Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Đánh giá đặc tính thành thành phần tinh dầu một số loài Bạch đàn (Eucalyptus) trồng ở Việt Nam và mối liên hệ của nó với một số vấn đề sinh thái môi trường điển - Pdf 59

MỞ ĐẦU
Bạch đàn (Eucalyptus) là loài cây bản địa của Australia được trồng 
phổ biến trên thế giới với hơn 700 loài khác nhau. Tại Việt Nam, Bạch đàn 
cũng là loài cây được trồng khá phổ  biến để  lấy nguyên liệu, tuy nhiên  
thực tế  cho thấy các loài cây khác phát triển dưới tán rừng Bạch đàn rất 
chậm, đặc biệt là các loài cỏ dại. Đồng thời những nghiên cứu cho thấy có 
sự nghèo nàn về tính đa dạng sinh học dưới tán rừng Bạch đàn, đặc biệt là  
một số loài côn trùng. Do đó đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau của 
các nhà khoa học trong và ngoài nước giải thích về vấn đề này và cho đến  
nay các quan điểm đó vẫn chưa thật thống nhất. Trong khi đó Bạch đàn 
được biết là loài cây có hàm lượng tinh dầu trong lá khá lớn. Vậy phải 
chăng tinh dầu của nó có liên quan đến các vấn đề trên, nó có tác động như 
thế nào đối với sinh vật trong hệ sinh thái?. Các tính chất của tinh dầu phụ 
thuộc hoàn toàn vào thành phần các chất có mặt trong tinh dầu. Thành 
phần, cũng như  hàm lượng của các chất trong tinh dầu rất khác nhau giữa 
các loài Bạch đàn, tuổi của cây và các điều kiện tự nhiên. Do đó việc thực 
hiện đề  tài: “Đánh giá đặc tính thành thành phần tinh dầu một số  loài  
Bạch đàn (Eucalyptus) trồng ở Việt Nam và mối liên hệ của nó với một  
số vấn đề sinh thái môi trường điển hình’’ là rất cần thiết, góp phần giải 
quyết các vấn đề nêu trên.
Mục  tiêu của đề tài nhằm đánh giá vai trò của các chất chính có mặt 
trong tinh dầu một số loài Bạch đàn trồng ở Việt Nam đối với môi  trường 
sinh thái; đồng thời trên cơ sở một số hoạt tính sinh học của các chất sẽ đề 
xuất hướng sử  dụng các loài Bạch  đàn theo hướng  thân thiện với môi 
trường. 

1


Để  thực hiện được các mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết 
các nội dung chính sau:

đánh giá cao [3].

3


Hiện nay rất nhiều loài đã được đưa trồng ngoài vùng phân bố  tự 
nhiên của chúng. Nhiều dải rừng Bạch đàn đã được hình thành  ở nước ta; 
các nước lục địa châu Á; các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Phi, khu  
vực Địa Trung Hải và miền Nam châu Âu đến các khu vực Nam và Trung 
châu Mỹ [2].
Ở  Việt Nam, lần đầu tiên Bạch đàn được Brochet tìm thấy  ở  Cốc  
Lếu tỉnh Lào Cai vào năm 1904 (Hoàng Hòe, 1996). Ngày nay có khoảng 
trên 20 loài Bạch đàn đã được trồng  ở  Việt Nam trong đó Bạch đàn trắng  
(Eucalyptus camaldulensis  Dehn) được coi như  loài có giá trị  kinh tế  cao, 
được trồng rộng rãi  ở  cả  các vùng đất thấp và cao, trừ  những đỉnh núi có  
độ cao trên 1000 mét so với mực nước biển [10].
Theo Lã Đình Mỡi  một số  loài Bạch đàn đã được nhập và trồng 
tương đối rộng rãi ở Việt Nam  như: 
­

Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehnl., 1832. Tên đồng 
nghĩa: E. rostrata Sch., 1847). Một vài địa phương khác còn gọi là 
Bạch đàn camal, Bạch đàn Úc, Khuynh diệp đỏ;

