Luận văn thạc sĩ kinh tế
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ em đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên sâu sắc của nhiều cá nhân, cơ quan và nhà
trường; em xin chân thành cảm ơn các cá nhân, cơ quan và nhà trường đã tạo
điều kiện cho em hoàn thành luận văn này.
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo PGS.TS.
Phạm Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Thủy lợi,
Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và
Quản lý cùng các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý, đã động viên, tạo
mọi điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ cùng
em những khó khăn, động viên và giúp đỡ cho em nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này.
Do những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham
khảo nên thiếu xót và khiếm khuyết là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, em
rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và đồng nghiệp.
Đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà em mong muốn để cố gắng hoàn thiện
hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này.
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày
tháng năm 2012
Người viết luận văn
Luận văn thạc sĩ kinh tế
3
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BLĐTBXH
: Bộ Lao đông thương binh và Xã hội
BXD
: Bộ Xây dựng
BNN&PTNT
: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
KTCTTL
: Khai thác công trình thủy lợi
UBND
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
4
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên bảng
STT
1
2
3
4
Trang
Bảng 1.1: Bảng thống kê các trạm bơm do Công ty
KTCTTL Nam Khánh Hòa quản lý
Bảng 1.2: Bảng thống kê hiện trạng các hồ đập của hệ
thống thuộc Công ty KTCT TL Nam Khánh Hòa quản lý
Bảng 3.1 : Bảng định mức dụng cụ vệ sinh
Luận văn thạc sĩ kinh tế
5
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 7
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: ........................................................ ..7
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI: ...................................................................... 9
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: ...................................... 10
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ........................................................ 11
5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:.................................................................. 11
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CẤP NƯỚC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH
THUỶ LỢI NAM KHÁNH HOÀ ............................................................... 13
1.1. Giới thiệu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Khánh Hoà ....................... 13
1.2. Thực trạng hệ thống công trình thuỷ lợi thuộc công ty KTCTTL Nam
Khánh
Hoà
quản
lý.................................................................................
........Error! Bookmark not defined.
1.3. Tình hình xây dựng và áp dụng định mức cấp nước thô trong công tác
phí
cấp
nước
thô
phục
vụ
công
nghiệp
và
sinh
hoạt.........................Error! Bookmark not defined.
2.7. Tổng hợp định mức chi phí cấp nước thô................................................60
2.8 Kết luận chương 2 .................................... Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CHI PHÍ
CẤP NƯỚC THÔ ÁP DỤNG CHO CÔNG TY KHAI THÁC CÔNG
TRÌNH THỦY LỢI NAM KHÁNH HÒA. ..... Error! Bookmark not defined.
3.1. Phương pháp tính toán xây dựng các định mứcError!
Bookmark
hội hóa nông nghiệp. Tỉnh Khánh Hoà, thành phố Nha Trang và nhân dân đã
đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để xây mới, cải tạo và nâng cấp sửa chữa các công
trình thuỷ lợi phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Trước đây,
nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thuỷ lợi là cấp nước, ngăn mặn, tiêu
thoát nước, … phục vụ sản xuất nông nghiệp. Thực hiện chủ trương công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng và nhà nước, các công trình thuỷ lợi được
đầu tư, điều chỉnh bổ sung ngoài nhiệm vụ cấp nước tưới tiêu cho nông
nghiệp thì các công trình thủy lợi còn có nhiệm vụ cấp nước cho các nhà máy
công nghiệp và nhà máy nước phục vụ sinh hoạt, du lịch, …. Theo Pháp lệnh,
Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc
làm dịch vụ từ công trình thuỷ lợi để phục vụ cho các mục đích không phải
sản xuất nông nghiệp phải nộp tiền nước. Theo Pháp lệnh phí và lệ phí, phí sử
dụng nước (tiền nước) là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi sử dụng
nước từ công trình thuỷ lợi phục vụ cho mục đích phi nông nghiệp, như sản
xuất nước sạch, nuôi trồng thuỷ sản, …. Vì vậy, để đảm bảo cho việc vận
hành công trình thuỷ lợi cho nhiệm vụ công ích này cần thiết phải xác định
các chi phí theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước.
