
điều tra, lập quy hoạch, bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.  
Đông th
̀
ơi khăng đinh s
̀
̉
̣
ự cần thiêt va tinh 
́ ̀ ́ câp bach không chi đôi v
́ ́
̉ ́ ới quôc gia ma
́
̀ 
con
̀   thể   hiên
̣   trach
́   nhiêm
̣   cuả   thanh
̀   viên   tham   gia   công   ươ ́c   Ramsar  quôć   tê.́ 
Nhiêm vu nay 
̣

́
̣ ước, nghiên cứu đánh giá tổng 
hợp các hợp phần tự  nhiên, khai thác hợp lí các nguồn tài nguyên một cách hiệu 
quả, xây dựng bản đồ  kiến nghị  bố  trí các ngành sản xuất hợp lí, nhât la đôi v
́ ̀ ́ ới  
vung đât ngâp n
̀
́
̣ ươc nôi đia co quy mô, liên vung, liên khu v
́ ̣ ̣
́
̀
ực như   ở  vung Đông
̀
̀  
Thap M
́ ươi. Do đi
̀
ều kiện về thời gian cũng như  kinh phí có hạn nên chúng tôi chỉ 
giới hạn nghiên cứu vùng đất ngập nước khu vực Đồng Tháp Mười của tỉnh Đồng  
Tháp.
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề  tài  “Nghiên cứu đánh giá cảnh  
quan phục vụ  phát triển Nông ­ Lâm nghiệp và du lịch khu vực Đồng Tháp  
Mười tỉnh Đồng Tháp” làm đề tài luận văn Cao học.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1. Mục đích của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm nâng cao năng lực quan ly, b
̉
́ ảo tồn và phát triển bền 
vững vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười trong quá trình công nghiệp hóa, hiện 

̀
 
đia gi
̣
ơi hanh chinh là vùng phía B
́ ̀
́
ắc sông Tiền: thuộc vùng đât ngâp n
́
̣ ươc Đ
́ ồng  
Tháp Mười có diện tích trên 258,48 km2, chiếm 76,6% tổng diện tích tự  nhiên cuả  
tinh, bao g
̉
ồm thành phố  Cao Lãnh, thị  xã Hồng Ngự  (Ngày 23/12/2008 Thủ  tướng 
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 08/NĐ­
CP về  việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hồng Ngự  để  thành lập thị  xã  
Hồng Ngự và thành lập các phường: An Lộc, An Thạnh, An Lạc thuộc thị xã Hồng 
Ngự, tỉnh Đồng Tháp) và 06 huyện: Hồng Ngự, Tân Hồng, Tam Nông, Thanh Bình,  
Tháp Mười, Cao Lãnh. Tông sô đ
̉
́ ơn vi hanh chinh câp xa thuôc vung d
̣ ̀
́
́ ̃
̣
̀ ự an la 98 đ
́ ̀
ơn  
vi, chiêm ti lê 68,05% tông sô xa, ph

theo mục đích, yêu cầu của đề tài, chúng tôi thống kê các tài liệu theo bảng biểu và 
trình bày bằng biểu đồ. Từ đó, đánh giá tổng hợp, rút ra nhận xét về thực trạng và 
tiềm năng phát triển các ngành kinh tế của lãnh thổ nghiên cứu. 
4.3. Phương pháp bản đồ
“Bản đồ  là alpha và omega của địa lý” (N.N. Baranski). Nghiên cứu bản đồ,  
thành lập bản đồ là việc bắt đầu, cũng là việc kết thúc của quá trình nghiên cứu địa 
lý, thể hiện mọi kết quả nghiên cứu của các công trình.   
Phương pháp này được sử  dụng trong suốt quá trình nghiên cứu. Bắt đầu từ 
việc nghiên cứu bản đồ nhằm nắm bắt khái quát nhanh chóng khu vực nghiên cứu, 
từ  đó vạch ra các tuyến, điểm khảo sát đặc trưng của khu vực. Để  đánh giá tổng 
hợp các ĐKTN, TNTN theo đơn vị  lãnh thổ  thì không thể  không thành lập bản đồ 
CQ (bản đồ  địa tổng thể). Đề  tài đã xây dựng bản đồ  CQ tỉ  lệ  1: 100.000 cho khu  
vực nghiên cứu, dựa trên cơ  sở  phân tích các bản đồ  thành phần như: bản đồ  địa  
mạo, bản đồ độ cao và độ dốc, bản đồ đất, bản đồ thảm thực vật... Những bản đồ 

