Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005-2017 - Pdf 59

Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam
sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017
Lương Minh Hà

Tô Phương Ngọc

Nguyễn Bích Ngọc

Nguyễn Thị Minh Tâm

Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng

Sinh viên K19CLC-TC.A

Sinh viên K19CLC-TC.A

Sinh viên K19CLC-TC.A

Lê Vũ Thu Trang

Sinh viên K19CLC-TC.A

Trên thế giới, hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) các ngân hàng thương
mại (NHTM) là xu hướng phổ biến nhằm cải tổ hệ thống NHTM, tăng cường
tính cạnh tranh và khai thác các lợi thế kinh tế. Trong bài viết này, nhóm
nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đo lường mức độ tập trung thông qua
chỉ số CRk và HHI của 35 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017 nhằm
đưa ra đánh giá về cấu trúc thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Ngày nhận: 13/05/2019

Ngày nhận bản sửa: 23/05/2019


34

© Học viện Ngân hàng
ISSN 1859 - 011X


LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG

dưới tác động của M&A. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra chỉ số tập trung kinh
tế HHI có xu hướng tăng sau mỗi thương vụ sáp nhập ngân hàng, thể hiện
tính cạnh tranh giảm do M&A. Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh vẫn ở khoảng
chấp nhận được do các ngân hàng sáp nhập đều có quy mô không lớn so
với toàn hệ thống và chỉ số CRk vẫn thể hiện sự tập trung ở mức trung bình.
Từ khóa: tập trung kinh tế, M&A, ngân hàng, Việt Nam

1. Khái quát ngành ngân hàng Việt
Nam giai đoạn 2005- 2017
Trong suốt giai đoạn 2005- 2017, nền kinh
tế Việt Nam có nhiều biến động, đặc biệt
là năm 2008 do sự ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới mà nền kinh
tế Việt Nam có xu hướng đi xuống cho tới
năm 2013 mới có sự khởi sắc. Tuy nhiên,
nhìn chung, Việt Nam đã tạo ra được một
môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh
tranh và năng động. Nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần được khuyến khích phát
triển, các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở
nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày

trước nhưng ổn định và đều đặn hơn.
Cùng năm 2007, mức tăng trưởng huy
động vốn của toàn ngành Ngân hàng đạt
47,64%- tốc độ tăng mạnh nhất so với
những năm trước đó. Đến năm 2010, tổng
huy động vốn từ nền kinh tế của hệ thống
ngân hàng đã đạt 2.321.973 tỷ đồng, tăng
36,24% so với năm 2009, đây là mức tăng
khả quan sau cuộc khủng hoảng tài chính
năm 2008. Giai đoạn 2012- 2017, tăng
trưởng huy động vốn ở mức ổn định, chỉ
trong 2 năm 2014 và 2015 tốc độ tăng
trưởng huy động vốn chững lại do lãi suất
huy động được điều chỉnh xuống mức thấp
so với các kênh sinh lời khác.
Bên cạnh hai hoạt động chính của các
NHTM là huy động vốn và tín dụng thì
các hoạt động khác như bảo hiểm hay
cung cấp các dịch vụ thanh toán cũng từng
bước được phát triển qua các năm.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu

Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

35


Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017
Hình 1. Tăng trưởng dư nợ tín dụng các NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017