­

Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora  Hook., 1848). Còn có các 
tên đồng nghĩa khác: E. melissiodara Lindley, 1848; E. variegata E. 
v. Mueller, 1859; E. maculata Hook. var. citriodora (Hook.) Bailey, 
1990; Corymbia citriodora (Hook.). Có nơi  ở  nước ta còn gọi  là 

nguyên liệu cho sản xuất giấy, gỗ cho xây dựng. Các giá trị khác vẫn chưa  
được nghiên cứu và quan tâm đúng mức.
Gỗ  Bạch đàn thuộc loại có tỉ   trọng nhẹ  hoặc nặng vừa phải, trong  
gỗ không có silica, không mùi vị, dễ gia công chế biến. Gỗ Bạch đàn được  
sử dụng khá rộng rãi trong xây dựng với cấu trúc nhẹ hoặc nặng trung bình 
(khung cửa, trang trí nội thất, làm sàn nhà). Những năm qua gỗ  Bạch đàn 
được coi là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp giấy sợi [3].
Một đặc điểm quan trọng của loài Bạch đàn là nó thuộc loài cây 
chứa tinh dầu. Tinh dầu được chứa trong lá của rất nhiều loài thuộc chi 
Bạch đàn. 1,8­cineol thường là thành phần chính trong tinh dầu của nhiều 
loài Bạch đàn. Đây là một nguyên liệu có giá trị  trong công nghiệp dược 
phẩm, mỹ phẩm. Tinh dầu của một số loài đã được dùng làm cao xoa, làm  
thuốc sát trùng. Nhiều loại tinh dầu lại được dùng làm nguyên liệu để sản  
xuất thuốc trừ sâu bệnh thảo mộc [3]. Các loài cung cấp tinh dầu chủ yếu 
trong chi Bạch đàn là: Eucalyptus globulus Labil., Eucalyptus polybractea R. 
T. Backer, Eucalyptus citriodora Hook... Trung Quốc là nước sản xuất tinh 
dầu Bạch đàn lớn nhất, tiếp đến là Bồ Đào Nha, Nam Phi và Tây Ban Nha.

5


Về  sinh thái, sinh trưởng  và phát triển của Bạch đàn: Hầu hết các  
loài thuộc chi Bạch đàn đều thích  nghi với điều kiện khí hậu gió mùa. Rất  
nhiều loài lại có thể  sinh trưởng  ở  các khu vực có một mùa khô khắc 
nghiệt trong năm. Bạch đàn vỏ dày  (E. deglupta) là loài duy nhất trong chi 
thích nghi với những vùng đất thấp và sinh trưởng tự nhiên trong các kiểu 
rừng mưa trên núi thấp. E. deglupta cũng sinh trưởng tốt  ở những khu vực 
có tổng lượng mưa hàng năm lớn (2500 – 5000 mm). Do đó loài này đã  
được đưa trồng rộng rãi ở khắp các khu vực có điều kiện nhiệt đới ẩm.
Thời kỳ 1960 – 1975, một số loài Bạch đàn như Bạch đàn long duyên 

vào một chi mới là Corymbia citriodora (Hook) [3].
Bạch đàn có thể  nhân giống dễ  dàng từ  hạt và đôi khi bằng cành 
giâm. Hạt nảy mầm trong vòng 4 ­ 20 ngày sau khi gieo. Hạt Bạch đàn  
thường rất nhỏ  và nhiều loại đã trở  thành thương phẩm  ở  Australia. Tại  
Thái Lan mỗi năm cũng sản xuất một lượng lớn cho việc gây trồng rừng.  
Theo Lã Đình Mỡi Bạch đàn sinh trưởng rất nhanh và chế  độ  chăm sóc, 
quản lý có quan hệ  tới mục đích sử  dụng. Nếu trồng để  lấy nguyên liệu 
cho công nghiệp giấy sợi thì có thể thu hoạch ở giai đoạn 6 ­ 10 năm tuổi. 
Trường hợp để làm gỗ xẻ thì cần trồng thưa và thu hoạch muộn hơn. Hiện  
nay việc hái lá để  cất tinh dầu thường là tận dụng. Trường hợp hái lá là 
chủ  yếu thì cần tạo tán sao cho cây thấp, sinh cành nhiều để  cho khối  
lượng lá lớn [3].
Như  vậy nguồn gen của các loài trong chi Bạch đàn là rất   phong  
phú, đa dạng trong đó nhiều loài có hàm lượng tinh dầu cao, rất có giá trị. 
Hiện nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu  
đi sâu vào các ứng dụng của tinh dầu Bạch đàn để sản xuất hóa mỹ phẩm  
đặc biệt là chế  biến thuốc trừ  sâu có nguồn  gốc thực vật. Như  vậy tinh 