6


thành phần được đưa về cùng tỉ lệ rồi chồng xếp lên nhau, lấy đường khoanh trung 
bình làm ranh giới của các đơn vị CQ.
4.4. Phương pháp phân tích tiếp cận hệ thống, đánh giá tổng hợp
Phương pháp này được áp dụng khi phân tích cấu trúc CQ, mối quan hệ giữa  
các hợp phần TN trong cấu trúc đứng và cấu trúc ngang của các đơn vị CQ trên lãnh 
thổ nhằm xác định tính ổn định và tính biến động của chúng. Đánh giá tổng hợp giá 
trị kinh tế của TNTN và ĐKTN của tổng thể lãnh thổ cho mục tiêu KT­XH, mô hình 
hoá các hoạt động giữa TN với KT­XH, phục vụ việc dự báo cho sự  biến đổi của  
môi trường, điều chỉnh các tác động của con người, xây dựng cơ sở cho việc quản  
lí tài nguyên và BVMT.
4.5. Phương pháp hệ thông tin địa lý
Hệ thông tin địa lí (Geographic Information System­GIS) với sự hỗ trợ đắc lực  

Chương 3: Đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển ngành nông nghiệp – 
lâm nghiệp và du lịch vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp

8


Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH 
QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Cơ sở lí luận nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế    
1.1.1. Lí luận chung về nghiên cứu cảnh quan
1.1.1.1. Quan niệm về cảnh quan
Khái niệm CQ được sử  dụng lần đầu tiên vào thế  kỉ  XIX, có nghĩa là phong 
cảnh (tiếng Đức­ Landschaft). Theo lịch sử  phát triển của CQ học, nhiều tác giả 
nghiên cứu về  nó, đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau như: L.C.Berge (1931), [10],  
[20]; N.A. Xolsev (1948) [10], [20]; A.G. Ixatxenko (1965, 1991), [10], [20]; Armand 
D.L. (1975), [1]; Vũ Tự Lập (1976), [23]; Nguyễn Cao Huần (2005), [19]...  
Cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của Địa lý học hiện đại. Không kể  quan 
niệm CQ là phong cảnh như trên, hiện nay trong khoa học địa lý cùng tồn tại 3 quan 
niệm khác nhau về CQ: CQ là một khái niệm chung (F.N. Minkov, D.L. Armand,...), 
đồng nghĩa với tổng thể địa lý thuộc các đơn vị khác nhau; CQ là đơn vị mang tính  
kiểu hình (B.B. Polunov, N.A. Gvozdetxki,...); CQ là các cá thể địa lý không lặp lại  
trong không gian  (N.A. Xolsev, A.G. Ixatxenko, Vũ Tự Lập...). Dù xét CQ theo khía  
cạnh nào thì CQ vẫn là một tổng thể  TN. Sự  khác biệt của các quan niệm trên  ở 
chỗ coi CQ là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, CQ được xác định và thể hiện trên bản  
đồ theo cách thức nào [10], [20].
Hai quan niệm sau (quan niệm kiểu loại và quan niệm cá thể) được các nhà 
nghiên cứu chuyên ngành CQ sử  dụng. Trong đó, quan niệm kiểu loại phổ  biến  
hơn. Theo quan niệm này, CQ là sự  phối hợp biện chứng như  một tổng hợp thể 
lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ phân 