2006, khi Luật Doanh nghiệp 2005 có
hiệu lực và đi vào đời sống, hoạt động
M&A NHTM tại Việt Nam đã bước đầu
phát triển cả về số lượng và giá trị, theo
đó các nghiên cứu dưới đây về M&A
trong lĩnh vực ngân hàng được chia
thành 2 hướng: Hướng thứ nhất đưa ra
những nhân tố tác động tới M&A; và
hướng thứ hai chỉ ra sự ảnh hưởng của
hoạt động M&A đến các yếu tố bên
trong các ngân hàng cũng như các chỉ số
của thị trường kinh tế.
Hướng thứ nhất phải kể đến các nghiên
cứu của Ngô Đức Huyền Ngân (2009),
Shipra Jindal (2008) và Vương Thị Minh
Đức (2018). Nghiên cứu của Jindal (2008)
đã chỉ ra lý do tại sao M&A lại đóng vai
trò quan trọng nhìn từ góc độ của công ty
hoặc ngân hàng. Ngô Đức Huyền Ngân
(2009) đã phân tích thực trạng hoạt động
M&A của hệ thống ngân hàng Việt Nam,
điểm mạnh, điểm yếu cũng như động cơ
sáp nhập của các ngân hàng và đề xuất
các giải pháp giúp định hướng các NHTM
trong hoạt động M&A của các ngân hàng
Việt Nam. Vương Thị Minh Đức (2018)
đánh giá ưu điểm và những vấn đề còn
tồn tại, rút ra được những đặc điểm, nhân
tố ảnh hưởng đến hoạt động M&A ngân
hàng tại Việt Nam, qua đó gợi ý một số

các thành tựu và tác động của các thương
vụ M&A đến thị trường kinh tế Việt Nam.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Hoang
Thi Thanh Hang, Phan Dien Vy, Jay
Bandaralage (2016) đã chỉ ra tác động của
M&A đối với hệ thống NHTM Việt Nam
là tích cực; sau M&A, mức độ tập trung
kinh tế chỉ ở mức trung bình và mức độ
cạnh tranh cao. Tuy nhiên các chỉ số tập
trung trong bài không thể phản ánh toàn
bộ sự ảnh hưởng của một nhóm ngân hàng
trên thị trường.
Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả
Nguyễn Ngọc Lý, Trần Văn Quyết, Dương
Thanh Tình (2013), được thực hiện dựa
trên các số liệu thu thập được từ các báo
cáo tài chính của các NHTM, đã phân tích
các vấn đề cần lưu ý và đề xuất một số
kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng trong thời gian tới
từ thương vụ sáp nhập đầu tiên theo chủ
trương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của
NHNN. Nghiên cứu của Lương Minh Hà,
Nguyễn Minh Chi, Ngô Trần Vân Khanh

Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

37




460.735.158

71,57%

335.891.086

69,51%

317.146.479

2007

50,66%

568.032.155

58,45%

403.072.326

56,34%

389.350.609

2008

48,85%

662.199.555


714.619.647

44,12%

655.375.289

2011

36,40%

1.232.897.811

48,90%

882.088.192

42,24%

724.660.428

2012

40,80%

1.402.803.136

47,18%

983.816.228


1.286.856.543

2015

44,83%

2.304.385.067

48,52%

1.584.385.457

42,53%

1.558.705.673

2016

46,12%

2.742.883.228

49,16%

1.919.719.072

45,66%

1.971.533.188

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Bảng 2. 35 NHTMCP thuộc mẫu nghiên cứu

Á Châu (ACB)

Nhà Hà Nội

MHD

Sacombank

Bản Việt

An Bình

HDBank

Nam Á

SHB

Vietcombank

Bảo Việt

Kiên Long

Quốc dân


Việt Nam Tín
Nghĩa

Việt Nam Thương
Tín

Eximbank

MHB

Saigonbank

Việt Á

(2018) đã bổ sung thêm kiến thức về hoạt
động M&A nói chung tại Việt Nam khi
đánh giá, phân tích cả những nhân tố tác
động tới M&A và những nhân tố bị ảnh
hưởng bởi M&A.
Tổng quan các nghiên cứu trên cho thấy,
nghiên cứu về hoạt động M&A trong lĩnh
vực Tài chính- Ngân hàng tại Việt Nam là
không quá mới mẻ, tuy nhiên các tác giả

38

VPbank
Phương Tây

nhận thấy rằng đa phần các nghiên cứu

là ba chỉ tiêu thể hiện đặc trưng hoạt động
kinh doanh của các NHTM, đó là: tổng tài
sản, dư nợ tín dụng và tiền gửi khách hàng.

