MỞ ĐẦU
Bạch đàn (Eucalyptus) là loài cây bản địa của Australia được trồng
phổ biến trên thế giới với hơn 700 loài khác nhau. Tại Việt Nam, Bạch đàn
cũng là loài cây được trồng khá phổ biến để lấy nguyên liệu, tuy nhiên
thực tế cho thấy các loài cây khác phát triển dưới tán rừng Bạch đàn rất
chậm, đặc biệt là các loài cỏ dại. Đồng thời những nghiên cứu cho thấy có
sự nghèo nàn về tính đa dạng sinh học dưới tán rừng Bạch đàn, đặc biệt là
một số loài côn trùng. Do đó đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau của
các nhà khoa học trong và ngoài nước giải thích về vấn đề này và cho đến
nay các quan điểm đó vẫn chưa thật thống nhất. Trong khi đó Bạch đàn
được biết là loài cây có hàm lượng tinh dầu trong lá khá lớn. Vậy phải
chăng tinh dầu của nó có liên quan đến các vấn đề trên, nó có tác động như
thế nào đối với sinh vật trong hệ sinh thái?. Các tính chất của tinh dầu phụ
thuộc hoàn toàn vào thành phần các chất có mặt trong tinh dầu. Thành
phần, cũng như hàm lượng của các chất trong tinh dầu rất khác nhau giữa
các loài Bạch đàn, tuổi của cây và các điều kiện tự nhiên. Do đó việc thực
hiện đề tài: “Đánh giá đặc tính thành thành phần tinh dầu một số loài
Bạch đàn (Eucalyptus) trồng ở Việt Nam và mối liên hệ của nó với một
số vấn đề sinh thái môi trường điển hình’’ là rất cần thiết, góp phần giải
quyết các vấn đề nêu trên.
Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá vai trò của các chất chính có mặt
trong tinh dầu một số loài Bạch đàn trồng ở Việt Nam đối với môi trường
sinh thái; đồng thời trên cơ sở một số hoạt tính sinh học của các chất sẽ đề
xuất hướng sử dụng các loài Bạch đàn theo hướng thân thiện với môi
trường.
1
Để thực hiện được các mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết
các nội dung chính sau:
đánh giá cao [3].
3
Hiện nay rất nhiều loài đã được đưa trồng ngoài vùng phân bố tự
nhiên của chúng. Nhiều dải rừng Bạch đàn đã được hình thành ở nước ta;
các nước lục địa châu Á; các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Phi, khu
vực Địa Trung Hải và miền Nam châu Âu đến các khu vực Nam và Trung
châu Mỹ [2].
Ở Việt Nam, lần đầu tiên Bạch đàn được Brochet tìm thấy ở Cốc
Lếu tỉnh Lào Cai vào năm 1904 (Hoàng Hòe, 1996). Ngày nay có khoảng
trên 20 loài Bạch đàn đã được trồng ở Việt Nam trong đó Bạch đàn trắng
(Eucalyptus camaldulensis Dehn) được coi như loài có giá trị kinh tế cao,
được trồng rộng rãi ở cả các vùng đất thấp và cao, trừ những đỉnh núi có
độ cao trên 1000 mét so với mực nước biển [10].
Theo Lã Đình Mỡi một số loài Bạch đàn đã được nhập và trồng
tương đối rộng rãi ở Việt Nam như:
Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehnl., 1832. Tên đồng
nghĩa: E. rostrata Sch., 1847). Một vài địa phương khác còn gọi là
Bạch đàn camal, Bạch đàn Úc, Khuynh diệp đỏ;
Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora Hook., 1848). Còn có các
tên đồng nghĩa khác: E. melissiodara Lindley, 1848; E. variegata E.
v. Mueller, 1859; E. maculata Hook. var. citriodora (Hook.) Bailey,
1990; Corymbia citriodora (Hook.). Có nơi ở nước ta còn gọi là
nguyên liệu cho sản xuất giấy, gỗ cho xây dựng. Các giá trị khác vẫn chưa
được nghiên cứu và quan tâm đúng mức.
Gỗ Bạch đàn thuộc loại có tỉ trọng nhẹ hoặc nặng vừa phải, trong
gỗ không có silica, không mùi vị, dễ gia công chế biến. Gỗ Bạch đàn được
sử dụng khá rộng rãi trong xây dựng với cấu trúc nhẹ hoặc nặng trung bình
(khung cửa, trang trí nội thất, làm sàn nhà). Những năm qua gỗ Bạch đàn
được coi là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp giấy sợi [3].
