1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận án
Mở rộng, đa dạng hóa quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác là
một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện chính sách kinh tế đối
ngoại của Đảng và Nhà nước. Chiến lược Phát triển kinh tếxã hội 20112020
được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra định
hướng: “Đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả các thị trường
có hiệp định thương mại tự do và thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu…”.
Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 20112020, định hướng đến năm
2030 được ban hành tại Quyết định số 2471/QĐTTg ngày 28/12/2011. Chiến
lược đã đề ra định hướng phát triển thị trường, trong đó nhấn mạnh cần phải “đa
dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam
tại thị trường truyền thống; tạo bước đột phá mở rộng các thị trường xuất khẩu
mới có tiềm năng”. Đối với thị trường Châu Phi, Chiến lược đề ra định hướng tới
năm 2020 sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Để thực hiện, cụ thể hóa các chủ trương, sách lược của Đảng và Nhà nước ta
trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thế
giới có nhiều biến động, Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc vào một số ít thị
trường, tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó chú trọng các thị trường
mới như thị trường Châu Phi. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc
tế diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh, giành giật thị trường đang diễn ra gay gắt đòi
hỏi phải có những nghiên cứu thường xuyên cập nhật, chi tiết về thị trường Châu
Phi. Châu Phi là một thị trường rộng lớn với 55 quốc gia. Mỗi quốc gia, khu vực
thị trường đều mang những đặc điểm thị trường có tính đặc thù riêng, vì vậy rất
cần phải có những nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu từng thị trường và khu vực thị
trường.
Trong số các tổ chức kinh tế khu vực của Châu Phi, Liên minh thuế quan miền
Nam châu Phi (SACU) là tổ chức kinh tế khu vực thành công nhất của châu Phi và
là đầu tầu tăng trưởng kinh tế của cả châu lục. SACU được thành lập từ năm
1910 và là Liên minh thuế quan được thành lập sớm nhất trên thế giới. Hiện nay
hướng phát triển và các giải pháp về thể chế và thực thể kinh doanh thương mại
trong phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
Tổng quan các công trình khoa học đã thực hiện liên quan đến việc phát triển
quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU , những vấn đề đã được
nghiên cứu, xác định những vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc nghiên cứu chưa
sâu để tập trung nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quan hệ thương mại quốc tế nói chung
và quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các nước trong một liên minh thuế
quan.
Phân tích, đánh giá chính sách thương mại và các giải pháp đã được triển khai
nhằm phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong SACU;
phân tích, đánh giá thực trạng trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước
trong SACU để tổng kết những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của quan hệ
thương mại giữa Việt Nam và trong các nước SACU.
Phân tích triển vọng phát triển, đề xuất các quan điểm, định hướng và kiến
nghị một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các
nước trong SACU đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận án:
Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và các nước SACU.
* Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận về phát triển quan hệ
thương mại giữa các quốc gia; Nghiên cứu thực tiễn triển khai các chính sách
thương mại và biện pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các
nước SACU và đề xuất các giải pháp phát triển hơn nữa mối quan hệ này.
Thời gian nghiên cứu: Thực trạng phát triển quan hệ thương mại, trong đó
nước SACU, trong đó có các giải pháp đẩy mạnh trao đổi thương mại hàng hóa giữa
hai bên, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường và nâng cao
khả năng cạnh tranh của các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường các
nước SACU.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
* Các nghiên cứu ở nước ngoài
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan về các
nước SACU như: Colin Mc Carthy The Southern African Customs Union (Liên
minh thuế quan miền Nam châu Phi); Gerhard Erasmus New SACU Institutions:
Prospects for Regional Integration (Các định chế mới của SACU – Triển vọng cho
hội nhập khu vực); Carine Zamay Kiala The Politics of Trade in the Southern
African Customs Union: Prospect of a SACUChina Free Trade Agreement (Vấn đề
thương mại của SACU – Triển vọng của Hiệp định thương mại tự do SACU
Trung Quốc); Debesh Bhowmik Regional Integration in Africa: a case study of
SACU (Hội nhập khu vực ở châu Phi: nghiên cứu trường hợp của SACU); WTO
Trade Policy Review of the Southern African Customs Union (Rà soát chính sách
thương mại của SACU); Sukati Mphumuzi The Economic Partnership
Agreements (EPAs) and the Southern African Customs Union (SACU) Region – The
Case for South Africa (Hiệp định đối tác kinh tế và các nước SACU – Trường hợp
của Nam Phi).
