1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề xây dựng một nền kinh tế - xã hội (KT-XH) phát triển bền vững
đang trở thành một nguyên tắc đảm bảo cho Việt Nam có tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và ổn định. Đặc biệt, phát triển bền vững ở miền núi hiện nay còn
gặp nhiều khó khăn do có những trở ngại về các mặt như điều kiện tự nhiên,
KT-XH, việc khai thác sử dụng tài nguyên chưa hợp với các điều kiện sinh thái
lãnh thổ dẫn đến sự suy thoái và cạn kiệt tài nguyên. Điều này gây ảnh hưởng
xấu tới xu thế phát triển KT-XH và trực tiếp chi phối đến đời sống cộng đồng.
Do vậy mục tiêu khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và
bảo vệ môi trường (BVMT) đối với các vùng lãnh thổ cụ thể là một trong
những vấn đề mang tính chiến lược hiện nay, nhất là ở miền núi, nơi có các
điều kiện tự nhiên và sự phân hóa tự nhiên rất đa dạng và phức tạp.
Các thành phần cấu tạo cảnh quan (CQ) có tính độc lập tương đối, song
giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ tạo thành một hệ thống động lực. Hệ thống
đó tồn tại trong trạng thái cân bằng động, một thành phần nào đó trong hệ
thống thay đổi có thể sẽ dẫn đến sự thay đổi của các thành phần khác và phá vỡ
hệ thống cũ tạo nên một hệ thống mới. Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên tức là tác động vào hệ thống tự nhiên một cách phù hợp với đặc điểm,
quy luật phát sinh, phát triển của chúng sẽ bảo vệ, tái tạo được nguồn tài
nguyên thiên nhiên và đảm bảo được sự phát triển bền vững của lãnh thổ.
Để giải quyết những vấn đề thực tế mang tính tổng hợp cao, nghiên cứu
đánh giá cảnh quan, một công việc tiên quyết trong khai thác và sử dụng hợp lý
tài nguyên, đã trở thành hướng nghiên cứu quan trọng và là cơ sở khoa học của
việc lựa chọn các mục tiêu sử dụng hợp lý lãnh thổ.
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, có
diện tích tự nhiên là 3.533,4 km
2
, nằm trong khu vực giao lưu giữa các vùng
- Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan; thành lập Bản đồ cảnh quan
tỉnh Phú Thọ, tỷ lệ 1:100.000; Bản đồ cảnh quan huyện Đoan Hùng, tỉ lệ
1:50.000; phân tích cảnh quan (cấu trúc, chức năng, động lực) nhằm làm sáng
tỏ quy luật phân hóa tự nhiên lãnh thổ nghiên cứu.
- Đánh giá cảnh quan tỉnh Phú Thọ cho mục đích phát triển 3 ngành nông,
lâm nghiệp và du lịch; Đánh giá cảnh quan huyện Đoan Hùng cho phát triển và
phân bố cây bưởi đặc sản và đề xuất các định hướng khai thác, sử dụng hợp lý
3
tài nguyên, tổ chức không gian phát triển các ngành sản xuất theo các đơn vị
cảnh quan tỉnh Phú Thọ.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi không gian: toàn bộ lãnh thổ tỉnh Phú Thọ, với diện tích tự
nhiên 3.533,4 km
2
.
3.2. Phạm vi khoa học:
- Áp dụng phương pháp tiếp cận địa lý tổng hợp, tiếp cận sinh thái cảnh
quan để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phát triển sản xuất, kinh tế và bảo vệ
môi trường tỉnh Phú Thọ với việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các đơn vị
cảnh quan qua bản đồ cảnh quan tỉnh Phú Thọ được xây dựng ở tỉ lệ 1:100.000;
bản đồ cảnh quan huyện Đoan Hùng, tỉ lệ 1:50.000.
- Các đối tượng đánh giá: 3 ngành kinh tế trọng điểm nông nghiệp, lâm
nghiệp và du lịch theo đơn vị loại cảnh quan. Đánh giá thích nghi sinh thái cây
bưởi huyện Đoan Hùng theo đơn vị dạng cảnh quan.
4. Luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Phú Thọ có tiềm năng đa dạng về ĐKTN, TNTN và KT -
XH đã tạo nên đặc điểm phân hóa đa dạng, phức tạp nhưng có quy luật của tự
nhiên lãnh thổ được thể hiện rõ qua các đặc trưng của cảnh quan tự nhiên; đây là
cơ sở khoa học quan trọng cho việc đánh giá mức độ thích nghi của các đơn vị
đề xuất và các mô hình hệ kinh tế sinh thái cho nông - lâm nghiệp được xây dựng
sẽ góp phần xác lập chiến lược phát triển bền vững KT-XH khu vực nghiên cứu
nói riêng trong mối liên hệ với khu vực trung du miền núi phía Bắc nói chung.
7. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
7.1. Quan điểm nghiên cứu
Dựa trên cơ sở các quan điểm đã được vận dụng trong nghiên cứu địa lý tự
nhiên tổng hợp, có tính đến những tác động của sản xuất lãnh thổ nhằm sử
dụng hợp lý nguồn TNTN, BVMT và phát triển bền vững KT-XH, những quan
điểm nghiên cứu địa lý địa phương.
7.1.1. Quan điểm hệ thống và tổng hợp
Mỗi hệ thống là một phức hợp các yếu tố và các mối quan hệ qua lại, chính
vì thế, cần phải nghiên cứu hệ thống trên quan điểm tổng hợp. Đây là một trong
những quan điểm quan trọng nhất trong quy hoạch lãnh thổ, bảo vệ tài nguyên và
môi trường. Theo quan điểm này, mỗi một đơn vị tổng hợp thể lãnh thổ là một tổ
hợp có tổ chức của các sự vật và hiện tượng. Sự tác động của con người vào một
5
hợp phần hay một bộ phận tự nhiên nào đó cũng có thể dẫn đến những thay đổi
không lường hết được trong hoạt động của cả tổng thể.
Các ngành kinh tế phát triển trên cơ sở hệ thống tương đối toàn diện từ
nguồn lực tự nhiên cho đến các nguồn lực kinh tế xã hội. Mỗi ngành kinh tế có
tính đặc thù riêng, tuy nhiên, một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải đảm
bảo mối quan hệ liên ngành, tổng hợp có hệ thống của các thành phần kinh tế.
Quan điểm hệ thống và tổng hợp là những quan điểm chủ đạo, có ưu thế
trong nghiên cứu lãnh thổ đặc biệt đối với Phú Thọ, một tỉnh trung du miền núi
có tính đa dạng về tự nhiên và nhân văn, càng hiệu quả hơn khi người nghiên
cứu có khả năng nhìn nhận mối liên hệ giữa các đối tượng càng rộng. Quan
điểm này được tác giả vận dụng trong tất cả các bước tiến hành của luận án, từ
thu thập tài liệu, chuẩn bị nghiên cứu đến việc thực hiện các bước nghiên cứu,
đánh giá cảnh quan và đề xuất định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan cho các
nghiệp và du lịch sinh thái phát triển bền vững phụ thuộc nhiều vào các yếu tố
tự nhiên (nước, địa hình, khí hậu ), môi trường kinh tế - xã hội (cơ sở hạ tầng,
chính sách, trình độ dân trí ) của mỗi một vùng. Chính vì vậy, khi xác định các
mô hình kinh tế sinh thái, định hướng và hoạch định không gian tổ chức sản xuất
cho lãnh thổ Phú Thọ cần phù hợp với đặc trưng sinh thái môi trường, đặc điểm
kinh tế - xã hội để vừa đạt năng suất, hiệu quả phát triển cao, vừa giữ được môi
trường lành mạnh, không bị thoái hóa, ô nhiễm, hủy hoại.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp có thể đi từ phân tích đến tổng hợp hoặc ngược lại, từ
phương pháp truyền thống kết hợp với phương pháp hiện đại,… Tác giả đã sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
7.2.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý số liệu, tài liệu
Trên cơ sở đề cương chi tiết đề tài, căn cứ vào mục tiêu và nội dung nghiên
cứu để tiến hành thu thập các nguồn tài liệu, số liệu, báo cáo, các bản đồ và các
thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đánh giá cảnh quan Phú Thọ.
Do các tài liệu, số liệu thu thập từ nhiều nguồn khác nhau vì vậy cần
chuẩn hóa để đảm bảo tính đồng bộ về thời gian, đơn vị…Sau đó tiến hành
phân tích, tổng hợp, lựa chọn và xử lý nguồn tài liệu, số liệu, biên tập lại các
bản đồ. Các dữ liệu trên sau khi xử lý, phân tích sẽ là cơ sở cho quá trình
nghiên cứu đánh giá cảnh quan, từ đó đề xuất định hướng để quy hoạch sử
dụng hợp lý cảnh quan địa bàn nghiên cứu.