Một đặc điểm quan trọng của loài Bạch đàn là nó thuộc loài cây
chứa tinh dầu. Tinh dầu được chứa trong lá của rất nhiều loài thuộc chi
Bạch đàn. 1,8cineol thường là thành phần chính trong tinh dầu của nhiều
loài Bạch đàn. Đây là một nguyên liệu có giá trị trong công nghiệp dược
phẩm, mỹ phẩm. Tinh dầu của một số loài đã được dùng làm cao xoa, làm
thuốc sát trùng. Nhiều loại tinh dầu lại được dùng làm nguyên liệu để sản
xuất thuốc trừ sâu bệnh thảo mộc [3]. Các loài cung cấp tinh dầu chủ yếu
trong chi Bạch đàn là: Eucalyptus globulus Labil., Eucalyptus polybractea R.
T. Backer, Eucalyptus citriodora Hook... Trung Quốc là nước sản xuất tinh
dầu Bạch đàn lớn nhất, tiếp đến là Bồ Đào Nha, Nam Phi và Tây Ban Nha.
5
Về sinh thái, sinh trưởng và phát triển của Bạch đàn: Hầu hết các
loài thuộc chi Bạch đàn đều thích nghi với điều kiện khí hậu gió mùa. Rất
nhiều loài lại có thể sinh trưởng ở các khu vực có một mùa khô khắc
nghiệt trong năm. Bạch đàn vỏ dày (E. deglupta) là loài duy nhất trong chi
thích nghi với những vùng đất thấp và sinh trưởng tự nhiên trong các kiểu
rừng mưa trên núi thấp. E. deglupta cũng sinh trưởng tốt ở những khu vực
có tổng lượng mưa hàng năm lớn (2500 – 5000 mm). Do đó loài này đã
được đưa trồng rộng rãi ở khắp các khu vực có điều kiện nhiệt đới ẩm.
Thời kỳ 1960 – 1975, một số loài Bạch đàn như Bạch đàn long duyên
vào một chi mới là Corymbia citriodora (Hook) [3].
Bạch đàn có thể nhân giống dễ dàng từ hạt và đôi khi bằng cành
giâm. Hạt nảy mầm trong vòng 4 20 ngày sau khi gieo. Hạt Bạch đàn
thường rất nhỏ và nhiều loại đã trở thành thương phẩm ở Australia. Tại
Thái Lan mỗi năm cũng sản xuất một lượng lớn cho việc gây trồng rừng.
Theo Lã Đình Mỡi Bạch đàn sinh trưởng rất nhanh và chế độ chăm sóc,
quản lý có quan hệ tới mục đích sử dụng. Nếu trồng để lấy nguyên liệu
cho công nghiệp giấy sợi thì có thể thu hoạch ở giai đoạn 6 10 năm tuổi.
Trường hợp để làm gỗ xẻ thì cần trồng thưa và thu hoạch muộn hơn. Hiện
nay việc hái lá để cất tinh dầu thường là tận dụng. Trường hợp hái lá là
chủ yếu thì cần tạo tán sao cho cây thấp, sinh cành nhiều để cho khối
lượng lá lớn [3].
Như vậy nguồn gen của các loài trong chi Bạch đàn là rất phong
phú, đa dạng trong đó nhiều loài có hàm lượng tinh dầu cao, rất có giá trị.
Hiện nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu
đi sâu vào các ứng dụng của tinh dầu Bạch đàn để sản xuất hóa mỹ phẩm
đặc biệt là chế biến thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật. Như vậy tinh
7
dầu Bạch đàn có rất nhiều các tính chất khác nhau, trong đó có các độc tính
chống lại các loài vi sinh vật, côn trùng. Xét ở một khía cạnh khác thì đây
lại là nguyên nhân có thể dẫn tới suy giảm đa dạng sinh học, tác động kìm
hãm sự phát triển của các loài cây dưới tán và có tác động xấu đến môi
trường đất. Việc nghiên cứu một cách thấu đáo về tinh dầu của loài cây
này là cơ sở khoa học rất quan trọng để giải thích các vấn đề đã đặt ra ở
trên.