Các nghiên cứu nêu trên đã cho thấy quá trình hình thành và phát triển của khối
SACU; sự phát triển kinh tế, chính sách thương mại của các nước SACU và quan hệ
4
thương mại của các nước trong SACU và với một số đối tác thương mại trên thế
giới.
Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên không có nghiên cứu nào đề cập trực tiếp
tới quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trong SACU.
* Các nghiên cứu ở trong nước
dịch vụ, hoạt động đầu tư giữa các quốc gia hoặc lãnh thổ.
Lý thuyết thương mại cổ điển bắt đầu với những quan điểm của chủ nghĩa
trọng thương, tiếp đó là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lý thuyết về
lợi thế so sánh của David Ricardo và lý thuyết về chi phí cơ hội và đường giới
hạn khả năng sản xuất của Gotfried Haberler.
Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều học giả và các nhà nghiên cứu kinh tế đã
đưa ra nhiều quan điểm và học thuyết quan trọng nhằm chỉ ra và tìm cách bổ
sung, hoàn thiện hơn các lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế. Các học
5
thuyết này được gọi là học thuyết hiện đại về thương mại quốc tế, bao gồm các
học thuyết nổi bật là lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố của Heckcher – Ohlin, l ý
thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter, l ý thuyết về vòng đời quốc
tế của sản phẩm của Raymond Vernon, lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu.
1.1.1.2. Lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống các quy định, công cụ và biện
pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại
quốc tế của quốc gia trong những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu
đã xác định.
Mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia trong từng giai
đoạn có thể khác nhau, nhưng đều hướng đến mục tiêu chung khai thác triệt để
các lợi thế so sánh của đất nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát
triển, nâng cao lợi thế cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế.
Lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế (còn gọi là chính sách ngoại
thương) là lý thuyết về sự can thiệp của chính phủ một nước nhằm đạt được mục
đích nào đó về thương mại quốc tế. Nội dung nghiên cứu chính sách thương mại
quốc tế gồm có lý luận về chính sách thương mại tự do và lý luận về chính sách
bảo hộ thương mại. Lý luận này nhấn mạnh sự phân tích quan điểm chính sách,
mục tiêu chính sách, các công cụ và biện pháp chính sách, phương thức, loại hình và
Thứ nhất, liên minh thuế quan vừa có hiệu ứng gia tăng thương mại trong nội
bộ liên minh, vừa có hiệu ứng chuyển hướng thương mại.
Thứ hai, lợi ích kinh tế của liên minh thuế quan được quyết định bởi mức độ
chênh lệch của thuế suất thuế quan và mức độ trùng lặp (hoặc tương đồng) của
sản phẩm xuất nhập khẩu của các nước thành viên trước khi thành lập liên minh.
Thứ ba, việc xây dựng liên minh thuế quan còn có thể sinh ra “hiệu ứng kinh
tế động thái” đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước thành
viên, chủ yếu biểu hiện ở các khía cạnh: (i) thông qua việc loại bỏ thuế quan
giữa các nước thành viên, mở rộng buôn bán nội bộ có thể đem lại lợi thế kinh tế
qui mô, việc mở rộng thị trường xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có
năng suất tương đối cao trong các nước thành viên thực hiện hiệu quả kinh tế của
sản xuất đại qui mô; (ii) nội bộ liên minh thực hành tự do hóa thương mại sẽ gia
tăng mạnh mẽ mức độ cạnh tranh hữu hiệu của thị trường, kích thích tăng thêm
đầu tư và khai thác kỹ thuật mới, thúc đẩy việc phân bổ tài nguyên hợp lý , đẩy
mạnh nâng cao năng suất lao động; (iii) cùng với việc làm cho các nước thành viên
được cạnh tranh với bên ngoài nhờ hàng rào thuế quan đối ngoại chung của liên
minh thuế quan, cũng có thể tạo ra hiệu quả tiêu cực là tạo nên các doanh nghiệp
lạc hậu, gia tăng sức ỳ nội bộ, làm chậm sự phát triển kinh tế của bản thân liên
minh thuế quan.
