Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu sự biến đổi một vài thông số tâm sinh lý của sinh viên miền Bắc Việt Nam trong phòng thí nghiệm nhiệt ẩm - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

HOÀNG ĐỨC HƯỞNG

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MỘT VÀI THÔNG SỐ 
TÂM SINH LÝ CỦA SINH VIÊN MIỀN BẮC VIỆT NAM 
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM NHIỆT ẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Hà Nội ­ 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

HOÀNG ĐỨC HƯỞNG

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MỘT VÀI THÔNG SỐ 
TÂM SINH LÝ CỦA SINH VIÊN MIỀN BẮC VIỆT NAM 
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM NHIỆT ẨM
Chuyên ngành: Nhân chủng học
Mã số: 60 42 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số 
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai 
công bố trong bất kì công trình nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác Giả

Hoàng Đức Hưởng


MỤC LỤC 
1.4. Sự trao đổi nhiệt giữa cơ thể người trong điều kiện khí hậu nóng ẩm
                                                                                                                           11
.........................................................................................................................
    
 1.4.1. Cân bằng nhiệt                                                                                
 
...............................................................................
    
 11
 1.4.2. Điều hòa nhiệt của cơ thể                                                             
 
............................................................
    
 14
1.5. Biến đổi chức năng sinh lý của cơ thể người do ảnh hưởng của gánh 
 nặng nhiệt trong điều kiện vi khí hậu nóng ẩm                                            
 

 
......................................................................
    
 32
 2.5. Quy trình thực nghiệm                                                                             
 
............................................................................
    
 33
 2.6. Xử lý số liệu                                                                                             
 
............................................................................................
    
 35
 2.6.1. Tính diện tích da                                                                              
 
.............................................................................
    
 35
 2.6.2. Tính nhiệt độ da trung bình của 3 điểm                                        
 
.......................................
    
 35


 2.6.3. Tính lượng mồ hôi bài tiết                                                              
 
............................................................
    


Tcot

: Nhiệt độ cơ thể trung bình

Ttran

: Nhiệt độ trán

Tcangt

: Nhiệt độ cẳng tay

Tngực

: Nhiệt độ ngực

Tcangc 

: Nhiệt độ cẳng chân 

Tdat

: Nhiệt độ da trung bình

Tttuct

: Nhiệt độ trực tràng

Tdui

Bảng 3.9.  Nhịp tim của đối tượng (nhịp/ phút) khi thực hiện theo giới tính
48
Bảng 3.10. Nhịp tim đối tượng nghiên cứu chia theo chế độ nhiệt thực nghiệm
.........................................................................................................................49
Bảng 3.11. Cân nặng của đối tượng nghiên cứu trước và sau thực nghiệm 
theo giới tính...................................................................................................51
Bảng 3.12. Cân nặng của đối tượng nghiên cứu trước và sau khi thực 
nghiệm, theo thời gian thực nghiệm..............................................................52
Bảng3.13. Thang cảm nhận trên trạng thái nhiệt cá nhân của đối tượng 
nghiên cứu khi thực hiện................................................................................53
Bảng 3.14. Cảm giác về mức tiện nghi nhiệt khi thực hiện thí nghiệm.....55


Bảng 3.15. Mong muốn tăng hay giảm nhiệt độ  so với nhiệt độ  phòng thí  
nghiệm  khi thực nghiệm...............................................................................56
Bảng 3.16. Có thể chấp nhận hay không chấp nhận môi trường nhiệt thực 
nghiệm............................................................................................................57
Bảng 3.17. Cảm giác về mức độ chịu đựng ở môi trường nhiệt thực nhiệm
.........................................................................................................................58
DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Diễn biến nhiệt độ trực tràng chia theo thời gian thực nghiệm ..37
Hình 3.2: Diễn biến nhiệt độ trung tâm của đối tượng nghiên cứu theo giới tính 
.........................................................................................................................38
Hình 3.3: Diễn biến nhiệt độ trực tràng của đối tượng thực nghiệm ở 
từng chế độ nhiệt..........................................................................................40
Hình 3.4: Diễn  biến nhiêt độ da chia theo thời gian thực nghiệm..............43
Hình 3.5: Diễn biến nhiệt độ da của đối tượng nghiên cứu theo giới tính. 44
Hình   3.6:   Diễn   biến   nhiệt   độ   da   trung     bình   ở   các   chế   độ   nhiệt   thực 
nghiệm............................................................................................................46