1.2. Tình hình nghiên cứu về tinh dầu Bạch đàn trên thế giới
Tinh dầu của Bạch đàn đã được biết đến và sử dụng từ hàng trăm
của lá, chế độ phân bón, đồng thời còn phụ thuộc vào phương pháp tách
chiết tinh dầu. Hoạt tính trừ sâu hại của tinh dầu Bạch đàn do các thành
phần như 1,8cineole, citronellal, citronellol, citronellyl acetate, pcymene,
eucamalol, limonene, linalool, pinene, terpinene, terpineol,
alloocimene và aromadendrene (Watanable, 1993; Li, 1995, 1996; Cimanga,
2002; Deke, 2004; Batish., 2006; Liu., 2008) [6]. Các hợp chất chính trong
tinh dầu Bạch đàn với hoạt tính trừ sâu tách chiết từ rất nhiều các loại
Bạch đàn khác nhau cho ở Bảng 1 [6].
Bảng 1. Thành phần chính của tinh dầu tách chiết từ một số
loài Bạch đàn
STT
1
2
3
4
5
6
7
Loài bạch đàn
E. camaldulensis
E. citriodora
E. globulus
E. grandis
E. robusta
E. urophylla
E. urophylla
Thành phần chính
Eucamalol
Các thành phần khác nhau của tinh dầu Bạch đàn có tác dụng bổ trợ
cho các hoạt tính sinh học trừ sâu bệnh (Cimanga et al., 2002). Trong tổng
số các thành phần khác nhau của tinh dầu Bạch đàn thì 1,8cienole là thành
phần quan trọng nhất và là một hợp chất đặc trưng cho chi Bạch đàn
(Duke, 2004).
1.2.2. Hoạt tính kháng nấm và vi khuẩn của tinh dầu Bạch đàn
Theo Fiori và cộng sự, (2000), Oluma và Garba (2004), tinh dầu Bạch
đàn với các thành phần chính của nó có độc tính kháng rất nhiều các loài vi
khuẩn, nấm và cả mầm bệnh ủ trong đất. Chúng làm giảm sự phát triển
của nấm sợi [6]. Một vài nghiên cứu hiệu quả chống nấm của tinh dầu
Bạch đàn được mô tả ở trong Bảng 2.
Năm 2002, Ramezani và cộng sự đã chỉ ra dầu bay hơi của Bạch đàn
chanh với thành phần chính monoterpene citronelle có một phổ hoạt tính
rộng chống nấm, ức chế sự phát triển và có tác dụng làm khô mạch rây
của 6 loại nấm. Gần đây Lee và cộng sự (2007) đã kết luận rằng dầu thơm
10
của Bạch đàn chanh có khả năng kiểm soát được bệnh mốc xám ở táo đến
70%. Các nghiên cứu đã kết luận rằng tinh dầu Bạch đàn có thể được sử
dụng để hạn chế khả năng hô hấp của vi khuẩn [6].
Su và cộng sự (2006) đã chứng minh hoạt tính chống nấm của tinh
dầu một số loài Bạch đàn như E. grandis, E. camaldulensis và E. citriodora
kháng lại nấm Mildew và nấm gây thối ở gỗ như Aspergillus clavatus,
A.niger, Chaetomium alobosum, Penicillium citrinum, Trichoderma viride,...
Theo nghiên cứu này các tác giả cho rằng tinh dầu Bạch đàn chanh có thể là
sự lựa chọn tuyệt vời như một chất bảo quản gỗ, đồ da và vật dụng bằng
gỗ [6]. Tzortzakis (2007) đã chứng minh rằng tinh dầu Bạch đàn xanh là
một sự lựa chọn tốt cho bảo quản dâu tây và cà chua trong suốt quá trình
moniliforme
Microsporum nanum, Trichophyton mentagrophytes Shahi et al
và T.rubrum
(1999)
Sự phát triển và nảy mần của bào tử Didymella Fiori et al,
E. citriodora
bryoniae
(2000)
Làm khô mầm bệnh hại lúa Helminthosporium Ramezani,
oryae và Rhizoctonia solani DC
(2002)
Aspergillus sp, Penicilium sp., Fusarium sp và Alfazairy
Mucor sp.