1.2. Nội dung, hình thức, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến
sự phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia và các nước trong một
liên minh thuế quan
1.2.1. Nội dung và hình thức phát triển quan hệ thương mại
Về cơ bản, việc phát triển quan hệ thương mại được tiến hành ở hai cấp độ
là cấp độ thể chế thương mại và cấp độ thực thể thương mại.
Ở cấp độ thể chế, thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của quốc gia
và các thực thể công được hiểu là các quan hệ quốc tế ở cấp độ chính sách
thương mại, ví dụ, chính sách thuế quan và phi thuế quan, chính sách thương mại
tấn công hoặc phòng vệ, chính sách hội nhập kinh tế… của một quốc gia; hoặc
sự lựa chọn hội nhập ở cấp độ toàn cầu, khu vực, song phương hoặc đơn phương
tranh chấp về thương mại giữa các bên.
Ở cấp độ thực thể thương mại, sự phát triển quan hệ thương mại giữa một
quốc gia và các nước trong một liên minh thuế quan được đánh giá bằng các chỉ
tiêu định lượng cụ thể, bao gồm: i) Kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu;
ii) Cán cân thương mại; iii) Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu; iv) Cơ cấu
thị trường xuất khẩu, nhập khẩu; v) Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ thương mại
1.2.4.1. Các nhân tố khách quan
Các cường quốc kinh tế vừa là đầu tầu, vừa giữ vai trò chi phối các quan hệ
thương mại quốc tế. Bên cạnh các nền kinh tế đã phát triển như Hoa Kỳ, EU,
Nhật Bản… thì vai trò của các nền kinh tế mới nổi như các nước khối BRICS
(gồm Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) cũng ngày càng được khẳng
định.
Các công ty đa quốc gia chi phối hầu hết nền kinh tế thế giới nói chung và
quan hệ thương mại quốc tế nói riêng.
Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia phải phát triển quan
hệ quốc tế và tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Xu thế tự do hóa thương mại với sự dỡ bỏ dần các rào cản thương mại và
hình thành các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế (các
luật lệ của WTO) đòi hỏi các quốc gia phải tuân thủ một luật chơi chung.
1.2.4.2. Các nhân tố chủ quan
Việc các Nhà nước lựa chọn chiến lược, xây dựng và triển khai thực hiện
các chính sách thương mại phù hợp là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc
phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia. Trong trường hợp một liên minh
thuế quan thì đòi hỏi cần có sự đồng thuận của các quốc gia thành viên trong việc
lựa chọn chiến lược và chính sách thương mại cho cả khối cũng như vai trò điều
phối của cơ quan thường trực hoặc quốc gia có vai trò chi phối ở trong khối.
Điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế các nước là nhân tố vật chất
có tính quyết định để thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các quốc gia, góp phần
giúp các quốc gia phát huy tối đa lợi thế so sánh của mình.
Để thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các nước SACU và Trung Quốc, ngay sau
khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, Nam Phi và cùng với đó là các thành viên
khác của SACU đã công nhận Trung Quốc là nước có nền kinh tế thị trường (trong
khi theo thỏa thuận đàm phán gia nhập WTO thì nước này sẽ được công nhận có nền
kinh tế thị trường vào năm 2015). Năm 2004, ông Jacob Zuma, khi đó là Phó Tổng
thống Nam Phi, tuyên bố rằng SACU sẽ xem xét khả năng đàm phán FTA với Trung
Quốc. Hiện nay, hai bên đang tiến hành các nghiên cứu về việc tiến hành đàm phán
hiệp định này.
Ở cấp độ thực thể thương mại, các doanh nghiệp Trung Quốc, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhà nước, được khuyến khích và được hỗ trợ trong việc xuất khẩu
sang thị trường Châu Phi. Hiện có khoảng 700 doanh nghiệp nhà nước của Trung
Quốc có hoạt động xuất khẩu sang châu Phi và chiếm tỷ trọng lớn so với các loại
hình doanh nghiệp khác vì các doanh nghiệp này có nguồn vốn lớn và nhận được
nhiều sự hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc.
Về phía các doanh nghiệp Trung Quốc, bên cạnh sự hỗ trợ và tạo điều kiện
của Chính phủ, họ đã luôn quan tâm đầu tư đang dạng hoá ngành hàng xuất khẩu
và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm, chú trọng nghiên cứu thị trường để sản
xuất ra các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường châu Phi.