7
7.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Để thực hiện đề tài, tác giả đã thực hiện một số đợt khảo sát thực địa,
nghiên cứu cụ thể đặc điểm phân hóa của tất cả các hợp phần tự nhiên (địa chất,
địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật) và KT-XH (sự phân bố dân
cư, dân tộc, cơ sở hạ tầng, hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng phát triển các
ngành kinh tế ) của tỉnh Phú Thọ.
Việc khảo sát thực địa được tiến hành theo 2 tuyến chính, tại mỗi tuyến,
dụng các phần mềm GIS (chủ yếu phần mềm Mapinfo 10.0, Arc GIS) để tiến
hành chỉnh sửa, biên tập và thể hiện các bản đồ hợp phần thành tạo cảnh quan lãnh
thổ nghiên cứu. Tích hợp, chồng xếp các lớp thông tin ở các bản đồ thành phần để
thành lập Bản đồ cảnh quan tỉnh Phú Thọ, Bản đồ cảnh quan huyện Đoan Hùng,
các bản đồ đánh giá cảnh quan, bản đồ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ.
7.2.5. Phương pháp phân tích, đánh giá cảnh quan
Phương pháp phân tích cấu trúc cảnh quan được thể hiện trong đề tài để
phân tích đặc điểm cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu làm cơ sở cho công tác đánh
giá. Luận án cũng áp dụng phương pháp đánh giá thích nghi cảnh quan cho các
mục đích phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Phú Thọ, đánh giá
thích nghi sinh thái cảnh quan cho phát triển cây bưởi huyện Đoan Hùng, từ đó
đề xuất định hướng và giải pháp cho việc sử dụng hợp lý nguồn TNTN và
BVMT tỉnh Phú Thọ.
Nội dung cụ thể của phương pháp và các bước tiến hành đánh giá cảnh
quan được trình bày trong mục 1.2.3.4. Kết quả đánh giá được thể hiện qua các
ma trận (phần phụ lục).
8. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án được trình bày trong 4 chương
gồm 148 trang, với 17 bản đồ, 1 lát cắt, 5 hình vẽ, 23 bảng số liệu, 21 phụ lục.
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các mục
đích thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm cảnh quan tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông, lâm
nghiệp và du lịch tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan cho phát triển nông,
lâm nghiệp và du lịch tỉnh Phú Thọ.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU
quy luật giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên. [99]
Năm 1904, G.I.Vưxôtxki đã đưa ra định nghĩa cảnh quan một cách độc đáo,
ông gọi cảnh quan là “địa phương” hay “châu tự nhiên”. Ông nêu lên mức độ
phong phú bên trong của các điều kiện sinh thành chính là dấu hiệu của từng địa
phương, các địa phương khác biệt nhau bởi đặc điểm kết hợp của các kiểu sinh
thành (tức các bộ phận hình thái cảnh quan). Ông cũng có ý nghĩ thành lập các
bản đồ về các kiểu sinh thành (tức bản đồ cảnh quan), đây là cơ sở quan trọng để
phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. [49, 69]
Tiếp theo, năm 1913, L.S. Berg công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa
lí Liên Xô” (tập 1), một công trình nổi tiếng, là cơ sở để hoàn thiện lý luận cảnh
quan. Trong đó, ông đã đưa vào khoa học địa lí khái niệm “cảnh quan”, ông cho
rằng chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của địa lí. Ông cũng xác định các
đới tự nhiên chính là các đới cảnh quan, bao gồm nhiều vùng tự nhiên hay còn gọi
là các cảnh quan địa lý và trong mỗi cảnh quan có thể thấy mối quan hệ hài hòa
giữa các dạng địa hình, khí hậu, nước, đất và các quần hợp sinh vật. Công lao to
lớn của ông là đã sáng lập nên trường phái cảnh quan học.
Tiếp đó, các nhà địa lý Xô Viết giữa thế kỉ 19 như S.V. Kalexnik, A.A.
Grigôriev, N.A. Xôntxev, V.N. Xukatxev, B.B. Pôlưnôv, V.I. Prokaev, V.X.
Preobrajenxki, A.G. Ixatsenko tiếp tục hoàn thiện về lý luận và thực tiễn
nghiên cứu cảnh quan cho mục đích phát triển nền kinh tế quốc dân. Mặc dù
quan niệm về cảnh quan còn khác nhau nhưng hầu hết các nhà địa lí Xô Viết
đều coi “cảnh quan” là một thực thể tự nhiên, là các “thể tổng hợp tự nhiên” ở
các cấp khác nhau.