(nhân tác) vào NCCQ... Điều này đánh dấu hướng chuyển từ  nghiên cứu cấu trúc  
không gian sang nghiên cứu chức năng động lực của CQ và đây là cơ sở cho sự ra 
đời của nhiều bộ môn khoa học mới: địa vật lý CQ, địa hoá học CQ, vật hậu học  
CQ, sinh thái học CQ... 
Cùng thời gian này, vấn đề “môi trường sống dựa trên các nguyên tắc sinh thái 
và CQ địa lý” góp phần tạo nên hướng NCCQ mới ­ hướng  sinh thái CQ, nhưng nó 
ít có tiến bộ  rõ rệt trong lĩnh vực lý thuyết. Việc sinh thái hoá CQ là sử  dụng  
phương pháp nghiên cứu HST trong NCCQ, coi mỗi đơn vị CQ là một HST. Nghiên 
cứu thể  tổng hợp ĐLTN hay hệ  địa ­ sinh thái, nhằm nhấn mạnh vai trò của giới  
hữu sinh trong tổng thể. Tiếp cận hệ  thống đối với hệ  địa ­ sinh thái (hệ  thống 
động lực hở tự điều chỉnh) đồng nghĩa với việc nghiên cứu các thành phần, các mối  
quan hệ tương hỗ giữa chúng. Để hiểu mối cân bằng của một hệ địa ­ sinh thái cần 
hiểu mối liên hệ nội tại giữa các thành phần thuộc hai nhóm vật chất vô cơ và hữu 

10


cơ [6], [26]. Hướng sinh thái hoá CQ là hướng ứng dụng với mục đích nghiên cứu  
trao đổi và chuyển hoá vật chất của vòng tuần hoàn sinh vật trong CQ, bảo vệ và  
làm tốt hơn môi trường sống. Qua đó, con người có thể  điều chỉnh hoạt động của  
hệ theo hướng mong muốn. 
Hướng “CQ sinh thái” ­ một nhánh khác của khoa học CQ, được nảy sinh 
trong sự tiếp xúc và liên kết nghiên cứu giữa CQ học và sinh thái học. Nó hoàn toàn  
khác “sinh thái hoá CQ” cả  về  đối tượng, nhiệm vụ  và phương pháp nghiên cứu.  
CQ sinh thái kế thừa và phát triển kết quả NCCQ và HST. CQ sinh thái nghiên cứu  
sự phân hoá của các đơn vị CQ sinh thái theo hệ thống phân bậc. Tiếp cận sinh thái  
vào NCCQ không có nghĩa là đưa hoàn toàn các phương pháp HST vào NCCQ như 
trong sinh thái CQ.
Cùng với sự  phát triển của khoa học ­ kỹ  thuật và những ngành liên quan, 
NCCQ đã đi sâu vào hướng nghiên cứu bản chất xu thế  phát triển, mối quan hệ 