ngươi t
̀ ại nơi làm việc và trong phòng thí nghiệm.  Kết quả  các công trình 
nghiên cứu đó là cơ  sở  khoa học để  xây dựng nên các tiêu chuẩn quốc tế 
(ISO) về môi trường nhiệt. Nhiều tiêu chuẩn quốc tế về môi trường nhiệt  
đã  được   Viện   tiêu   chuẩn   chất   lượng   Việt   Nam  chấp   nhận   thành  Tiêu 
chuẩn Việt Nam (TCVN) [29], [30], [31], [32]
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng ẩm. Trung 
bình một năm nước ta có tới 233 ngày có khí hậu nóng  ẩm, độ   ẩm trên  
80%, bức xạ nhiệt khoảng 136 kcal/cm2/năm. Vì thế, đã có nhiều công trình 
nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá mô tả thực trạng sự biến đổi các chỉ 
tiêu sinh lý điều hòa nhiệt của cơ  thể  tại các cơ  sở   ở  thực địa[5],[7],[9],
[22]. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nhiệt ẩm để phân tích đánh giá sự 
biến đổi các chỉ tiêu sinh lý điều hòa nhiệt của cơ  thể theo các thang gánh  
nặng nhiệt (nhiệt độ, độ   ẩm, chuyển động không khí, bức xạ  nhiệt) còn 
rất ít do không có phòng thí nghiệm. Mô phỏng môi trường nhiệt ẩm trong  
1


phòng thí nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của nó đến sự biến đổi các thông 
số  tâm sinh lý của người Việt Nam để  kiểm chứng mức độ  phù hợp của 
các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường nhiệt đã được Việt Nam chấp nhận 
thành Tiêu chuẩn Việt  Nam là rất cần thiết.  Để  góp phần nhỏ  bé vào 
hướng nghiên cứu này, đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi một vài thông số 
tâm sinh lý của sinh viên miền Bắc Việt Nam trong phòng thí nghiệm 
nhiệt ẩm” của chúng tôi với mục tiêu:
1. Mô tả  sự  thay đổi nhiệt độ  trung tâm, nhiệt độ  da, nhịp tim, lượng  
mồ  hôi bài tiết của sinh viên một số  tỉnh miền Bắc khi thay đổi nhiệt độ 
phòng thí nghiệm.
2. Xác định nhiệt độ tiện nghi cho sinh viên một số tỉnh miền Bắc theo  
cảm giác chủ quan của họ.