7


dầu Bạch đàn có rất nhiều các tính chất khác nhau, trong đó có các độc tính 
chống lại các loài vi sinh vật, côn trùng. Xét  ở  một khía cạnh khác thì đây 
lại là nguyên nhân có thể dẫn tới suy giảm đa dạng sinh học, tác động kìm  
hãm sự  phát triển của các loài cây dưới tán và có tác động xấu đến môi 
trường đất. Việc nghiên cứu một cách thấu đáo về  tinh dầu của loài cây 
này là cơ  sở  khoa học rất quan trọng để  giải thích các vấn đề  đã đặt ra ở 
trên.
1.2. Tình hình nghiên cứu về tinh dầu Bạch đàn trên thế giới
Tinh dầu của Bạch đàn đã được biết đến và sử  dụng từ  hàng trăm 

của lá, chế  độ  phân bón, đồng thời còn phụ  thuộc vào phương pháp tách 
chiết tinh dầu. Hoạt tính trừ  sâu hại của tinh dầu Bạch đàn do các thành  
phần như  1,8­cineole, citronellal, citronellol, citronellyl acetate, p­cymene,  
eucamalol,   limonene,   linalool,   ­pinene,   ­terpinene,   ­terpineol, 
alloocimene và aromadendrene (Watanable, 1993; Li, 1995, 1996; Cimanga, 
2002; Deke, 2004; Batish., 2006; Liu., 2008) [6]. Các hợp chất chính trong 
tinh dầu Bạch đàn với hoạt tính trừ  sâu tách chiết từ  rất nhiều các loại  
Bạch đàn khác nhau cho ở Bảng 1 [6].
Bảng 1. Thành phần chính của tinh dầu tách chiết từ một số 
loài Bạch đàn
STT
1
2
3
4
5
6
7

Loài bạch đàn
E. camaldulensis
E. citriodora
E. globulus
E. grandis
E. robusta
E. urophylla
E. urophylla

Thành phần chính
Eucamalol

Các thành phần khác nhau của tinh dầu Bạch đàn có tác dụng bổ trợ 
cho các hoạt tính sinh học trừ sâu bệnh (Cimanga et al., 2002). Trong tổng  
số các thành phần khác nhau của tinh dầu Bạch đàn thì 1,8­cienole là thành 
phần quan trọng nhất  và là một hợp chất  đặc trưng cho chi Bạch  đàn  
(Duke, 2004).
1.2.2. Hoạt tính kháng nấm và vi khuẩn của tinh dầu Bạch đàn
Theo Fiori và cộng sự, (2000), Oluma và Garba (2004), tinh dầu Bạch  
đàn với các thành phần chính của nó có độc tính kháng rất nhiều các loài vi 
khuẩn, nấm và cả  mầm bệnh  ủ  trong đất. Chúng làm giảm sự  phát triển  
của nấm sợi [6]. Một vài nghiên cứu hiệu quả  chống nấm của tinh dầu  
Bạch đàn được mô tả ở trong Bảng 2.
Năm 2002, Ramezani và cộng sự đã chỉ ra dầu bay hơi của Bạch đàn 
chanh với thành phần chính monoterpene citronelle có một phổ  hoạt tính 
rộng  chống nấm,  ức chế  sự  phát triển và có tác dụng làm khô mạch rây 
của 6 loại nấm. Gần đây Lee và cộng sự (2007) đã kết luận rằng dầu thơm 