tắc phát sinh, đồng nhất tương đối.
+ Từ  những nguyên tắc cơ  bản cùng với mục đích và đối tượng nghiên cứu,  
lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp. Sử  dụng các phương pháp này làm rõ  
tính chất đặc thù của TN và các đơn vị  CQ nhằm tiến hành bước nghiên cứu tiếp 
theo: đánh giá tính đa dạng, phức tạp mỗi CQ; xác lập quy trình nghiên cứu.
+ Các bước NCCQ gồm: xây dựng bản đồ CQ lãnh thổ nghiên cứu; xây dựng  
bản đồ phân vùng CQ; phân tích cụ thể tính đa dạng về cấu trúc, chức năng và động 
lực theo từng đơn vị CQ (theo đơn vi phân loại hoặc theo đơn vị phân vùng).
Theo lý luận chung, nghiên cứu đặc điểm CQ cần nghiên cứu về  cấu trúc,  
chức năng và động lực của CQ, cụ thể:
+ Về cấu trúc CQ: bao gồm cấu trúc đứng và cấu trúc ngang. Đặc trưng của 
CQ thể hiện rõ nhất trong cấu trúc của nó. Mỗi đơn vị CQ dù ở cấp nào cũng được  
cấu tạo bởi các thành phần TN có quan hệ  mật thiết với nhau: địa chất, địa hình,  
khí hậu, nước, đất, sinh vật, hoạt động nhân tác... Mỗi khu vực nghiên cứu thể hiện  
đặc điểm phân hoá phức tạp theo không gian lãnh thổ của các đơn vị CQ nhưng vẫn  
có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các đơn vị từ cao xuống thấp 
(từ lớp CQ, phụ lớp CQ đến kiểu CQ, loại CQ). 
Phân hoá theo không gian và thành phần cấu tạo là đặc điểm rất quan trọng  
của CQ. Nó liên quan đến quy luật biến động, phát triển của mỗi đơn vị  CQ trong  
toàn hệ thống CQ. Đây là cơ sở để xác định chức năng đặc trưng cho các mục đích  
sử dụng khác nhau.
+ Về chức năng CQ: qua cơ  sở phân tích, ĐGCQ, xác định những chức năng 
chủ yếu của chúng trên lãnh thổ nghiên cứu như: chức năng phòng hộ bảo vệ, chức 
12


năng phục hồi và bảo tồn, chức năng phát triển kinh tế  sinh thái, chức năng sản  
xuất lương thực thực phẩm, chức năng NTTS, chức năng thuỷ điện, chức năng công 
nghiệp, đô thị... 
+ Về động lực của CQ: các CQ luôn chịu sự tác động trong suốt quá trình hình 


thực tiễn khác nhau;  Đánh giá mức độ  “thuận lợi” hay “thích hợp”  của ĐKTN, 
TNTN đối với các ngành sản xuất và đánh giá kinh tế  ­ kỹ  thuật đề  cập sâu hơn 
đến giá trị  và hiệu quả  của các ngành sản xuất đó. Kiểu đánh giá phổ  cập nhất 
trong những thập kỉ  gần đây là đánh giá mức độ  “thuận lợi” hay “thích hợp” của 
ĐKTN, TNTN cho các dạng khai thác khác nhau. Đây là cơ sở khoa học quan trọng  
nhất của bước đánh giá kinh tế ­ kỹ thuật và là cơ sở tiền quy hoạch cho từng lãnh  
thổ riêng biệt. 
Vậy ĐGCQ là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch sử dụng  
hợp lý tài nguyên và BVMT.
1.1.2.2. Hướng ĐGCQ phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên và BVMT
Cùng với sự  tiến bộ  xã hội, phát triển khoa học kĩ thuật và sản xuất, con 
người ngày càng có nhu cầu cao về khai thác tài nguyên phục vụ phát triển KT­XH. 
Đồng thời, tác động vào môi trường TN ngày càng mạnh. Con người khai thác 
ĐKTN, TNTN quá mức, thậm chí vượt quá khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của 
TN. Hậu quả  là: làm cạn kiệt nhiều loại tài nguyên, suy thoái môi trường TN, đe  
doạ cuộc sống con người... 
Để  đáp  ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình, con người không thể 
không khai thác tài nguyên. Trước thực tế đó, yêu cầu khai thác và sử  dụng hợp lý  
ĐKTN, TNTN là vấn đề có ý nghĩa rất lớn. Tuy vậy, yêu cầu này chỉ đáp ứng được 
khi có những kết quả  nghiên cứu tổng hợp. Vì vậy, đánh giá tổng hợp ĐKTN, 
TNTN lãnh thổ  nhằm xây dựng cơ  sở  khoa học cho khai thác và sử  dụng hợp lí 
chúng là rất cần thiết. Cách tiếp cận có hiệu quả và tổng hợp nhất là  nghiên cứu,  
phân tích, đánh giá thể  tổng hợp TN lãnh thổ  cho mục đích thực tiễn. Đánh giá ở 
đây là đánh giá về mặt kinh tế, kỹ thuật của ĐKTN, TNTN, so sánh khả  năng đáp 
ứng của hệ thống TN với yêu cầu của hệ thống KT­XH. 
Hiện nay, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá ĐKTN, TNTN cho  
mục đích phát triển các vùng lãnh thổ  như  vùng đồng bằng Sông Cửu Long, Tây 
Nguyên, Đông Nam Bộ, Lai Châu, Thanh Hoá, Thừa Thiên Huế  và nhiều tỉnh, khu  
vực khác. Những công trình này góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn 