Mặt khác do chưa có hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi
phí trong hoạt động sản xuất, nên hiện nay vấn đề cân đối tài chính trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của các hệ thống thuỷ lợi gặp rất nhiều khó khăn và
luôn rơi vào tình trạng khó khăn trong các quan hệ hợp đồng kinh tế mà
không có căn cứ phân định đúng sai. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng, nguồn
kinh phí thu được của các hệ thống công trình thủy lợi từ cấp nước nông
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
còn gặp rất nhiều khó khăn và luôn rơi vào tình trạng xung đột trong các quan
hệ hợp đồng kinh tế mà không có căn cứ phân định đúng sai. Thực tế này đã
dẫn đến tình trạng, nguồn kinh phí thu được của các hệ thống công trình thủy
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
9
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
lợi từ cấp nước nông nghiệp và các ngành tham gia hưởng lợi không đủ để
duy tu bảo dưỡng và vận hành các công trình của hệ thống cấp nước và các hệ
thống thủy lợi dẫn nước tạo nguồn. Do thiếu kinh phí trong hoạt động vận
hành và duy tu cải tạo, nên các hệ thống thuỷ lợi hiện có ngày một xuống cấp,
đời sống cán bộ công nhân viên của các loại hình doanh nghiệp này ngày
càng khó khăn. Để duy trì hoạt động cầm chừng của các hệ thống này, hàng
năm nhà nước phải cấp bù một khoản ngân sách không nhỏ. Nếu không có
những định hướng đúng trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh, thì mãi
mãi hoạt động của các hệ thống thuỷ lợi vẫn ở trong vòng luẩn quẩn.
Đã đến lúc cần phải vận dụng các biện pháp pháp luật, hành chính, kinh
tế, kỹ thuật và tuyên truyền, giáo dục, ... để giải quyết những mâu thuẫn giữa
cung và cầu và tình trạng tài nguyên nước không đủ so với nhu cầu dùng nước
tăng trưởng tương đối nhanh, giải quyết mâu thuẫn giữa tình trạng môi trường
bị xấu đi, trong khi khả năng xử lí và khắc phục không đầy đủ, giải quyết mâu
thuẫn giữa tình trạng giá nước vẫn còn thu tương đối thấp trong khi phải đầu
nhiên, kinh tế xã hội của một hệ thống công trình cụ thể.
Định mức chi phí cấp nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt là cơ sở
cho Công ty KTCT thuỷ lợi Nam Khánh Hòa tiến hành:
- Quản lý vận hành công trình theo đúng quy trình, quy phạm, quy chế
đảm bảo chất lượng nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt;
- Bố trí, sắp xếp và sử dụng lao động hợp lý, nâng cao năng suất lao
động. Giao khoán cho các cụm thuỷ nông, gắn kết quả với trách nhiệm của
người lao động;
- Lập kế hoạch sản xuất, tài chính và chi phí hàng năm đảm bảo cấp
nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt;
- Thanh quyết toán các khoản mục chi phí theo kết quả sản xuất.
- Định mức còn làm cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà nước giám sát
quá trình quản lý vận hành công trình, đảm bảo chất lượng nước thô theo quy
định và thanh quyết toán chi phí cho doanh nghiệp theo sản lượng nước thô
cấp cho các nhà máy sử dụng nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Formatted: Portuguese (Brazil)
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng định mức
kinh tế kỹ thuật nói chung, phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước
thô ở các hệ thống công trình thuỷ lợi nói riêng.
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
toán chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và
công nghiệp của một hệ thống thuỷ lợi cụ thể.
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
12
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
6. Kết quả dự kiến đạt được
- Tổng hợp đặc điểm hệ thống công trình thuỷ lợi Nam Khánh Hoà do
công ty KTCTTL Nam Khánh Hoà quản lý.
- Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật, từ
đó xây dựng được định mức tổng hợp cho cấp nước phục vụ công nghiệp và
sinh hoạt của Nam Khánh Hoà.
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
13
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
Luận văn thạc sĩ kinh tế
14
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
tại khu vực thành phố Nha Trang mùa mưa chỉ kéo dài trong 2 tháng còn lại là
nắng ấm, rất thuận lợi cho ngành du lịch biển.