10


của Bạch đàn chanh có khả năng kiểm soát được bệnh mốc xám ở táo đến  
70%. Các  nghiên cứu đã kết luận rằng tinh dầu Bạch đàn có thể  được sử 
dụng để hạn chế khả năng hô hấp của vi khuẩn [6].
Su và cộng sự  (2006) đã chứng minh hoạt tính chống nấm của tinh 
dầu một số loài Bạch đàn như  E. grandis, E. camaldulensis và E. citriodora 
kháng lại nấm  Mildew  và nấm gây thối  ở  gỗ  như   Aspergillus clavatus,  
A.niger, Chaetomium alobosum, Penicillium citrinum, Trichoderma viride,...  
Theo nghiên cứu này các tác giả cho rằng tinh dầu Bạch đàn chanh có thể là 
sự lựa chọn tuyệt vời như một chất bảo quản gỗ, đồ da và vật dụng bằng 
gỗ  [6].  Tzortzakis (2007) đã chứng minh rằng tinh dầu Bạch đàn xanh là  
một sự  lựa chọn tốt cho bảo quản dâu tây và cà chua trong suốt quá trình 

moniliforme
Microsporum nanum, Trichophyton mentagrophytes   Shahi   et   al 
và T.rubrum
(1999)
Sự  phát triển và nảy mần của bào tử  Didymella  Fiori   et   al, 

E. citriodora

bryoniae
(2000)
Làm   khô   mầm   bệnh   hại   lúa  Helminthosporium  Ramezani, 
oryae và Rhizoctonia solani DC
(2002)
Aspergillus  sp,  Penicilium  sp.,  Fusarium  sp   và  Alfazairy 
Mucor sp.
(2004)
Phytophthora   cactorum,   Cryphonectria   parasitica   Lee   et   al, 

E. globulus

và Fusarium cicrinatum
Escherichia coli O157:H1

E. urophylla

(2002)
Bệnh   nấm  Fusarium   oxysporum,   Pyricularia   Liu  

(2008)
Moreira, 

Bảng 3. Hoạt tính trừ côn trùng của tinh dầu một số loài Bạch đàn
Loài Bạch đàn

Sinh vật thử nghiệm
Nguồn 
Xua đuổi muỗi vằn trưởng thành
Erler et al (2006)
Giết   chết   loài  Callosobruchus,   Negahban   và 

E. camaldulensis

Sitophilus   oryzae  và  Tribolium  Moharramipour 

E. citriodora

castaneum trưởng thành từ 1­7 ngày. (2007)
Độc   tính   chống   lại  Sitophilus  Tinkeu et al. (2004)
zeamais
Giết chết nhộng  Musca domestica.

E. globulus

Eucalypstus sp.

Abdel   Halim   và 

Morsy (2005)
Chống lại chấy rận hại da đầu.
Yang et al (2004)
Độc với ấu trùng Aedes aegypti.