Kể từ năm 1917, cảnh quan đã xâm nhập sâu vào thực tế nghiên cứu lãnh
thổ ở địa lí Nga. Những bản đồ cảnh quan đầu tiên do B.B.Pôlưnôv, I.V.Lajjrin,
R.I.Abôlin thành lập là thành tựu quan trọng của những cuộc nghiên cứu thực địa,
chủ yếu được xây dựng ở tỷ lệ lớn và trung bình, phân chia lãnh thổ các địa
phương trên cơ sở các yếu tố đá mẹ, địa hình, đất và thực vật. Những bản đồ này
thành lập một cách ngẫu nhiên do nhu cầu thực tiễn do đó thiếu thống nhất, nhưng
đã đưa ra được lập luận rằng: những biện pháp cải tạo thiên nhiên phải dựa trên
học. Hàng năm đã có vài trăm công trình nghiên cứu về các vấn đề phân vùng địa
lý tự nhiên, phân vùng ứng dụng và nghiên cứu về cảnh quan học. Những công
trình này đã có những nghiên cứu sâu về các vấn đề ứng dụng cảnh quan, đáng
chú ý nhất là các công trình phân loại cảnh quan của A.G.Ixatsenko (1961),
N.A.Gvozdexki (1963), V.A.Nhicolaev (1970). [69]
Tại Đông Âu, ở Ba Lan sự quan tâm về các vấn đề cảnh quan xuất hiện
do sự ảnh hưởng của các nhà nghiên cứu cảnh quan Liên Xô. Năm 1959,
12
E.Cônđratxki đã xây dựng hệ thống phân loại và thành lập bản đồ cảnh quan Ba
Lan tỷ lệ 1:1.000.000. Xu hướng này cũng được các nhà địa lý Tiệp Khắc vận
dụng để nghiên cứu lãnh thổ Tiệp Khắc. [49]
Có thể thấy rằng hướng nghiên cứu cảnh quan tại Nga và các nước Đông
Âu ngày càng đi sâu vào nghiên cứu đa dạng cấu trúc, chức năng và động lực phát
triển của CQ, mục đích nghiên cứu CQ để ứng dụng vào các vấn đề phát triển
kinh tế-xã hội của đất nước, các vùng miền, lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý TNTN,
BVMT và phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
1.1.1.2. Nghiên cứu cảnh quan ở Tây Âu và Bắc Mỹ
So với Nga và Đông Âu, các nghiên cứu cảnh quan tại Tây Âu và Bắc Mĩ
xuất hiện muộn hơn, chỉ thực sự bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và lúc
đầu với những quan niệm không khác xa nhau.
Năm 1905, nhà địa lý người Anh A.Ghebecxơn đã cho rằng nhiệm vụ của
Địa lý học là phân chia và hệ thống hoá những thể tổng hợp và đưa ra các kiểu
khu vực thiên nhiên cơ bản của đất liền bằng cách xem xét những sự khác biệt
chung nhất về địa hình, khí hậu và thực vật.
Một trong những nhà lý luận cảnh quan đầu tiên người Đức là Z.Passarge
(1866-1958), ông đã có những công trình về các đới cảnh quan trên Trái Đất. Sau
đó các nhà địa lý người Đức cũng đã tiến hành thành lập bản đồ cảnh quan và chủ
yếu dựa trên nghiên cứu cấu tạo hình thái cảnh quan, lấy các đơn vị sinh cảnh để
phân chia cảnh quan.
này. Để trả lời câu hỏi “cảnh quan học là gì?” đã được các nhà khoa học Đức và
Nga cho định nghĩa tương đối rõ, tuy nó thiên về các yếu tố vô cơ nhiều hơn. Các
nhà sinh thái học trước đó vẫn đang tập trung vào nghiên cứu sinh thái học cơ thể,
sinh thái học quần thể, các hệ sinh thái , tuy nhiên các nhà sinh thái muốn được
thể hiện các nghiên cứu của mình một cách logic hơn qua việc thể hiện không gian
và mối quan hệ tổng hợp, còn các nhà cảnh quan muốn đưa ra các công trình có
tính định lượng hơn, lý giải các quan hệ bằng trao đổi vật chất, năng lượng và
thông tin, thay vì các đơn vị chỉ mang tính chồng xếp và thấy thực chất là các đơn
vị này không chỉ mang tính đồng nhất mà còn là quan hệ của các yếu tố không
đồng nhất.
Bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp luận nghiên cứu
CQST, vai trò của của các hợp phần trong cấu trúc CQST (thảm thực vật, thủy
văn, khí hậu ), cũng đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu CQST ứng dụng,
nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc CQST đối với phân bố động vật, hay khía
cạnh địa lí y học trong đánh giá CQST, [11]
14
- Hướng nghiên cứu cảnh quan văn hóa: vào những khoảng những năm
1925 và 1930 của thế kỷ 20, các nhà địa lí trên thế giới đã bắt đầu quan tâm nhiều
tới mối quan hệ và các tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên, quan tâm
nghiên cứu những cảnh quan bị tác động bởi hoạt động kinh tế của con người.
Một số tác giả gọi đó là cảnh quan văn hóa vì cho rằng đó là kết quả của những
hoạt động văn hóa lên tự nhiên. Một số tác giả khác lại gọi đó là cảnh quan nhân
sinh (CQNS) vì được hình thành do những tác động của con người vào cảnh quan
tự nhiên. Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên các quan niệm về đối tượng
nghiên cứu ở nhiều góc độ, trong đó, đối tượng nghiên cứu các nhà cảnh quan học
không phải chỉ ở mỗi đơn vị cảnh quan tự nhiên mà cả ở những cảnh quan biến
đổi do con người và cả những cảnh quan văn hóa do con người tạo ra. [135]
- Hướng nghiên cứu cảnh quan đô thị, cảnh quan nông thôn: đây là
hướng nghiên cứu hiện đang được chú trọng trên thế giới nói chung và tại Việt
có giá trị. Đầu tiên phải kể đến sự đóng góp to lớn, có công đầu trong nghiên cứu
cảnh quan là Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập với “Địa lí tự nhiên Việt Nam”
(1963), “Về sự cần thiết nghiên cứu tổng hợp đất nước bằng phương pháp cảnh
quan” (1970) và nghiên cứu của tổ phân vùng ĐLTN thuộc Ủy ban Khoa học và
Kỹ thuật nhà nước năm 1970 với tên gọi “Phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ
Việt Nam”.
Các nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu là các nghiên cứu về phân vùng
ĐLTN tổng hợp, dưới sự trợ giúp của các nhà Địa lí Xô Viết, hướng nghiên cứu
cảnh quan theo hướng phân loại chưa phổ biến.
- Giai đoạn sau năm 1975: giai đoạn khoa học cảnh quan Việt Nam phát triển.
+ Giai đoạn 1975 đến 1990: ngoài các nghiên cứu theo hướng phân vùng
ĐLTN, bắt đầu có những nghiên cứu cảnh quan theo hướng phân loại.
Công trình “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” (Vũ Tự Lập) năm
1976 là công trình khoa học có giá trị, một bước tiến mới về lí luận trong
nghiên cứu cảnh quan ở nước ta, là cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ
các nhà nghiên cứu địa lí Việt Nam. Trong đó, tác giả áp dụng phân vùng cảnh
quan và sau đó là phân loại cảnh quan theo cá thể (lãnh thổ miền Bắc được chia
làm 577 cá thể cảnh quan).
Cuốn “Thiên nhiên Việt Nam” (Lê Bá Thảo) năm 1977, cuốn sách xuyên
suốt lãnh thổ Việt Nam theo hướng phân vùng ĐLTN. Tác giả kết hợp phân tích
đặc điểm ĐKTN từng vùng kết hợp các định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên
mỗi vùng theo quan điểm phân vùng lãnh thổ kinh tế.
16
+ Giai đoạn 1990 đến nay: là giai đoạn phát triển mạnh của cảnh quan học
Việt Nam. Các nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học của các nhà cảnh quan học
Nga (Liên Xô cũ) đến các nhà cảnh quan học Tây Âu và Bắc Mĩ. Đặc biệt,
hướng nghiên cứu CQST theo trường phái Tây Âu và Bắc Mĩ đã được nhiều
nhà khoa học áp dụng qua nhiều công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao.
Tính đến 2010, chỉ trong vài thập niên, việc nghiên cứu cảnh quan ở nước ta
BVMT vẫn chưa có nhiều, chưa có các nghiên cứu chuyên sâu.