1.1.3. Đặc điểm địa hình
Diện tích tự nhiên của Khánh Hoà, cả trên đất liền và hơn 200 đảo và
quần đảo là 5197km2, xếp trung bình so với cả nước. Địa hình của Khánh Hoà
tương đối thấp dần từ Tây sang Đông với những dạng địa hình núi, đồi, đồng
bằng ven biển và biển khơi. Phần phía Tây là sườn đông dãy Trường Sơn, chủ
yếu là núi thấp và đồi, độ dốc lớn và địa hình bị chia cắt mạnh. Tiếp đến là
dạng địa hình núi thấp, đồi thấp xen kẽ bình nguyên và thung lũng, thỉnh
thoảng có núi đá chạy ra sát biển, chia cắt dải đồng bằng nhỏ hẹp, với chiều
dài khoảng 200 km bờ biển khúc khuỷu có điều kiện thuận lợi để hình thành
các cảng nước sâu, nhiều vùng đất rộng thuận lợi để lập khu chế xuất và khu
công nghiệp tập trung. Những đặc điểm địa hình này của Khánh Hoà không
chỉ tạo ra những cảnh quan phong phú và đa dạng vừa mang tính đặc thù của
mỗi tiểu vùng, mang tính đan xen và hoà nhập mà còn có ý nghĩa chiến lược
về mặt quốc phòng, vì tỉnh Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế, có
huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông
ra biển Đông.
1.1.4. Dân số
Theo số liệu thống kê tháng 4/2011, tỉnh Khánh Hòa có 1,156 triệu
người. Với diện tích 5.271km2, mật độ dân số của Khánh Hoà là 222
người/km2, trong đó Nam giới có khoảng 572.412 người (49.48%) và Nữ giới
quanh năm có nhiều bãi tắm đẹp như bãi Trũ, bãi Tre, Bích Đầm, trong đó
khu du lịch Hòn Ngọc Việt (Vinpearl Land) trên đảo Hòn Tre là khu du lịch,
nghỉ mát sang trọng bậc nhất ở Việt Nam.
Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự
nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ
sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Đó là hệ sinh thái đất
ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông,
hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ. Đặc biệt khu vực Hòn Mun
của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô
chiếm 40% san hô trên thế giới.
Trữ lượng hải sản thuộc vùng biển Khánh Hòa ước khoảng 150 nghìn
tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi (70%). Khả năng cho phép hàng năm khai thác
khoảng 70.000 tấn. Ngoài các hải sản như cá, mực và các loại ốc, biển Khánh
Hòa còn là nơi trú ngụ của chim yến, hàng năm cho phép khai thác khoảng
2.000 kg yến sào. Đây là một đặc sản quý mà không phải tỉnh nào trong cả
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
16
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
nước cũng có thể có được, là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế
biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp.
Biển Khánh Hòa còn có ý nghĩa với việc sản xuất muối do nước biển
có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung và
Luận văn thạc sĩ kinh tế
17
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
ra còn phục vụ cho công nghiệp, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản và nước sinh hoạt
của thành phố Nha Trang.
Lưu vực sông Cái Nha Trang (phần trong tỉnh Khánh Hoà) có tổng lượng
dòng chảy vào khoảng 2,078 tỷ m3/năm. Với dân số trong lưu vực này khoảng
546.124 người (Niên giám thống kê năm 2008) thì bình quân đầu người đạt
khoảng 3.804m3/năm, thấp hơn so với trung bình toàn quốc và mức trung bình
của thế giới. Theo sự phân hạng thế giới, nước nào đạt dưới 4.000m3/người/năm
thuộc loại nghèo về nước, như vậy lưu vực sông Cái Nha Trang của chúng ta
thuộc diện nghèo về nước. Tuy nhiên, vấn đề cần đặt ra là tổng lượng dòng
chảy 4 tháng mùa lũ (tháng 9 - 12) chiếm đến 65 - 66 % lượng dòng chảy cả
năm, còn lượng dòng chảy 8 tháng mùa cạn (tháng 01 - 8) chỉ chiếm từ 34 35% lượng dòng chảy cả năm. So sánh với nhu cầu dùng nước, sự phân phối
dòng chảy giữa hai mùa như trên là không đồng đều, rất bất lợi cho sản xuất.