nhóm thực hiện nghiên cứu nên khi tính
toán chỉ số CRk, nhóm sẽ không xét đến
Agribank trong mẫu. Do đó, trong nghiên
cứu này, nhóm sử dụng CR3, để kiểm tra
mức độ tập trung trên ba khía cạnh tổng
tài sản, huy động vốn và cho vay của các
ngân hàng qua các năm.
Cách thức xác định chỉ số này như sau
(Westman, 2005):

Trong đó Si là thị phần của doanh nghiệp
lớn thứ i trong ngành; n = 3 hoặc 5 tùy
trường hợp cần xác định CR3 hay CR5.
Dựa vào các mức độ tập trung, có thể phân
loại thị trường thành các dạng sau:

Về phương pháp đo lường, nhóm sử dụng
chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman Index)
và CRk (Concentration Ratio). Hai chỉ
số này được sử dụng phổ biến nhất trong
việc đo lường mức độ tập trung thị trường
trong nền kinh tế nói chung và lĩnh vực
ngân hàng nói riêng (Le Hai Trung, 2014;
Nguyễn Thế Bính, 2015; Hoang Thi
Thanh Hang và cộng sự, 2016).


với ngành. Đây là một chỉ báo về mức độ
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
ngành, thường được tính bằng tổng bình
phương thị phần của các doanh nghiệp và
có giá trị từ 0 đến 10.000. Nhóm chọn ra 35
NHTMCP có đầy đủ dữ liệu từ năm 2005
đến năm 2017 về cả ba chỉ tiêu tổng tài sản,
huy động vốn và tín dụng.

Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

39


Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017
Bảng 3. Thống kê về tỷ trọng của 35 NHTM thuộc mẫu nghiên cứu giai đoạn 2005- 2017
Năm

Tổng tài sản

Tương đối
(%)

Tuyệt đối
(triệu đồng)

Cho vay

Tương đối
(%)

725.646.844

68,96%

469.335.221

73,08%

456.237.130

2007

71,69%

1.121.198.264

71,45%

689.593.938

73,66%

691.014.997

2008

71,42%

1.355.569.659


1.505.739.030

76,01%

1.485.412.554

2011

80,95%

3.387.402.885

75,46%

1.803.940.516

77,53%

1.715.431.917

2012

80,77%

3.438.228.450

76,64%

2.085.339.141


3.071.850.082

2015

83,76%

5.139.731.747

80,88%

3.265.621.097

79,64%

3.664.951.828

2016

83,96%

5.947.657.847

81,53%

3.904.909.719

80,30%

4.318.209.066


Nhà nước.
Cho vay và huy động vốn là hai nghiệp vụ
kinh doanh chính của các NHTM. Trong
đó, cung cấp tín dụng là hoạt động đặc
trưng quan trọng nhất, mang đến lợi nhuận
lớn hàng đầu cho các NHTM. Bên cạnh
đó, nghiệp vụ huy động vốn tuy không

40

mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng
nhưng lại là nghiệp vụ giải quyết yếu tố
đầu vào cho ngân hàng. Tổng tài sản là
một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh
giá mức độ cạnh tranh giữa các NHTM
trên thị trường, vì tổng tài sản gắn liền
với ưu thế thị phần, thị phần càng lớn
thì lợi thế cạnh tranh càng lớn. Như vậy,
việc chọn ba chỉ tiêu trên từ 35 NHTMCP
là phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của
nhóm.
Cách tính chỉ số HHI như sau:

Trong đó n là tổng số doanh nghiệp và Si
là thị phần của doanh nghiệp thứ i trong
ngành.
Theo Horizontal Merger Guidelines, ban

Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019


cho thấy một sự sụt giảm liên tục trong
giai đoạn 2005- 2011 và bắt đầu ổn định
hơn trong giai đoạn 2012- 2017. Hai chỉ
số này bổ sung cho nhau cùng thể hiện
mức độ cạnh tranh của các NHTM tại Việt
Nam có xu hướng giảm khi số lượng ngân
hàng giảm do hoạt động M&A. Điều này
đồng nghĩa với việc hoạt động M&A có
tác động làm tăng mức độ tập trung kinh
tế trong ngành Ngân hàng, kết quả này
giúp nhóm có cơ sở thực tế để đề xuất
những kiến nghị trong phần tiếp theo.