Hệ 
tự nhiên

Trao đổi vật chất, năng 
lương và thông tin
Tính thích ứng và 
chọn lọc

Vật chất, năng lượng 
và thông tin

Hệ
KT­XH

Vật chất, năng lượng 
và thông tin

 
Giải quyết mối quan hệ giữa hệ TN và hệ KT­XH là giải quyết mối quan hệ 

15


giữa thích ứng và chọn lọc. Hệ TN không thể thích ứng với hệ KT­XH, mà hệ KT­
XH phải thích  ứng và chọn lọc với hệ thống TN. Yêu cầu của đánh giá phải hiểu  
được những quy luật của TN, mối quan hệ giữa hệ thống TN và hệ  thống KT­XH 
để  đưa ra các biện pháp tác động đúng đắn. Đây là cơ  sở  khoa học của công tác 
đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN. 
*  Mục đích  của đánh giá là sử  dụng môi trường TN hợp lí nhất, hiệu quả 

tiết và kết quả công tác đánh giá. Phương pháp tổng hợp bao gồm:  phương pháp mô  
hình chuẩn (mô hình hoá tối ưu), phương pháp bản đồ, phân tích tổng hợp, so sánh  
định tính, phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số... Quá trình đánh giá có thể 
sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp các phương pháp với nhau.
Trong đánh giá, cần tìm hiểu nhân tố giới hạn (nhân tố loại trừ khả năng sử 
dụng vào một mục đích nào đó). Việc xác định được nhân tố  giới hạn giúp đơn 
giản hoá quá trình đánh giá. Vì địa tổng thể  chứa đựng nhân tố  giới hạn nào đó  
được xem là bất lợi cho việc sử dụng sẽ không được đánh giá, mặc dù các nhân tố 
khác của nó thuận lợi hay trung bình.
Thang   bậc   đánh   giá:   tuỳ   theo   yêu   cầu   đánh   giá   (khái   quát   hoặc   chi   tiết), 
thường lựa chọn thang đánh giá từ 2,3... 10 cấp hoặc nhiều hơn. 
Chỉ tiêu đánh giá được lựa chọn phụ thuộc đối tượng, mục đích đánh giá. Yêu  
cầu của chỉ tiêu là các đặc điểm đặc trưng của lãnh thổ (có thể là chỉ tiêu giới hạn 
đối với mục đích sử dụng lãnh thổ đó). Bao gồm:  các chỉ tiêu tự nhiên; các chỉ tiêu  
KT­XH và hoạt động nhân tác. Việc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá tuân thủ các nguyên 
tắc: 
+ Chỉ tiêu lựa chọn phải phản ánh mối quan hệ của chúng đối với yêu cầu của 
chủ thể (dạng sử dụng).
+ Số lượng yếu tố chỉ tiêu lựa chọn phải ít hơn hoặc bằng số lượng tính chất 
của các CQ đã biết và liệt kê trong bảng đánh giá.
+ Ưu tiên lựa chọn các chỉ tiêu có sự phân hoá trong không gian.
Tuỳ  vào mục đích đánh giá, số lượng và mức độ  quan trọng của chỉ tiêu đánh  
giá sẽ thay đổi. Với mỗi mục đích, lựa chọn những loại chỉ tiêu thích hợp, xác định 
trọng số theo thứ tự ưu tiên cho từng chỉ tiêu. 
Trong đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN, lựa chọn phương pháp, thang  
bậc hay hệ thống chỉ tiêu đánh giá là rất phức tạp. Nó phụ thuộc chặt chẽ vào mức 
độ  phân hoá của TN, sự  nhạy cảm và hiểu biết nhuần nhuyễn TN lãnh thổ  của 
người nghiên cứu. Kết quả  đánh giá còn được kiểm nghiệm và điều chỉnh lại cho  
phù hợp với từng ngành sản xuất trên lãnh thổ nghiên cứu. Trong quá trình đánh giá,  