Bởi lẽ, trong khi nhu cầu dùng nước trong các tháng mùa cạn rất cao thì dòng
chảy trên sông nhỏ, trái lại nhu cầu dùng nước trong các tháng mùa lũ không
cao lắm thì phần lớn nước tập trung trong những tháng này. Dĩ nhiên trong
chuỗi số liệu quan trắc nhiều năm cũng có năm xảy ra mưa lũ tiểu mãn vào
các tháng giữa mùa khô, nên đã góp phần làm giảm tình hình khô hạn, thiếu
nước, song tần suất xảy ra khá thấp, lượng dòng chảy nhỏ, chỉ chiếm 3 - 6%
lượng dòng chảy năm.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu
dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp của Khánh Hòa sẽ tăng
lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng. Theo số liệu điều tra năm 2006, tổng
sau:
1.2.1. Hồ đập
Công ty quản lý 16 hồ đập (trong đó 7 hồ chứa và 9 đập dâng), tổng
dung tích hữu ích là 63,194 x 106m3, năng lực thiết kế là: phục vụ tưới cho
vụ đông xuân 7.860 ha lúa, 7.600 ha lúa vụ hè thu; nhưng trong quá trình
quản lý khai thác đến nay thực tế chỉ đạt tưới cho vụ đông xuân 2.690 ha lúa,
2.640 ha lúa vụ hè thu và cấp nước sinh hoạt, dân sinh kinh tế khác; (chi tiết
xem trong bảng 1.1).
1.2.2. Trạm bơm
Công ty quản lý 4 trạm bơm tưới, 32 máy loại 1000 m3/h, theo năng
lực thiết kế các trạm bơm đảm bảo tưới cho 3.861 ha đất canh tác; thực tế đến
nay hiệu quả khai thác đạt 1418,2 ha.
Formatted: Justified, Indent: Left: 0 cm
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
19
Formatted: Font: 14 pt, Portuguese (Brazil)
Formatted: Normal, Justified, Indent: Left:
cm, First line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt,
After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines
số
máy
Lưu
lượng
máy
(m3/h)
Diện tích tưới thiết
Công
kế (ha)
suất 1
Vụ
máy Vụ
Vụ
hè
(kw) đông
mùa
xuân thu
Diện tích tưới thực
tế (ha)
Vụ
đông
xuân
Vụ
hè
thu
55
Cầu Đôi
tưới
22
950
600
33 3261
600
3261
373,2 373,2
790
790
1.2.3. Hệ thống tiêu
Khu vực Công ty KTCTTL Nam Khánh Hoà phụ trách chỉ tiêu úng
bằng các hệ thống tiêu tự chảy bằng hệ thống kênh dẫn tiêu và các công trình
tiêu đầu mối.
1.2.4. Hệ thống kênh tưới
Hệ thống kênh tưới làm nhiệm vụ chuyển tải và điều tiết nước tưới
phục vụ tưới, cấp nước cho 48 đơn vị dùng nước với tổng diện tích 8.120 ha
tưới được nghiệm thu (năm 2011).
phô, cèng, trµn)
(1)
(2)
1 Hồ Đồng Bò
Th«ng sè ®Ëp
DiÖn Dung Dung
ChiÒu
tÝch tÝch h÷u tÝch
Réng
dµi
Ých
chÕt
®Ëp
lưu
®Ëp
(m)
vùc (triÖu (triÖu
(m)
m3)
(km2) m3)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
0,3
77,5
- Đập chính
77,5
- Đập phụ
682
Th«ng sè trµn
ChiÒu
ChiÒu ChiÒu
cao
Sè
dµi
réng Lo¹i
®Ëp cöa trµn trµn trµn
(m)
(m)
(m)
(8)
(9)
(10)
- Tràn phụ
1
60
Tự
do
4 Hồ Cây Sung
7,3
0,44
- Tràn chính
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
0,025
670
10
Lớp: CH17KT
20
T.Dụ
ng
DiÖn tÝch tưới thiÕt
(15)
(16)
(17)
(18)
50
50
20
500
500
300
300
220
220
330
300
Réng
dµi
Ých
chÕt
®Ëp
lưu
®Ëp
(m)
vùc (triÖu (triÖu
(m)
m3)
(km2) m3)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
Th«ng sè trµn
ChiÒu
ChiÒu ChiÒu
cao
Sè
dµi
réng Lo¹i
®Ëp cöa trµn trµn trµn
(m)
(m)
(m)
0
1227
1227
- Tràn chính
3
28
T.Dụ
ng
- Tràn phụ
1
30
Tự
do
1
20
Tự
do
hÌ
thu
40
120
(10)
Vô
®«ng
xu©n
1
5 Hồ Suối Dầu
(9)
DiÖn tÝch tưới thùc tÕ
(ha)
(12)
Tự
do
- Tràn phụ
(8)
- Đập phụ
119,6
45
- Cống Bắc
- Cống Nam
Học viên : Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: CH17KT
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Th«ng sè hå chøa