Trong giai đoạn trước năm 2004, quá
trình cải cách hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của kinh tế trong
nước, các ngân hàng gặp khó khăn trong
việc thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ nên các ngân hàng, đặc
biệt là NHTMCP nông thôn mất khả năng
thanh toán, gây ảnh hưởng đến cả hệ thống
ngân hàng trong nước. Vì vậy, nhiều vụ
sáp nhập đã diễn ra (NHTMCP Phương
Nam đã M&A hàng loạt các NHTM khác
như NHTMCP nông thôn Ðồng Tháp
năm 1997, Ðại Nam năm 1999, Châu Phú
năm 2001, Cái Sắn năm 2003; NHTMCP
Ðông Á tiến hành M&A NHTMCP
Tứ Giác Long Xuyên năm 2001 và

Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017

Năm

Bảng 4. Số lượng ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017

Số lượng

42

39

40

43

42

42

40

39

38

38


(SCB)

42

2011

- NHTMCP Đệ Nhất (Ficombank)
- NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank)
- NHTMCP Sài Gòn (SCB)

2012

- NHTMCP Nhà Hà Nội (Habubank)
- NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB)

- NHTMCP Sài Gòn Hà
Nội (SHB)

39

2013

- NHTMCP Đại Tín (TrustBank)
- Tập đoàn Thiên Thanh

- NHTMCP Xây dựng
(CB)

39


- NHTMCP Hàng
hải Việt Nam
(Maritimebank)
- NHTMCP Phương Nam (Southern Bank)
- NHTMCP Sài
- NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
Gòn Thương Tín
(Sacombank)
- NHTMCP Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu - NHTMCP Đầu tư và
Long (MHB)
Phát triển Việt Nam
- NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) (BIDV)

40

37
36

35

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

phần của các ngân hàng thành phần giảm,
chỉ số HHI trong giai đoạn này giảm. Đặc
biệt trong năm 2008, trên thị trường ghi
nhận có 43 ngân hàng thương mại, tăng so
với các năm trước đó (Bảng 4). Tuy nhiên,
trong giai đoạn này, thị trường ngân hàng
không ghi nhận một thương vụ mua bán
sáp nhập nào, do vậy những thay đổi của

Sài Gòn (SCB). Ở giai đoạn này, chỉ số
HHI về mức độ cạnh tranh giữa các ngân
hàng trên thị trường thấp hơn với giai đoạn
trước (2005 - 2011), nghĩa là mức độ cạnh
tranh cao hơn giai đoạn trước (HHI trung
bình giai đoạn 2005- 2011: 1314; HHI
trung bình giai đoạn 2012- 2017: 989;
HHI năm 2012 giảm 53,42% so với HHI
năm 2005), nhưng nhìn chung vẫn ở mức
cạnh tranh cao (100 ≤ HHI ≤ 1000). Quy
định nghiêm ngặt về việc thành lập và duy
trì hoạt động của các tổ chức tín dụng của
Đề án 254 làm cho số lượng ngân hàng
mới giảm so với thời kỳ trước, kết hợp
với những thương vụ sáp nhập và mua lại
ngân hàng (SHB mua lại Habubank- 2012,
HDBank mua lại Đại Á- 2013, ...) dẫn đến
thị phần của các ngân hàng tăng, khiến
chỉ số HHI tăng nhẹ, mức độ cạnh tranh
giảm nhẹ theo thời gian. Tuy nhiên, sau
lần giảm mạnh vào năm 2006 (12,21%)
và 2007 (giảm 28,32%), mức độ tăng ở