Phân loại CQ là khâu quan trọng trong nghiên cứu và thành lập bản đồ  CQ.  
Trên thế  giới và  ở  Việt Nam có rất nhiều hệ  thống phân loại khác nhau, nhưng  
chưa có một hệ thống phân loại thống nhất cho từng cấp lãnh thổ cụ thể. 
Theo tác giả  Vũ Tự  Lập và nhiều nhà NCCQ thì khi tiến hành phân loại CQ,  
đưa ra một hệ thống phân loại cho từng cấp, cần đảm bảo những nguyên tắc chung  
như sau [23,tr.95], [27,tr.114].
­ Phân loại riêng từng cấp phân vị, mỗi hệ thống có số lượng cá thể riêng, chỉ 
tiêu phân loại riêng và số lượng bậc phân loại riêng.

18


­ Hệ  thống phân loại phải phản ánh đúng đắn mối quan hệ  biện chứng giữa 
các quy luật phân hoá không gian phổ  biến của địa lý quyển, đây là nguyên nhân  
chính dẫn đến sự hình thành nên các cấp.
­ Hệ  thống phân loại phải bao quát đầy đủ  các cấp có thể  áp dụng cho việc 
thành lập bản đồ  CQ  ở  mọi tỉ  lệ, cho mọi lãnh thổ  lớn nhỏ, cả  cho miền núi lẫn 
đồng bằng. Hệ thống phân loại phải bao quát đầy đủ các cá thể, không thể có tình  
trạng không thể  biết xếp một cá thể  vào bậc phân loại nào, đồng thời cũng không 
được xếp một cá thể vào vài bậc phân loại khác nhau.
­ Mỗi bậc phân loại chỉ  được dùng một tiêu chí. Nếu muốn dùng nhiều chỉ 
tiêu, thì phải kết hợp chúng lại thành một chỉ tiêu tổng hợp.
­ Hệ  thống phân loại phải có số  bậc hợp lý tuỳ  thuộc vào tính chất của đối  
tượng phân loại. Tránh quá nhiều (sẽ  gây rườm rà), tránh thiếu bậc (gây khó hiểu  
cho mối liên hệ  giữa các bậc). Nên chọn những yếu tố  quan trọng chi phối hoặc  
đại diện nhiều yếu tố khác nhau.
­ Chú ý đến danh pháp cho từng bậc phân loại khác nhau, đồng thời đơn vị bậc  
dưới nên có dấu vết của bậc trên trong tên gọi và kí hiệu.
Những nguyên tắc trên có mối quan hệ  mật thiết với nhau. Luận văn đã áp  
dụng linh hoạt các nguyên tắc này trong quá trình phân loại CQ cho khu vực nghiên 

Hệ thống phân vị của phân vùng là hệ thống phân loại các thể tổng hợp ĐLTN  
cá thể. Trong nghiên cứu các thể  tổng hợp ĐLTN cần phân chia theo các đơn vị 
kiểu loại. Hiện nay, xây dựng bản đồ CQ các tỉ lệ cũng sử dụng rộng rãi các đơn vị 
phân vùng theo kiểu loại để thể hiện các thể tổng hợp kiểu loại (các CQ). Sau đây  
là 3 công trình tiêu biểu của phân loại CQ theo kiểu loại. 
­ Hệ thống phân loại  CQ của A.G. Ixasenco (1961)
Gồm 8 bậc: Nhóm kiểu  kiểu  phụ kiểu  lớp  phụ lớp  loại  phụ 
loại  biến chủng (thể loại) [20], [43], [49].