(2004)
Phytophthora cactorum, Cryphonectria parasitica Lee et al,
E. globulus
và Fusarium cicrinatum
Escherichia coli O157:H1
E. urophylla
(2002)
Bệnh nấm Fusarium oxysporum, Pyricularia Liu
(2008)
Moreira,
Bảng 3. Hoạt tính trừ côn trùng của tinh dầu một số loài Bạch đàn
Loài Bạch đàn
Sinh vật thử nghiệm
Nguồn
Xua đuổi muỗi vằn trưởng thành
Erler et al (2006)
Giết chết loài Callosobruchus, Negahban và
E. camaldulensis
Sitophilus oryzae và Tribolium Moharramipour
E. citriodora
castaneum trưởng thành từ 17 ngày. (2007)
Độc tính chống lại Sitophilus Tinkeu et al. (2004)
zeamais
Giết chết nhộng Musca domestica.
E. globulus
Eucalypstus sp.
Abdel Halim và
Morsy (2005)
Chống lại chấy rận hại da đầu.
Yang et al (2004)
Độc với ấu trùng Aedes aegypti.
quan sát được trong thời kỳ tiếp xúc với tinh dầu. Sau 14 ngày tiếp xúc với
hơi tinh dầu, thực vật đã có những biểu hiện của sự tổn thương được quan
sát như sự úa vàng và chết hoặc sự gây tổn hại đến mô. Tinh dầu của loài
E. citriodora có tính độc hơn loài E. tereticornis và thuộc tính này do sự
khác nhau về cấu tạo hóa học của các hợp chất trong tinh dầu. Nghiên cứu
của Kohli và cộng sự đã kết luận rằng tinh dầu Bạch đàn đang hứa hẹn tốt
cho công tác quản lý cỏ dại. Tuy nhiên các tác giả lại chưa định lượng
được những độc tính của nó đối với các loài thực vật liên đới và các vi sinh
vật. Theo Batish và cộng sự (2004) cho rằng việc xác định tác động của
tinh dầu Bạch đàn tách chiết từ Bạch đàn chanh đối với một số loài cây
trồng như Triticum aestivum, Zea mays, Raphanus sativus và các loài cỏ dại
như Cassia occidentalis, Amaranthus viridis và Echinochloa crusgalli. Cũng
theo nhóm tác giả đã chứng minh tinh dầu đã bộc lộ những độc tính rất rõ
ràng đối với một số loài và ảnh hưởng của tính độc đó rõ hơn đối với sự
nảy mầm của các loài cây nhỏ như A. viridis [6].
1.3. Tình hình nghiên cứu về tinh dầu Bạch đàn ở Việt Nam
14
Hiện nay ở nước ta cây Bạch đàn vẫn là loài cây được trồng chủ yếu
để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và để cung cấp nguồn nguyên liệu cho
công nghiệp giấy và xây dựng, cho nên việc nghiên cứu về loài cây này
phần lớn tập trung vào quá trình trồng và chăm sóc. Tuy nhiên bên cạnh giá
trị về cung cấp gỗ thì tinh dầu trong lá của chúng còn có một số tính chất
rất quý, đặc biệt là loài Bạch đàn chanh là loài có tinh dầu đáng quan tâm
nhất trong chi Bạch đàn ở nước ta. Tinh dầu của nó cũng đã được một số
tác giả quan tâm và nghiên cứu. Theo Lã Đình Mỡi, Bạch đàn không chỉ là
loài cây cung cấp gỗ cho công nghiệp giấy sợi mà còn là nguồn nguyên liệu
lấy tinh dầu cho công nghiệp dược phẩm, hoá mỹ phẩm và công nghiệp
%. Nguyễn Thị Thái Hằng cũng dẫn ra các hợp chất hóa học trong tinh dầu
Bạch đàn trắng và Bạch đàn liễu, tuy nhiên cũng như các tác giả khác trên
thế giới, ở đây tác giả cũng chưa đề cập đến đặc điểm của mẫu lá được
nghiên cứu như về loại lá, tuổi của cây, vị trí địa lý trồng cây và đặc biệt là
phương pháp chưng cất, tách chiết tinh dầu cũng như phương pháp phân
tích. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hằng thì Bạch đàn liễu lá có
0,4 % 2,0 % tinh dầu, trong đó hợp chất chính là 1,8 cineole chiếm từ 40
% 82 %.