quan sát được trong thời kỳ tiếp xúc với tinh dầu. Sau 14 ngày tiếp xúc với  
hơi tinh dầu, thực vật đã có những biểu hiện của sự tổn thương được quan 
sát như sự úa vàng và chết hoặc sự gây tổn hại đến mô. Tinh dầu của loài  
E. citriodora  có tính độc hơn loài  E. tereticornis  và thuộc tính này do sự 
khác nhau về cấu tạo hóa học của các hợp chất trong tinh dầu. Nghiên cứu 
của Kohli và cộng sự đã kết luận rằng tinh dầu Bạch đàn đang hứa hẹn tốt 
cho công tác quản lý cỏ  dại. Tuy nhiên các tác giả  lại chưa định lượng  
được những độc tính của nó đối với các loài thực vật liên đới và các vi sinh 
vật. Theo Batish và cộng sự  (2004) cho rằng việc xác định tác động của 
tinh dầu Bạch đàn  tách chiết từ  Bạch đàn chanh đối với một số  loài cây 
trồng như  Triticum aestivum, Zea mays, Raphanus sativus và các loài cỏ dại 
như Cassia occidentalis, Amaranthus viridis và Echinochloa crus­galli. Cũng 
theo nhóm tác giả đã chứng minh tinh dầu đã bộc lộ  những độc tính rất rõ 
ràng đối với một số  loài và  ảnh hưởng của tính độc đó rõ hơn đối với sự 
nảy mầm của các loài cây nhỏ như A. viridis [6].
1.3. Tình hình nghiên cứu về tinh dầu Bạch đàn ở Việt Nam

14


Hiện nay ở nước ta cây Bạch đàn vẫn là loài cây được trồng chủ yếu  
để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và để cung cấp nguồn nguyên liệu cho 
công nghiệp giấy và xây dựng, cho nên việc nghiên cứu về  loài cây này 
phần lớn tập trung vào quá trình trồng và chăm sóc. Tuy nhiên bên cạnh giá 
trị về  cung cấp gỗ thì tinh dầu trong lá của chúng còn có một số  tính chất 
rất quý, đặc biệt là loài Bạch đàn chanh là loài có tinh dầu đáng quan tâm  
nhất trong chi Bạch đàn ở nước ta. Tinh dầu của nó cũng đã được một số 
tác giả quan tâm và nghiên cứu. Theo Lã Đình Mỡi, Bạch đàn không chỉ  là  
loài cây cung cấp gỗ cho công nghiệp giấy sợi mà còn là nguồn nguyên liệu 
lấy tinh dầu cho công nghiệp dược phẩm, hoá mỹ  phẩm và công nghiệp  

%. Nguyễn Thị Thái Hằng cũng dẫn ra các hợp chất hóa học trong tinh dầu 
Bạch đàn trắng và Bạch đàn liễu, tuy nhiên cũng như các tác giả khác trên  
thế  giới,  ở  đây tác giả  cũng chưa đề  cập đến đặc điểm của mẫu lá được 
nghiên cứu như về loại lá, tuổi của cây, vị trí địa lý trồng cây và đặc biệt là 
phương pháp chưng cất, tách chiết tinh dầu cũng như  phương pháp phân 
tích. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị  Thái Hằng thì Bạch đàn liễu lá có 
0,4 % ­ 2,0 % tinh dầu, trong đó hợp chất chính là 1,8­ cineole chiếm từ 40  
% ­ 82 %.
Theo Lã Đình Mỡi, chất Citronella được coi là thành phần chủ  yếu 
trong tinh dầu Bạch đàn chanh. Song Bạch đàn chanh không chỉ đa dạng về 
hình thái mà còn đa dạng về  hoạt động sinh tổng hợp và tích lũy tinh dầu.  
Hàm lượng citronellal biến động rất rộng (từ  1 % đến 91 %). Căn cứ  vào 
thành phần hóa học chính trong tinh dầu người ta cho rằng  ở Australia loài 
Bạch đàn chanh có thể gồm bốn dạng hóa học:
­

Dạng Bạch đàn chanh trong tinh dầu chứa chủ  yếu là citronellal 
(65 ­ 91 %): loại citronellal;

16


­

Dạng Bạch đàn chanh có các thành phần chính trong tinh dầu gồm 
citronellol (khoảng 50 %) và citronellal (1 – 14 %): loại citronellol  
và citronellal;