Ngoài ra, còn một số lượng lớn các công trình nghiên cứu khác, nội dung
tương đối đa dạng, đề cập cả lý luận và thực tiễn. Phạm vi nghiên cứu khá
phong phú từ đơn vị lãnh thổ nhỏ (cấp huyện) của Hà Văn Hành, 2002 [33];
Phạm Quang Tuấn, 2003 [101]; Đoàn Hương Mai (2008) [62], đến phạm vi lớn
hơn (cấp tỉnh) của Nguyễn Đăng Hội, 2004 [38]; Lê Thị Ngọc Khanh, 2002 [53];
Đỗ Văn Thanh, 2011 [87]; Trương Thị Tư, 2011 [99].
Phạm vi nghiên cứu có thể là một khu vực: vùng đồi núi có công trình của
Nguyễn Văn Vinh, 1996 [118]; Hà Văn Hành, 2002; dải ven biển có Phạm Thế
Vĩnh, 2004 [119], lưu vực sông có Bùi Thị Mai, 2010 [61], ).
Đối tượng đánh giá trong các đề tài luận án khá phong phú, đối tượng có
thể là những loại cây trồng như: hệ sinh thái cây cà phê Đắk Lắk (Phạm Quang
Anh, 1986 [2], cây công nghiệp dài ngày (Nguyễn Xuân Độ, 2003) [21], cây ăn
quả ở vùng đồi, trung du (Lê Văn Thăng, 1995) [92], Phạm Quang Tuấn, 2003
[101]; cây lâm nghiệp Nguyễn Đăng Hội, 2004 [38]).
Phục vụ phát triển công nghiệp (thủy điện) phải kể tới công trình của Lê
Mỹ Phong, 2001 [72]. Đây là một trong những công trình đầu tiên ở nước ta
nghiên cứu sử dụng hợp lí lãnh thổ phục vụ phát triển công nghiệp trên cơ sở
phân tích cấu trúc cảnh quan. Trên cơ sở nghiên cứu cảnh quan hiện tại, đối
chiếu bản đồ cảnh quan hiện tại và bản đồ cảnh quan sau khi có công trình thủy
điện Sơn La, tác giả đã phân tích vai trò của công trình thủy điện như là một
động lực làm biến đổi bộ mặt tự nhiên và tiến hành đánh giá, phân vùng chức
năng cảnh quan, đề xuất định hướng khai thác và sử dụng hợp lí lãnh thổ Sơn La
sau khi có công trình thủy điện theo các vùng chức năng cảnh quan.
Đối tượng nghiên cứu ngày càng đa dạng và phát triển mạnh theo hướng
tiếp cận liên ngành. Liên ngành nông, lâm nghiệp có Đoàn Hương Mai, 2008
[62]; Hà Văn Hành, 2002 [33]. Liên ngành nông, lâm nghiệp và du lịch có
Nguyễn An Thịnh, 2007 [90]. Sử dụng hợp lý lãnh thổ và bảo vệ môi trường có
Trương Thị Tư, 2011 [99],
Bên cạnh các công trình lý luận về cảnh quan sinh thái, các nhà cảnh quan
Những công trình khoa học đã dẫn ở đây chỉ là một số công trình tiêu
biểu trong rất nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan học của các nhà địa lí
học, sinh thái học, kiến trúc học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng. Đối với luận án, đây cũng là những tài liệu tham khảo chủ yếu trong quá
19
trình nghiên cứu đánh giá cảnh quan tỉnh Phú Thọ phục vụ phát triển nông, lâm
nghiệp và du lịch.
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến cảnh quan tỉnh Phú Thọ
Từ trước đến nay các công trình nghiên cứu mang tính ĐLTN tổng hợp
tỉnh Phú Thọ chưa có nhiều, phần lớn là những nghiên cứu từng mặt, từng bộ
phận của môi trường tự nhiên phục vụ các yêu cầu trước mắt về khai thác và
quản lý tài nguyên trong tỉnh.
Về nghiên cứu địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng có một số tài liệu như:
“Đánh giá mức độ thích nghi của đất đai đối với phát triển nông nghiệp của
tỉnh Phú Thọ”. (2005) của Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Thọ; đề tài
“Nghiên cứu khoanh vùng dự báo nứt sụt đất ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ;
đề xuất các giải pháp phòng tránh và quy hoạch phục vụ phát triển bền vững”
của tập thể tác giả Viện Địa chất, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam;
dự án “Nghiên cứu ứng dụng giải pháp công nghệ lấy nước phù sa cải tạo đất
canh tác cho một số vùng tỉnh Phú Thọ” của Chi cục phòng chống bão lụt và
quản lý đê điều Phú Thọ (2004-2005).