Theo Lã Đình Mỡi, chất Citronella được coi là thành phần chủ yếu
trong tinh dầu Bạch đàn chanh. Song Bạch đàn chanh không chỉ đa dạng về
hình thái mà còn đa dạng về hoạt động sinh tổng hợp và tích lũy tinh dầu.
Hàm lượng citronellal biến động rất rộng (từ 1 % đến 91 %). Căn cứ vào
thành phần hóa học chính trong tinh dầu người ta cho rằng ở Australia loài
Bạch đàn chanh có thể gồm bốn dạng hóa học:
Dạng Bạch đàn chanh trong tinh dầu chứa chủ yếu là citronellal
(65 91 %): loại citronellal;
16
Dạng Bạch đàn chanh có các thành phần chính trong tinh dầu gồm
citronellol (khoảng 50 %) và citronellal (1 – 14 %): loại citronellol
và citronellal;
sở khoa học để giải thích các tác động đến môi trường sinh thái của rừng
trồng Bạch đàn ở nước ta và trên thế giới.
1.4. Các phương pháp nghiên cứu chưng cất và phân tích tinh dầu
1.4.1. Các phương pháp chưng cất tinh dầu
1.4.1.1. Phương pháp tẩm trích
Phương pháp tẩm trích bằng dung môi dễ bay hơi có nhiều ưu điểm
vì tiến hành ở nhiệt độ phòng, nên thành phần hóa học của tinh dầu ít bị
thay đổi. Phương pháp này không những được áp dụng để trích ly cô kết từ
hoa mà còn dùng để tận trích khi các phương pháp khác không trích ly hết
hoặc dùng để trích ly các loại nhựa dầu (oleoresin), gia vị.
Nguyên tắc của phương pháp
Dựa trên hiện tượng thẩm thấu, khuếch tán và hòa tan của tinh dầu
có trong các mô cây bằng các dung môi hữu cơ.
Yêu cầu của dung môi
Yếu tố quan trọng nhất cho sự thành công của phương pháp này là
đặc tính của dung môi sử dụng, do đó dung môi dùng trong tẩm trích cần
phải đạt được những yêu cầu sau đây:
+ Hòa tan hoàn toàn và nhanh chóng các cấu phần có mùi thơm trong
nguyên liệu;
+ Hòa tan kém các hợp chất khác như sáp, nhựa dầu có trong nguyên
liệu;
+ Không có tác dụng hóa học với tinh dầu;
+ Không biến chất khi sử dụng lại nhiều lần;
+ Hoàn toàn tinh khiết, không có mùi lạ, không độc, không ăn mòn
thiết bị, không tạo thành hỗn hợp nổ với không khí và có độ nhớt kém;
18
+ Nhiệt độ sôi thấp vì khi chưng cất dung dịch trích ly để thu hồi
pháp cô quay chân không. Dung môi thu hồi có thể dùng để trích ly lần
nguyên liệu kế tiếp.
+ Xử lý sản phẩm trích ly: sau khi thu hồi hoàn toàn dung môi, sản
phẩm là một chất đặc sệt gồm có tinh dầu và một số hợp chất khác như
nhựa, sáp, chất béo, cho nên cần phải tách riêng tinh dầu ra. Chất đặc sệt
này đem đi chưng cất bằng hơi nước để tách riêng tinh dầu ra. Tinh dầu có
mùi thơm tự nhiên, nhưng khối lượng thu được kém, ngoài ra tinh dầu này
có chứa một số cấu phần thơm có nhiệt độ sôi cao nên có tính chất định
hương rất tốt.
+ Tách dung dịch từ bã: sau khi tháo hết dung dịch trích ly ra khỏi hệ
thống, trong bã còn chứa một lượng dung dịch rất lớn (khoảng 20 – 30%
lượng dung môi trích ly). Phần dung dịch còn lại nằm trong nguyên liệu
thường được lấy ra bằng phương pháp chưng cất hơi nước (trường hợp
dung môi không tan trong nước), hoặc ly tâm, lọc ép (trường hợp dung môi
tan trong nước). Sau đó dung dịch này cũng được tách nước, làm khan và
nhập chung với dung dịch trích ly.
Chất lượng thành phẩm và hiệu quả của phương pháp trích ly này
phụ thuộc chủ yếu vào dung môi dùng để trích ly. Để đạt kết quả tốt thì
dung môi sử dụng phải thoả mãn được các yêu cầu đã được trình bày ở
trên.