­


sở  khoa học để  giải thích các tác động đến môi trường sinh thái của rừng  
trồng Bạch đàn ở nước ta và trên thế giới.
1.4.  Các phương pháp nghiên cứu chưng cất và phân tích tinh dầu 
1.4.1. Các phương pháp chưng cất tinh dầu 
1.4.1.1.  Phương pháp tẩm trích 
Phương pháp tẩm trích bằng dung môi dễ bay hơi có nhiều ưu điểm  
vì tiến hành  ở  nhiệt độ  phòng, nên thành phần hóa học của tinh dầu ít bị 
thay đổi. Phương pháp này không những được áp dụng để trích ly cô kết từ 
hoa mà còn dùng để  tận trích khi các phương pháp khác không trích ly hết 
hoặc dùng để trích ly các loại nhựa dầu (oleoresin), gia vị.
­ Nguyên tắc của phương pháp
Dựa trên hiện tượng thẩm thấu, khuếch tán và hòa tan của tinh dầu 
có trong các mô cây bằng các dung môi hữu cơ.
­ Yêu cầu của dung môi
Yếu tố  quan trọng nhất cho sự  thành công của phương pháp này là 
đặc tính của dung môi sử  dụng, do đó dung môi dùng trong tẩm trích cần 
phải đạt được những yêu cầu sau đây:
+ Hòa tan hoàn toàn và nhanh chóng các cấu phần có mùi thơm trong  
nguyên liệu;
+ Hòa tan kém các hợp chất khác như sáp, nhựa dầu có trong nguyên 
liệu;
+ Không có tác dụng hóa học với tinh dầu;
+ Không biến chất khi sử dụng lại nhiều lần;
+ Hoàn toàn tinh khiết, không có mùi lạ, không độc, không ăn mòn 
thiết bị, không tạo thành hỗn hợp nổ với không khí và có độ nhớt kém;

18


+ Nhiệt độ  sôi thấp vì khi chưng cất dung dịch trích ly để  thu hồi 

pháp cô quay chân không. Dung môi thu hồi có thể  dùng để  trích ly lần 
nguyên liệu kế tiếp.
+ Xử  lý sản phẩm trích ly: sau khi thu hồi hoàn toàn dung môi, sản  
phẩm là một chất đặc sệt gồm có tinh dầu và một số  hợp chất khác như 
nhựa, sáp, chất béo, cho nên cần phải tách riêng tinh dầu ra. Chất đặc sệt 
này đem đi chưng cất bằng hơi nước để tách riêng tinh dầu ra. Tinh dầu có 
mùi thơm tự nhiên, nhưng khối lượng thu được kém, ngoài ra tinh dầu này 
có chứa một số  cấu phần thơm có nhiệt độ  sôi cao nên có tính chất định 
hương rất tốt. 
+ Tách dung dịch từ bã: sau khi tháo hết dung dịch trích ly ra khỏi hệ 
thống, trong bã còn chứa một lượng dung dịch rất lớn (khoảng 20 – 30%  
lượng dung môi trích ly). Phần dung dịch còn lại nằm trong nguyên liệu 
thường được lấy ra bằng phương pháp chưng cất hơi nước (trường hợp  
dung môi không tan trong nước), hoặc ly tâm, lọc ép (trường hợp dung môi 
tan trong nước). Sau đó dung dịch này cũng được tách nước, làm khan và  
nhập chung với dung dịch trích ly. 
Chất lượng thành phẩm và hiệu quả  của phương pháp trích ly này 
phụ  thuộc chủ  yếu vào dung môi dùng để  trích ly. Để  đạt kết quả  tốt thì 
dung môi sử  dụng phải thoả  mãn được các yêu cầu đã được trình bày  ở 
trên.
Vì dung môi dễ  bay hơi nên chúng ta cần phải lưu ý đến tỉ  lệ  thất 
thoát dung môi trong quy trình trích ly vì việc này có thể ảnh hưởng rất lớn 
đến giá thành sản phẩm.
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, khi muốn tiến hành phương pháp 
tẩm trích với dung môi dễ  bay hơi thì tiến hành sử  dụng phương pháp 