Về nghiên cứu hợp phần khí hậu, thủy văn có: “Nghiên cứu điều kiện
sinh khí hậu tỉnh Phú Thọ và sơ bộ đánh giá mức độ thích nghi của nó đến sự phát
triển một số cây nông - lâm nghiệp” (2001) của Đặng Thị Huệ. Đề tài “Nghiên cứu
đặc điểm khí hậu và phân vùng khí hậu tỉnh Phú Thọ phục vụ phát triển bền vững
và phòng chống thiên tai” của sở Khoa học và Công nghệ, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Phú Thọ (2005-2007).
Các nghiên cứu về ĐKTN tỉnh Phú Thọ mới mang tính khái quát và phân
tích riêng lẻ từng thành phần tự nhiên (khí hậu, thủy văn, địa hình, thổ nhưỡng )
nào đi sâu nghiên cứu cảnh quan tự nhiên, sinh thái cảnh quan lãnh thổ. Có thể
khẳng định hướng nghiên cứu cảnh quan để phục vụ những mục đích KT-XH cụ
thể trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chưa được quan tâm, vì thế đây là một hướng
nghiên cứu khá mới mẻ, có giá trị thực tiễn đối với tỉnh. Song nghiên cứu cảnh
quan là nghiên cứu tổng hợp với nhiều hợp phần tự nhiên, nhân sinh, vì vậy,
những kết quả nghiên cứu tổng hợp ĐKTN, KT-XH hoặc một hợp phần riêng rẽ
đã nêu ở trên đều có ý nghĩa quan trọng cho việc tiến hành nghiên cứu CQ,
CQST phục vụ phát triển KT-XH và BVMT bền vững lãnh thổ Phú Thọ. Đây là
những tài liệu quí để tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài.
21
1.2. Cơ sở lý luận về nghiên cứu đánh giá cảnh quan
1.2.1. Quan niệm về cảnh quan
Thuật ngữ đầu tiên về “Cảnh quan” bắt nguồn từ tiếng Đức
“Landschaft” với nghĩa là phong cảnh, đã bắt đầu được sử dụng từ đầu thế kỉ
19. Trong quá trình phát triển của cảnh quan học, đã có rất nhiều tác giả đưa ra
các quan điểm, học thuyết khác nhau về cảnh quan, thể hiện qua hàng loạt các
định nghĩa. Khái niệm “Cảnh quan” dần dần được hoàn chỉnh, mỗi khái niệm
đánh dấu một bước phát triển của khoa học cảnh quan trên thế giới.
Cho đến nay, đối với khoa học cảnh quan tồn tại ba quan niệm về cảnh
quan khác nhau tùy theo ý và nội dung người ta muốn diễn đạt.
- Quan điểm coi cảnh quan là một khái niệm chung (danh từ chung)
Cảnh quan được hiểu như một khái niệm chung (danh từ chung) để chỉ
các tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ quy mô nào có sự đồng nhất tương đối
về một số hợp phần tự nhiên nào đó và phân loại chúng theo sự đồng nhất ấy.
Người đầu tiên hiểu khái niệm cảnh quan theo nghĩa này là S.S. Neustruev, ông
cho rằng “Cảnh quan là tổng thể gồm những vật thể và những hiện tượng tự
nhiên phụ thuộc lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện dưới dạng quá trình
phát triển không ngừng”. Ủng hộ quan điểm này có các tác giả F.N.Minkov,
D.L.Armand, V.A.Nikolaev, Y.K. Prokaev, E.N.Lukasov…
cứu về các mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên, nguồn gốc phát
sinh, quá trình phát triển và quy luật phân hóa của tự nhiên nhằm phát hiện và
phân chia các thể tổng hợp tự nhiên - các đơn vị cảnh quan có tính đồng nhất
tương đối trong lãnh thổ làm cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN và KT-
XH để lập quy hoạch sử dụng hợp lý, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường”.
Nghiên cứu cảnh quan nói chung hay phân tích, đánh giá đa dạng cảnh quan
một lãnh thổ là dựa vào tiếp cận hệ thống để nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa
các yếu tố thành phần trong địa tổng thể và giữa các địa tổng thể tự nhiên với nhau.
Để xác định cơ sở lý luận, phương pháp luận cần xác định đối tượng nghiên cứu,
những nguyên tắc cơ bản, cơ sở khoa học thực hiện nội dung và đề xuất các bước
nghiên cứu cụ thể nhằm giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra.