Tªn hå, ®Ëp
STT (®Ëp chÝnh, ®Ëp
phô, cèng, trµn)
(1)
(2)
Đập dâng Cầu
8 Dừa
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
23
dµi
réng Lo¹i
®Ëp cöa trµn trµn trµn
(m)
(m)
(m)
(8)
(9)
(10)
(11)
(12)
DiÖn tÝch tưới thiÕt
kÕ (ha)
DiÖn tÝch tưới thùc tÕ
(ha)
Vô
®«ng
xu©n
Vô
hÌ
thu
110
60
50
50
2690
2640
56,6
Đập dâng Xuân
9 Đài
18
10 Đập dâng Gò Mè
12
11 Đập dâng Đập Đá
(50)
Đập dâng Bầu
12 Trung
29
140
Lớp: CH17KT
270
7860
760
0
Luận văn thạc sĩ kinh tế
24
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
1.2.5. Thực trạng cấp nước thô cho nhu cầu sản xuất nước sạch phục
vụ sinh hoạt và công nghiệp
Để tiến hành sản xuất nước sạch phục vụ đời sống và sinh hoạt của cộng
đồng dân cư, cũng như cung cấp cho các hoạt động kinh tế khác của con người,
các nhà máy và hệ thống cấp nước sạch chủ yếu lấy nước từ nguồn nước mặt.
Tuy nhiên, đối với các đô thị vùng ven biển, những vùng nước tự nhiên bị ô
nhiễm hoặc không đảm bảo chất lương và nơi xa nguồn nước mặt tự nhiên, thì
các đơn vị này thường phải lấy nước từ hệ thống công trình thuỷ lợi. Nguồn
nước được nguyên liệu lấy vào cho quá trình sản xuất nước sạch chưa qua xử lý
GVHD: PGS.TS. Phạm Hùng
hơn. Mặt khác, môi trường thiên nhiên Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước
thiên tai do các điều kiện địa lý, địa hình của đất nước và vấn đề ô nhiễm xuyên
biên giới. Mặc dù chất lượng nước ở các vùng thượng lưu còn khá tốt, nhưng
các đoạn sông hạ lưu của các con sông chính của nước ta thì chất lượng lại kém.
Hầu hết các hồ, ao, kênh mương trong các khu đô thị đang nhanh chóng trở
thành các bể chứa nước thải. Nước dưới đất cũng đã có hiện tượng ô nhiễm và
nhiễm mặn ở một số nơi. Theo một số nghiên cứu, hiện nay, chỉ khoảng 60%
dân số Việt Nam được cung cấp nước sạch dùng cho sinh hoạt.
Hệ thống lưu vực của một số sông chịu tác động mạnh mẽ và trực tiếp của
các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là các khu công nghiệp, khu khai thác và
chế biến khoáng sản, các đô thị và các điểm dân cư … Chất lượng nước thuộc
lưu vực các sông ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo
động. Trong khi đó, vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường các lưu vực sông còn
nhiều hạn chế, như hệ thống chính sách, quy định, quy chế liên quan đến bảo vệ
môi trường lưu vực sông còn thiếu và chưa đồng bộ; sự phân công trách nhiệm
giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương cũng chưa cụ thể. Hiện nay,
các bộ, ngành, địa phương có liên quan đang tập trung xây dựng các biện pháp
xử lý cụ thể, hoàn thiện thể chế quản lý môi trường lưu vực sông theo hướng
quản lý tổng hợp (bao gồm các biện pháp quản lý, công nghệ phù hợp cho từng
khu vực, cho từng thành phần môi trường)… Đặc biệt là việc chỉ đạo việc xử lý
ô nhiễm môi trường do các cơ sở nằm trên các lưu vực sông gây ra theo “Kế
hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” (được ban
hành kèm theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng
Chính phủ). Tuy nhiên việc quản lý lưu vực sông là công việc không đơn giản
do tính đa dạng, sự khác biệt giữa các khu vực, giữa các tỉnh với nhau về điều
kiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, sự chênh lệch về nhận thức
bảo vệ môi trường của cộng đồng, năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước
về bảo vệ môi trường không đồng đều.