Bảng 1.1: Hệ thống phân loại  CQ của A.G. Ixasenco (1961)
STT Đơn vị 
1
2

Những dấu hiệu

Nhóm 
kiểu

Có những nét tương tự  địa đới của các CQ trong phạm vi địa ô 
và lục địa khác nhau.

Kiểu

Có cùng điều kiện thủy nhiệt, cùng đặc điểm về cấu trúc, đồng  
nhất về  quá trình di động của các nguyên tố  hóa học, các quá 
trình ngoại sinh, sự  hình thành thổ  nhưỡng, thành phần và cấu 
20




Phụ loại

Có một vài đặc điểm về bối cảnh.

8

Biến 
chủng
(thể loại)

Những đặc điểm theo khí hậu của địa phương

­  Hệ thống phân loại CQ của N.A. Gvozdexki (1961)  
Gồm 5 bậc:  lớp   kiểu   phụ kiểu   nhóm   loại [23], [43], [49]
Bảng 1.2: Hệ thống phân loại CQ của N.A. Gvozdexki (1961)  
STT Đơn vị 
1
Lớp

Các dấu hiệu
Những dấu hiệu địa chất ­ địa mạo quyết định tính chất biểu  
hiện tính địa đới và mối tương quan nhiệt ẩm

2

Những dấu hiệu mang tính đới (chỉ số khô hạn bức xạ, tuần hoàn 
sinh vật của các phần tử di động (COH) nguyên tố  loại hình của  
sự di động theo nước, kiểu thực bì và thổ nhưỡng)


Gồm 12 cấp: Thống  hệ   phụ  hệ   lớp  phụ  lớp  nhóm  kiểu  phụ 
kiểu  hạng  phụ hạng  loại  phụ loại   [10], [43], [49]     
Bảng 1.3: Hệ thống phân loại CQ của Nhikolaev (1966)                        
ST Đơn vị
T
1 Thống

Các dấu hiệu
Kiểu tiếp xúc của các quyển địa lí trong cấu trúc lớp vỏ CQ.

6

Cân bằng nhiệt ẩm và biểu hiện của cơ sở năng lượng phân bố 
trong không gian thông qua tính địa đới của các CQ.
Phụ hệ Tính địa ô của các đới làm phân bố lại nền tảng nhiệt ẩm của 
các đới
Lớp
Cấu trúc hình thái của các đơn vị cấp lớn (đại địa hình) đã xác 
định kiểu địa đới của lãnh thổ  (địa đới theo vĩ độ và đai cao theo 
chiều cao). Có hai lớp chủ yếu là đồng bằng  và núi.
Phụ lớp Sự phân hóa tầng trong cấu trúc CQ ở núi và đồng bằng làm phân 
hóa cường độ các quá trình địa lí TN.
Nhóm
Những đặc điểm chế độ địa hóa theo mức độ thoát nước.

7

Kiểu

Những chỉ số sinh khí hậu.

Ưu thế về diện tích của các dạng phụ thuộc.

Những hệ  thống phân loại trên cho thấy: thứ  tự  cấp bậc không đồng nhất 
trong sơ đồ phân loại của các tác giả, có sơ đồ thì đặt cấp kiểu trên cấp lớp, đa số 
các sơ đồ lại đặt cấp lớp trên cấp kiểu. 
+ Một số hệ thống phân loại CQ áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam.
­ Hệ thống phân loại của tác giả nước ngoài
­ Người đưa ra hệ  thống phân vùng đầu tiên cho nước ta là T.N. Seglova  
(Liên Xô cũ) trong công trình “Việt Nam” (1957) ­ tác phẩm địa lý Việt Nam ra đời  
đầu tiên. Ông sử dụng hệ thống phân vị đơn giản, có 2 cấp: vùng và á vùng.