3


0,50C. Tuy nhiên khi làm lạnh vùng mặt, cổ hay miệng, nuốt nước bọt, tăng  
thở có thể làm thay đổi NĐTT nên thiếu chính xác. 
Nhiệt độ  màng nhĩ:  Năm 1959 Benzinger sử  dụng phương pháp đo 
nhiệt độ màng nhĩ và coi đó là chỉ số có giá trị trong nghiên cứu sinh lí, theo 
tác giả này thì nhiệt độ màng nhĩ đáp ứng sự thay đổi cường độ chuyển hóa 
nhanh hơn nhiệt độ  trực tràng và do đó có lợi thế  nhất định trong khi sử 
dụng vào nghiên cứu.
Tuy nhiên các tác giả sau này cho rằng NĐTT đo ở màng nhĩ dễ bị thay 
đổi do nhiệt độ  vùng da đầu và cổ, dễ  bị   ảnh hưởng từ  môi trường bên  
ngoài.
Nhiệt  độ  trực tràng: Có giá trị  cao hơn các vị  trí  khác trên cơ  thể 
khoảng  vài phần mười độ. Trực tràng được cách nhiệt tốt với môi trường  
bên ngoài, do đó nhiệt độ  trực tràng là một chỉ  số  thân nhiệt tin cậy được  
sử dụng rộng rãi trong lâm sàng cũng như nghiên cứu sinh lí nhiệt.
Nhiệt độ nách: Dễ đo nhưng khó đảm bảo độ chính xác. Khi đo nhiệt 
độ  nách đối tượng nghiên cứu phải co tay lên ngực và ép cánh tay vào hố 
nách, nhiệt độ  sẽ  tăng dần đạt tới nhiệt độ  ổn định so với nhiệt độ  trung 
tâm ở các vị trí khác. Tuy nhiên nhiệt độ nách chỉ đạt giá trị ổn định khi đối  
tượng nghiên cứu giữ  nguyên tay như  vậy trong 30 phút, và các giá trị  đạt 
được cũng tương đối dao động, thấp hơn nhiệt độ trực tràng  khoảng 0,50C ­ 
0,80C, do vậy nó ít được sử dụng trong nghiên cứu để xác định giá trị nhiệt độ 
trung tâm.[13, 14]
1.1.2. Nhiệt độ da
1.1.2.1. Định nghĩa và vai trò của nhiệt độ da

4



tốt). Ngày nay, phần lớn các nghiên cứu trong môi trường lạnh đều thông qua 
đo nhiệt độ  da tại 7 điểm trên cơ  thể  (trán, cẳng tay, mu bàn tay, ngực, đùi, 
cẳng chân, mu bàn chân) rồi từ  đó tính ra Tdat dựa vào công thức của Hardy­ 
Duboi cải tiến:
Tdat  =   0.07Ttran    +   0.14Tcangt  +   0.05T  mut        +   0.35Tnguc    +   0.19Tdui    + 
0.13Tcangc  + 0.07Tmuc
Đối với môi trường nóng người ta thường đo nhiệt độ  da tại 3 điểm, 
được tính theo công thức tính nhiệt độ  da trung bình trong thường quy kĩ 
thuật [54]. 
Tdat= 0.42 Tnguc  + 0.19 Tcangt + 0.39 Tcangc 
Để xác định trạng thái nhiệt của cơ thể người ta thường tính nhiệt độ 
cơ thể trung bình ( Tcot ) thông qua nhiệt độ trung tâm và nhiệt độ  da trung 
bình đã biết:
Tcot = 0.65T ttuct + 0.35 Tdat
Trong đó:  
T ttuct là nhiệt độ trực tràng, trong nghiên cứu này chúng tôi dùng  T ttuct 
là nhiệt độ trung tâm .
Tdat là nhiệt độ da trung bình.
1.2 Một số  cấu trúc của cơ  thể  có vai trò quan trọng trong điều  
hòa nhiệt độ cơ thể
  Đặc điểm cấu trúc của cơ  thể  tạo ra sự  thuận lợi trong việc thải 
nhiệt nhưng ngược lại cũng thuận lợi cho việc giữ  nhiệt cho cơ  thể  tùy 
nhu cầu, đó là lớp cách nhiệt và hệ tỏa nhiệt.
Lớp cách nhiệt gồm da, các mô mỡ dưới da, trong đó các mô mỡ dưới 
da có tác dụng cách nhiệt tốt nhất vì độ nhiệt của mỡ chỉ bằng 2/3 các mô 
khác. Lớp mỡ dưới da của nữ dày hơn nam do đó lớp cách nhiệt của nữ tốt 
hơn nam. Người ta còn gọi lớp “vỏ”, lớp này dày hơn ở người xứ lạnh và 
6