chỉ số HHI của những lần này không quá
cao (tăng từ 1,8- 3% qua các năm), vì vậy,
mức độ cạnh tranh vẫn cao hơn so với thời
kì 2005- 2011 (HHI trung bình giai đoạn
2005- 2011: 1314; HHI trung bình giai
đoạn 2012- 2017: 989; so với năm 2005,
chỉ số HHI năm 2012 ở chỉ tiêu Tổng tài

vẫn tiếp tục giảm nhẹ. Như vậy, sau 3
thương vụ kể trên, mức độ cạnh tranh ở 2
chỉ tiêu tổng tài sản và tín dụng giảm nhẹ,
đặc biệt là mức độ cạnh tranh tín dụng đã
không còn ở mức cạnh tranh cao, mà giảm

Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

43


Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017
Hình 3. Diễn biến chỉ số HHI giai đoạn 2005- 2017

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

xuống mức cạnh tranh trung bình (1000 ≤
HHI ≤ 1800).
Năm 2014, thị trường không có giao
dịch M&A nào thực sự diễn ra giữa các
NHTM. Vì vậy, có thể nói, khoảng thời
gian 2014 này chính là thời gian mà các
ảnh hưởng của M&A trở nên rõ ràng hơn.
Từ Hình 3, chỉ số HHI ở tất cả các chỉ tiêu
đều bắt đầu tăng dần (so với năm 2012).
Sang đến năm 2015, thị trường ngân hàng
tiếp tục có thêm 3 thương vụ M&A khác:
NHTMCP Phát triển Nhà đồng bằng sông
Cửu Long (MHB) sáp nhập vào BIDV,
NHTMCP Phương Nam (Southern Bank)

Để có cái nhìn chắc chắn hơn về mức
độ cạnh tranh các NHTM qua các năm,
nhóm tiến hành nghiên cứu thêm chỉ số
CR3 đối với ba NHTM Việt Nam có thị
phần lớn nhất là BIDV, Vietinbank và
Vietcombank. Diễn biến chỉ số CR3 qua
13 năm có sự tương đồng so với diễn biến
chỉ số HHI. Đồ thị của chỉ số CR3 cũng
cho thấy một sự sụt giảm liên tục trong
giai đoạn 2005- 2010 và bắt đầu ổn định
hơn trong giai đoạn 2011- 2017 (Hình 4).
Nhìn vào Hình 4, ở giai đoạn 2005- 2010,

Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019


LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG

Hình 4. Diễn biến chỉ số CR3 giai đoạn 2005- 2017

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

chỉ số CR3 giảm mạnh từ mức tập trung
cao xuống thị trường có mức tập trung
trung bình. Ở giai đoạn này, hệ thống
NHTM có sự phát triển cả về quy mô và
chất lượng tín dụng. Vì vậy, mức độ cạnh
tranh tăng mạnh do sự phát triển của các
ngân hàng vừa và nhỏ khác, “đập tan” thế
độc quyền của 3 ngân hàng có thị phần

ngân hàng, nhưng cũng có khách hàng
sẽ hoài nghi về chất lượng, hiệu quả hoạt
động của ngân hàng mới. Điều này có thể
dẫn đến sự sụt giảm số lượng của cả khách
hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng
các ngân hàng mới, trong khi đây lại chính
là ưu thế của các ngân hàng lớn. Hơn nữa,
trong năm 2012, thị trường ngân hàng chỉ
có một vụ M&A của NHTMCP Nhà Hà
Nội (Habubank) vào SHB. Kết quả là, sau
khi tăng vọt trở lại vào năm 2012, chỉ số
CR3 bắt đầu ổn định với mức tăng trung
bình 3% một năm.
Sang đến năm 2013, thị trường ngân hàng
có 3 vụ M&A: NHTMCP Phương Tây
hợp nhất với Công ty tài chính dầu khí VN
thành NHTMCP Đại Chúng Việt Nam,
NHTMCP Đại Á và Công ty tài chính Việt

Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

45


Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017

Societe Generale- SGVF sáp nhập vào
HDBank, NHTMCP Đại Tín và Tập đoàn
Thiên Thanh hợp tác thành lập NH Xây
dựng (CB). Kết quả là, sau khi tăng vọt trở

Như vậy, mặc dù mức độ tập trung tăng,
mức độ cạnh tranh giảm so với thời kỳ
trước, nhưng về tổng quan, mức độ tập
trung này vẫn dưới 65%, cho thấy thị
trường đang cạnh tranh ở mức tương đối,
với mức độ tập trung trung bình.
4. Kết luận
Thông qua việc phân tích diễn biến 2
chỉ số HHI và CR3 để đánh giá mức độ
tập trung và mức độ cạnh tranh trên thị
trường, bài viết tìm thấy bằng chứng chỉ ra
rằng hoạt động M&A có xu hướng khiến
mức độ cạnh tranh của các NHTM tại Việt
Nam giảm trong giai đoạn 2005- 2017,
nhưng vẫn trong mức chấp nhận được.
Dù vậy, cạnh tranh giảm đồng nghĩa với
giá cả của các dịch vụ, sản phẩm trên thị
trường có thể diễn biến theo chiều hướng
bất lợi cho người tiêu dùng và về mặt hiệu
quả kinh tế, độ thỏa dụng của thị trường
sẽ giảm theo. Nhóm nghiên cứu cho rằng,
các cơ quan quản lý, đặc biệt là NHNN và
Bộ Công thương cần tăng cường thanh tra
giám sát, kiểm soát hoạt động M&A đảm
bảo hệ thống ngân hàng Việt Nam phát
triển lành mạnh, an toàn đúng định hướng.
Mặc dù vẫn còn trong giới hạn chấp nhận
được về tập trung kinh tế, nhưng nếu các
thương vụ M&A làm giảm số lượng ngân
hàng vẫn tiếp tục, thì mức độ cạnh tranh

Ngân hàng Nhà nước, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, 5, 16 – 19.
12.Nguyễn Trọng Tài (2008), Cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn tại Việt
Nam, Tạp chí Ngân hàng, 3.
13.Nguyễn Xuân Thành (2006), Bản thảo: Ngân hàng thương mại Việt Nam: Từ những thay đổi về luật và chính sách
giai đoạn 2006-2010 đến các sự kiện tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright TP.
HCM.
14.Nguyễn Hồng Yến, Vũ Thị Kim Thanh (2017), Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của các ngân hàng
thương mại, Tạp chí Công thương.
15.Ngô Đức Huyền Ngân (2009), Sáp nhập và mua lại Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế,
Trường Đại học kinh tế TP. HCM.
16.Phan Ánh Hè (2018), M&A – Công cụ hữu hiệu cơ cấu lại doanh nghiệp để nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia CPTPP, Tạp chí Công thương.
17.Phan Quan Viet (2014), Some Recommendations of M&A Activity in Vietnam Today, Macrothink Institute.
18.Shipra Jindal (2008), A study on Mergers & Acquisition in Banking industry - A global phenomenon.
19.Tô Ngọc Hưng (2013), Tăng trưởng tín dụng năm 2012 và một số khuyến nghị chính sách cho năm 2013, Tạp chí
Ngân hàng, 4, 26 – 22.
20.Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại
hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”.
21.Vuong Quan Hoang, Tran Tri Dung và Nguyen Thi Chau Ha (2009), Mergers and Acquisitions in Vietnam’s
Emerging Market Economy, 1990-2009, Université Libre de Bruxelles - Solvay Brussels School of Economics and
Management Centre Emile Bernheim.
22.Vương Thị Minh Đức (2018), Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng.
23.Wesman, L. D. (2005). Assessing market power: The trade-off between market concentration and multiparticipation. Journal of Competition Law & Economics, 1(2), 339-354.

tiếp theo trang 33

nghiên cứu này chưa tách biệt hai nhóm để
phân tích, do đó chưa thấy được sự khác
biệt trong quyết định của hai đối tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status