20


truyền thống như  khuấy từ   ở  nhiệt độ  phòng hoặc đun – khuấy từ  (kèm 

phần trăm của hỗn hợp, miễn là lúc đó hai pha lỏng vẫn còn tồn tại. Nếu  
vẽ đường cong áp suất hơi của từng chất theo nhiệt độ, rồi vẽ đường cong 
áp suất hơi tổng cộng, thì ứng với một áp suất, ta dễ dàng suy ra nhiệt độ 
sôi tương ứng của hỗn hợp và nhận thấy là nhiệt độ sôi của hỗn hợp luôn  
luôn thấp hơn nhiệt độ sôi của từng hợp chất. Thí dụ, ở áp suất 760 mmHg 
nước sôi ở 100oC và benzen sôi ở 80oC và chúng là hai chất lỏng không tan 
vào nhau. Thực hành cho thấy, nếu đun hỗn hợp này dưới áp suất 760  
mmHg nó sẽ  sôi ở 69oC cho đến khi nào còn hỗn hợp hai pha lỏng hoà tan 
vào nhau với bất kì tỉ  lệ  nào. Giản đồ  nhiệt độ  sôi theo áp suất cho thấy, 
tại 69oC, áp suất hơi của nước  là 225 mmHg và benzen là 535 mmHg. 
Chính vì đặc tính làm giảm nhiệt độ sôi này mà từ lâu phương pháp chưng  
cất hơi nước là phương pháp đầu tiên dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên 
liệu thực vật.
­  Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước
+ Sự khuếch tán
Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ  vụn thì chỉ  có một số  mô chứa 
tinh dầu bị  vỡ và cho tinh dầu thoát tự  do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn  
đi. Phần lớn tinh dầu còn lại trong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề 
mặt nguyên liệu bằng sự  hòa tan và thẩm thấu. Von Rechenberg đã mô tả 
quá trình chưng cất hơi nước như  sau: “Ở  nhiệt độ  nước sôi, một phần  
tinh dầu hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực vật. Dung dịch này 
sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi. Còn nước 
đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị hòa tan 
vào lượng nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong 
các mô thoát ra ngoài hết. 

22


Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường  

nước phủ kín nguyên liệu nhưng phải chừa một khoảng không gian tương  
đối lớn phía bên trên lớp nước để  tránh khi nước sôi mạnh làm văng chất 
nạp qua hệ  thống hoàn lưu. Nhiệt cung cấp có thể  đun trực tiếp bằng củi  
lửa hoặc bằng hơi nước dẫn từ nồi hơi vào (sử dụng bình có hai lớp đáy).  
Trong trường hợp chất nạp quá mịn, lắng chặt xuống đáy nồi, lúc đó nồi  
phải trang bị  những cánh khuấy trộn đều bên trong trong suốt thời gian 
chưng cất. Sự  chưng cất này không thích hợp với những tinh dầu dễ  bị 
thủy phân. Những nguyên liệu xốp và rời rạc rất thích hợp cho phương 
pháp này. Những cấu tử có nhiệt độ  sôi cao, dễ tan trong nước sẽ khó hóa 
hơi trong khối lượng lớn nước phủ đầy, khiến cho tinh dầu sản phẩm sẽ 
thiếu những chất này. Thí dụ điển hình là mùi tinh dầu hoa hồng thu được  
từ   phương   pháp   chưng   cất   hơi   nước   kém   hơn   sản   phẩm   tẩm   trích   vì 
eugenol và ancol phenetil nằm lại trong nước khá nhiều, vì thế người ta chỉ 
dùng phương pháp này khi không thể sử dụng các phương pháp khác.
­  Ưu điểm
+ Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản;
+ Thiết bị gọn, dễ chế tạo;
+ Không đòi hỏi vật liệu phụ  như  các phương pháp tẩm trích, hấp 
thụ;
+ Thời gian tương đối nhanh.
  ­ Nhược điểm
+ Không có lợi đối với những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu 
thấp;
+ Chất lượng tinh dầu có thể  bị   ảnh hưởng nếu trong tinh dầu có 
những cấu phần dễ bị phân hủy;

24


+ Không lấy được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu (đó là 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status