nhưng do lượng mồ  hôi ít (do nhu cầu thải nhiệt ít) nên lượng NaCl mất  
theo mồ hôi cũng là không đáng kể. Khi người dân xứ lạnh sống trong môi 
trường nóng, dần dần lượng mồ hôi sẽ tiết ra nhiều hơn và lượng NaCl sẽ 
được tái hấp thu mạnh hơn (dưới tác dụng của aldosterone) làm cơ thể đỡ 
mất muối trong khi vẫn có thể tăng bài tiết mồ hôi để thải nhiệt. Đó là một 
trong những cơ chế thich nghi với môi trường nóng. Người Việt Nam thích  
nghi lâu đời với môi trường nóng, nên lượng muối trong mồ  hôi thấp hơn  
người xứ lạnh và trong cùng một hoàn cảnh nhiệt độ cao như nhau thường  
tiết ít mồ hôi hơn người xứ lạnh [42, 48]      
1.3. Đáp ứng của hệ thống tim mạch trong quá trình điều nhiệt
Hoạt động thể lực và điều nhiệt tạo nên một cuộc cạnh tranh về nhu  
cầu máu làm tăng nhu cầu cấp máu ­ gây áp lực tới hệ thống tuần hoàn
Hoạt động cơ  cần nhiều hơn sự  gia tăng lượng máu, trong khi đó cơ 
chế điều nhiệt cũng cần có lượng máu tới da, giúp cho quá trình thải nhiệt.  
Lượng máu đến cơ  tăng gấp vài lần so với lượng máu đến da, lượng máu 
đến da thay đổi chủ  yếu do phân bổ  lại máu trong hệ  thống tuần hoàn.  
Thêm nữa khi nước và điện giải bị mất do tăng tiết mồ hôi mà chưa được  
bồi phụ kịp thời sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ tim mạch do giảm  
khối lượng máu trong khi nhu cầu cấp máu không giảm.[28]
Sự suy yếu khả  năng đầy máu tim: Ở những bệnh nhân tim mạch thì 
khi gắng sức, nhu cầu máu tăng để  điều nhiệt trong môi trường nóng là 
một gánh nặng có thể  gây đột tử  do suy yếu trước đó của hệ  tim mạch. 
Ngược lại ở người khỏe mạnh thì sự giảm lượng máu về  tim là do ứ máu 
tại da.
Khi lượng máu tới da tăng, các hồ máu dưới da dãn rộng chứa máu do 
đó làm giảm lượng máu về  tim, giảm thể  tích tâm thu do đó tim cần tăng 
tần số  để  duy trì một lưu lượng tuần hoàn thích hợp. Và hậu qủa của nó  
8




Trong những điều kiện không khí bên ngoài quá nóng mà khả  năng 
thích  ứng của cơ thể không thực hiện đượ c, thì cân bằng nhiệt sẽ  bị rối  
loạn làm cho sự tích nhiệt sẽ lên cao gây ra những tai biến sau
1.3.1.1 Say nóng
Khi khả  năng của cơ  thể  không thích  ứng được với nhiệt độ  cao của 
không khí, gây nên các rối loạn chức năng điều hòa nhiệt của cơ thể. Hiện  
tượng say nóng thường gặp trong môi trường lao động  ở  những nơi có 
nguồn nhiệt cao như: lò luyện gang thép, nấu chảy vật liệu và các máy 
động cơ cỡ lớn hoạt động (xe tăng, xe vận tải) [5, 11]
Nguyên nhân do nhiệt độ  môi trường lao động tăng cao gây rối loạn 
trung khu điều hòa nhiệt làm tăng thân nhiệt lên 400C ­ 410C hoặc hơn.  Ở 
mức độ say nóng vừa, người bệnh mặt đỏ phừng, mồ hôi đầm đìa, mệt lử, 
đau đầu, hoa mắt, buồn nôn, nhịp thở  nhanh, mạch tăng, huyết áp lúc đầu 
tăng sau giảm. Trường hợp nặng (sốc nhiệt) thân nhiệt trên 410C, mạch 
nhanh, nhỏ, huyết áp tụt, mất tri giác, hôn mê sâu, có thể chết.
1.3.1.2 Say nắng
Nguyên nhân là do tia bức xạ  nhiệt mạnh chiếu trực tiếp lên đầu, 
thường là bức xạ  mặt trời tác động lên người nông dân ngoài đồng, lao 
động vào mùa hè mà không đội mũ nón. Các quân binh chủng như  công  
binh, pháo binh, thiết giáp, … và bộ  đội luyện tập, hành quân, cũng  như 
công nhân xây dựng và làm đường giao thông cũng thường bị say nắng.
Hiện tượng say nắng là do thần kinh trung  ương bị  kích thích quá 
mạnh gây đau đầu chóng mặt ù tai, lo sợ, co giật, ngất, hôn mê, và có thể 
dẫn tới tử vong. Dưới  ảnh hưởng của bức xạ nhiệt mạnh chiếu vào đầu, 
một phần năng lượng bức xạ  được hấp thu và biến thành nhiệt năng làm  
tăng nhiệt độ màng não gây phù nề và sung huyết màng não. [5]. 
1.3.2. Nhiệt độ  thích hợp và phương pháp đánh giá nhiệt độ  thích  
hợp.