Vì dung môi dễ bay hơi nên chúng ta cần phải lưu ý đến tỉ lệ thất
thoát dung môi trong quy trình trích ly vì việc này có thể ảnh hưởng rất lớn
đến giá thành sản phẩm.
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, khi muốn tiến hành phương pháp
tẩm trích với dung môi dễ bay hơi thì tiến hành sử dụng phương pháp
20
truyền thống như khuấy từ ở nhiệt độ phòng hoặc đun – khuấy từ (kèm
phần trăm của hỗn hợp, miễn là lúc đó hai pha lỏng vẫn còn tồn tại. Nếu
vẽ đường cong áp suất hơi của từng chất theo nhiệt độ, rồi vẽ đường cong
áp suất hơi tổng cộng, thì ứng với một áp suất, ta dễ dàng suy ra nhiệt độ
sôi tương ứng của hỗn hợp và nhận thấy là nhiệt độ sôi của hỗn hợp luôn
luôn thấp hơn nhiệt độ sôi của từng hợp chất. Thí dụ, ở áp suất 760 mmHg
nước sôi ở 100oC và benzen sôi ở 80oC và chúng là hai chất lỏng không tan
vào nhau. Thực hành cho thấy, nếu đun hỗn hợp này dưới áp suất 760
mmHg nó sẽ sôi ở 69oC cho đến khi nào còn hỗn hợp hai pha lỏng hoà tan
vào nhau với bất kì tỉ lệ nào. Giản đồ nhiệt độ sôi theo áp suất cho thấy,
tại 69oC, áp suất hơi của nước là 225 mmHg và benzen là 535 mmHg.
Chính vì đặc tính làm giảm nhiệt độ sôi này mà từ lâu phương pháp chưng
cất hơi nước là phương pháp đầu tiên dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên
liệu thực vật.
Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước
+ Sự khuếch tán
Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa
tinh dầu bị vỡ và cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn
đi. Phần lớn tinh dầu còn lại trong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề
mặt nguyên liệu bằng sự hòa tan và thẩm thấu. Von Rechenberg đã mô tả
quá trình chưng cất hơi nước như sau: “Ở nhiệt độ nước sôi, một phần
tinh dầu hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực vật. Dung dịch này
sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi. Còn nước
đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị hòa tan
vào lượng nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong
các mô thoát ra ngoài hết.
22
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường
nước phủ kín nguyên liệu nhưng phải chừa một khoảng không gian tương
đối lớn phía bên trên lớp nước để tránh khi nước sôi mạnh làm văng chất
nạp qua hệ thống hoàn lưu. Nhiệt cung cấp có thể đun trực tiếp bằng củi
lửa hoặc bằng hơi nước dẫn từ nồi hơi vào (sử dụng bình có hai lớp đáy).
Trong trường hợp chất nạp quá mịn, lắng chặt xuống đáy nồi, lúc đó nồi
phải trang bị những cánh khuấy trộn đều bên trong trong suốt thời gian
chưng cất. Sự chưng cất này không thích hợp với những tinh dầu dễ bị
thủy phân. Những nguyên liệu xốp và rời rạc rất thích hợp cho phương
pháp này. Những cấu tử có nhiệt độ sôi cao, dễ tan trong nước sẽ khó hóa
hơi trong khối lượng lớn nước phủ đầy, khiến cho tinh dầu sản phẩm sẽ
thiếu những chất này. Thí dụ điển hình là mùi tinh dầu hoa hồng thu được
từ phương pháp chưng cất hơi nước kém hơn sản phẩm tẩm trích vì
eugenol và ancol phenetil nằm lại trong nước khá nhiều, vì thế người ta chỉ
dùng phương pháp này khi không thể sử dụng các phương pháp khác.
Ưu điểm
+ Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản;
+ Thiết bị gọn, dễ chế tạo;
+ Không đòi hỏi vật liệu phụ như các phương pháp tẩm trích, hấp
thụ;
+ Thời gian tương đối nhanh.
Nhược điểm
+ Không có lợi đối với những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu
thấp;
+ Chất lượng tinh dầu có thể bị ảnh hưởng nếu trong tinh dầu có
những cấu phần dễ bị phân hủy;
24
+ Không lấy được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu (đó là