22


­ Trong “Thiên nhiên miền Bắc Việt Nam”(1961) của Fridland, sử  dụng hệ 
thống phân vị gồm 5 cấp. Mối quan hệ giữa các cấp không rõ ràng. Miền Bắc Việt 
Nam được chia thành 3 lãnh thổ: đồng bằng, đồi, núi. Lãnh thổ  đồng bằng và đồi, 
được chia ra tỉnh  vùng. Lãnh thổ  núi chia theo hệ thống khác: lãnh thổ   quận  

  á quận    đới  (đối với khu vực đá silicat) hoặc  vùng  (đối với các khu vực đá 
vôi). 
­ Hệ  thống phân vị  này không chỉ  rõ quan hệ  của các cấp với cấp trên nó và  
không có chỉ tiêu cho từng cấp cụ thể [30].
­ Hệ thống phân loại của tác giả Việt Nam 
Các tác giả nghiên cứu về CQ nước ta đưa ra nhiều hệ thống phân loại, nhưng 
chưa có một hệ thống phân loại chung cho toàn lãnh thổ. Các hệ thống phân loại có  
hướng tiếp cận khác nhau, phục vụ  nhiều mục đích khác nhau, số  lượng cấp CQ 
trong hệ  thống phân loại không giống nhau nhưng không mâu thuẫn về  nguyên tắc 
phân chia.
Hệ  thống phân loại của Vũ Tự  Lập (1974), áp dụng cho NCCQ miền Bắc  

            Đai cao địa lý            
        Cảnh địa lý 
  Á đai cao địa lý      Á cảnh địa lý

            

   Nhóm dạng địa lý
          Dạng địa lý
         Á dạng địa lý
        Nhóm diện địa lý
Diện Địa lý
            Điểm địa lý 

Ngoài hệ thống trên, có rất nhiều hệ thống phân loại khác:

24


­ Vũ Tự  Lập (1983): hệ  thống phân loại 4 cấp áp dụng cho bản đồ  các kiểu  
CQ Việt Nam tỉ lệ 1: 2.000.000, gồm: Lớp CQ  phụ lớp  hệ  kiểu [49].
­ Phạm Quang Anh và tập thể tác giả phòng ĐLTN tổng hợp (Viện Khoa học  
Việt Nam) xây dựng bản đồ  “CQ Việt Nam” tỉ  lệ  1:2.000.000 (1983), hệ  thống  
phân loại có 7 cấp, dựa trên hệ  thống phân loại của Nicolaev:    Khối CQ  hệ  
phụ  hệ   lớp  phụ  lớp   nhóm   kiểu CQ. Trong đó kiểu CQ là cấp cơ  sở,  
hiểu là kiểu các khu vực (CQ) tương tự nhau về mặt phát sinh, có ý nghĩa ứng dụng 
thực tiễn. Hướng khai thác, sử  dụng và bảo vệ  tài nguyên trên lãnh thổ  của cùng  
kiểu gần giống nhau, mặc dù sự phân bố của chúng ở xa nhau.
­ Năm 1983, tập thể tác giả phòng ĐLTN tổng hợp (Viện Khoa học Việt Nam)  
xây dựng bản đồ  “CQ Tây Nguyên” tỉ  lệ  1: 250.000, phục vụ  nghiên cứu đánh giá 
tổng hợp ĐKTN, KT­XH, quy hoạch phát triển kinh tế, sử  dụng hợp lý lãnh thổ 

CQ
 Kiểu CQ   Đặc điểm sinh khí hậu (kiểu thảm thực vật phát sinh ­ kiểu 
đất).

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status