11


Trạng thái nhiệt  ổn định, không dao động quá nhiều là điều kiện cần 
thiết cho phép động vật cấp cao có thể tồn tại một cách độc lập giữa môi  
trường thiên nhiên. Nếu không có điều kiện đó, cơ thể chúng ta sẽ thành đồ 
chơi trong tay nhiệt độ  bên ngoài (bài giảng về  trung khu thần kinh điều  
hoà nhiệt của Palov, 1887). 
Sự  sinh nhiệt và thải nhiệt trong cơ  thể  luôn luôn diễn ra trong mọi 
hoạt động sống của con người. Sự sinh nhiệt bên trong cơ thể là do quá trình 
chuyển hoá vật chất của protit, lipit và gluxit tạo ra năng lượng, nhiều nhất 
là khi lao động (gánh nặng lao động tỷ lệ với tiêu hao năng lượng) và nhiệt  
hấp thu từ bên ngoài của tự nhiên do bức xạ nhiệt mặt trời, nhân tạo do từ 
các lò luyện gang thép, các máy động cơ phát nhiệt... Cơ thể cần có một cơ 
chế cân bằng giữa lượng nhiệt sinh ra và hấp thu vào với lượng nhiệt thải ra  
môi trường. Sự trao đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trường bên ngoài bằng 4 con  
đường:[16, 18]
­ Trao đổi nhiệt bằng bức xạ: Bức xạ  nhiệt được phát ra từ  bề  mặt  
các vật thể  cũng như  cơ  thể  con người. Đó là những sóng điện từ   ở  các  
bước sóng khác nhau. Các dạng sóng ngắn như tia Rơnghen, tia gamma, ánh 
sáng nhìn thấy có bước sóng từ 0,4 ­ 0,8 micronmet. Đặc biệt khả năng sinh 
nhiệt cao nhất là tia hồng ngoại có bước sóng dài 0,8 micronmet. Khi nhiệt 
độ  không khí bên ngoài và các vật thể  cao hơn nhiệt độ  cơ  thể  thì con 
người nhận nhiệt vào và ngược lại thì cơ thể mất nhiệt ra môi trường bên 
ngoài.
­ Trao đổi nhiệt bằng dẫn truyền: Sự  trao đổi nhiệt trực tiếp giữa  
phần tiếp xúc của cơ  thể  với vật thể  môi trường xung quanh. Đó là khi 
người ta ngồi hoặc sờ  vào vật thể  nóng hơn nhiệt độ  da của cơ  thể  thì  
người ta nhận nhiệt và ngược lại người ta phải mất nhiệt. 





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status