1.2.2.1. Đối tượng nghiên cứu cảnh quan: là các đơn vị cảnh quan, gồm
đơn vị phân loại cảnh quan (các cấp như: hệ, lớp, kiểu, loại, dạng…) và các
đơn vị phân vùng cảnh quan (các cấp như: địa ô, miền, vùng, xứ…). Việc lựa
chọn, sử dụng đối tượng nghiên cứu (đơn vị cảnh quan) theo đơn vị phân loại
hay đơn vị phân vùng phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, đặc biệt là phụ thuộc
vào tỉ lệ các bản đồ sẽ xây dựng [45].
23
Đối tượng nghiên cứu đánh giá cảnh quan địa bàn nghiên cứu là các đơn vị
phân loại cảnh quan. Trong đó, ở phạm vi cấp tỉnh đối tượng đánh giá được lựa
chọn là đơn vị loại CQ, phạm vi cấp huyện đơn vị phân loại cơ sở là dạng CQ.
1.2.2.2. Nguyên tắc nghiên cứu cảnh quan
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu của nhiều tác giả đi trước, luận án
căn cứ và vận dụng thống nhất các nguyên tắc cơ bản sau đây trong NCCQ, xây
dựng hệ thống phân loại cảnh quan cho lãnh thổ nghiên cứu:
a. Nguyên tắc phát sinh hình thái: Nguyên tắc phát sinh hình thái trả
lời một cách chính xác những câu hỏi: cảnh quan được cấu tạo như thế nào, các
quan hệ phát sinh và các quan hệ nhân quả và chức năng tự nhiên và chức năng
xã hội của nó.
cảnh quan ta phải xét đến tất cả các hợp phần tham gia thành tạo cảnh quan trong
mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần đó. [25]
1.2.2.3. Nghiên cứu đặc điểm cảnh quan
Nghiên cứu cảnh quan chính là nghiên cứu hợp phần tự nhiên thành tạo
nên cảnh quan và mối quan hệ tác động tương hỗ giữa chúng. Đó cũng chính là
nghiên cứu và phân tích về cấu trúc đứng, cấu trúc ngang, nghiên cứu chức
năng và động lực cảnh quan. Trong đó:
a. Cấu trúc cảnh quan: chính là tổ chức bên trong của thể tổng hợp địa
lí tự nhiên (địa hệ), bao gồm cấu trúc đứng (cấu trúc tầng) và cấu trúc ngang
(cấu trúc hình thái).
Cấu trúc đứng: thể hiện ở sự phân bố theo tầng của các thành phần
cảnh quan được sắp xếp từ dưới lên, từ nền địa chất của thạch quyển, địa hình,
lớp phủ thổ nhưỡng, sinh vật, thủy văn, khí hậu Các hợp phần cấu trúc này liên
quan chặt chẽ với nhau, hòa quyện vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên
tổng thể lãnh thổ với các cảnh quan khác nhau.
Cấu trúc đứng biến động và vận động trong quá trình lịch sử phát triển lâu
dài do ảnh hưởng các quá trình tự nhiên, đặc biệt là quá trình hiện thời (cấu trúc
đứng thường bị phá huỷ ở các đơn vị cảnh quan nhỏ - miền núi). Bên cạnh quá
trình tự nhiên thì hoạt động của con người cũng làm thay đổi cấu trúc đứng (thực
bì, thổ nhưỡng, dòng chảy, địa hình - nhiều nơi thực bì tự nhiên còn bị thay thế
bằng thực bì trồng trên toàn bộ diện tích). Những nơi mà cấu trúc đứng của cảnh
quan bị biến đổi cơ bản sẽ tạo nên những cảnh quan hoàn toàn mới. [25]
Cấu trúc ngang: gồm các đơn vị cảnh quan cùng cấp hay khác cấp cấu
tạo nên cùng những mối quan hệ phức tạp giữa các đơn vị cảnh quan đó với
nhau. Vì bản thân mỗi một đơn vị cảnh là một hệ thống hoàn chỉnh riêng nên
cấu trúc ngang thường được mô hình hoá bởi một mô hình đa hệ thống. Cũng
25
như cấu trúc thẳng đứng, mỗi một cấp phân vị có một cấu trúc ngang riêng,
đồng thời cấu trúc ngang của mỗi cá thể thuộc cùng một cấp phân vị cũng có
dồi dào qua tổng lượng bức xạ và nền nhiệt khá cao, lượng mưa lớn và tập