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ở cấp độ thể chế, Chính phủ Ấn Độ đã đưa ra nhiều sáng kiến nhằm thúc
đẩy quan hệ thương mại với châu Phi, trong đó chú trọng việc tạo điều kiện và
hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Phi.
9
Với các nước SACU, Ấn Độ và các nước SACU đã tiến hành đàm phán từ năm
2002 và dự kiến sẽ sớm ký kết Hiệp định ưu đãi thương mại (PTA) nhằm giảm
thuế cho các mặt hàng xuất nhập khẩu của hai bên.
Ấn Độ cũng đã cung cấp tín dụng xuất khẩu cho các nước SACU, trong đó
dành cho Namibia 100 triệu USD và tăng thêm 100 triệu USD năm 2013; các doanh
Thứ ba, về phía các doanh nghiệp, cần hết sức nỗ lực trong việc thâm nhập thị
trường các nước SACU, cần nghiên cứu kỹ nhu cầu và thị hiếu của thị trường để
tạo ra được những sản phẩm phù hợp, có sức cạnh tranh về chất lượng và giá
thành. Đồng thời, để tiếp cận thị trường các nước SACU nói riêng và Châu Phi
nói chung cần phải kiên trì, linh hoạt và mềm dẻo do thị trường các nước này có
tính thay đổi cao và ít tính nhất quán.
1.3.2.2. Những bài học không thành công cần tránh
Bên cạnh những thành công đạt được, Trung Quốc và Ấn Độ cũng gặp phải
một số khó khăn trong việc phát triển quan hệ thương mại với các nước SACU.
Đối với Trung Quốc, việc các doanh nghiệp Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng giá rẻ, có chất lượng không cao sang thị trường các nước SACU đã làm giảm
10
uy tín của hàng hóa Trung Quốc tại thị trường này. Đồng thời, việc xuất khẩu sản
phẩm dệt may và giày dép sang thị trường Nam Phi tăng quá nhanh, tác động tiêu
cực đến các ngành sản xuất các mặt hàng này của Nam Phi đã dẫn đến việc Nam
Phi áp đặt hạn ngạch đối với việc nhập khẩu các mặt hàng này từ Trung Quốc.
Đối với Ấn Độ, mặc dù đã tiến hành đàm phán PTA với các nước SACU từ
năm 2002 nhưng do thiếu quyết tâm chính trị và sự linh hoạt trong đàm phán của
Ấn Độ nên đến nay hiệp định này vẫn chưa được ký kết. Điều này đã làm giảm
khả năng tiếp cận thị trường SACU một cách thuận lợi cho các doanh nghiệp Ấn
Độ.
Đây là những bài học cần phải được nghiên cứu, xem xét để khắc phục và
tránh bị lặp lại trong việc phát triển quan hệ thương mại với các nước SACU.
* Kết luận Chương 1:
Qua nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia và các nước trong một liên minh
thuế quan, chương 1 của luận án đã đạt được kết quả và những đóng góp sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về thương mại quốc tế từ các
11
quan thuế chung; (iv) gia tăng các cơ hội đầu tư trong khu vực quan thuế chung;
(v) tăng cường phát triển kinh tê, đa dạng hóa, công nghiệp hóa và tính cạnh tranh
của các quốc gia thành viên; (vi) thúc đẩy hội nhập của các thành viên vào nền
kinh tế toàn cầu thông qua tăng cường thương mại và đầu tư; (vii) tạo thuận lợi
cho việc phân phối công bằng nguồn thu từ thuế hải quan và thuế tiêu thụ đặc
biệt của các quốc gia thành viên; và (viii) tạo thuận lợi cho việc phát triển các
chính sách và chiến lược chung.
2.1.1.2. Kinh tế các nước SACU
Khái quát chung
Các nước SACU có tổng diện tích là 2,7 triệu km2 và dân số năm 2012 là 56,3
triệu người, trong đó Nam Phi chiếm đến 86,4%.
Kể từ 2002, nền kinh tế của các nước SACU tăng trưởng trung bình hàng năm
ở mức 45%. Tăng trưởng kinh tế ở một số nước bị hạn chế bởi cơ sở hạ tầng
kém phát triển, thiếu điện, sản lượng khai khoáng biến động, tỷ giá hối đoái thay
đổi và tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Quy mô GDP của cả khối năm 2012 đạt 423 tỉ USD trong đó Nam Phi chiếm
tới 92,1% GDP của toàn khối và là quốc gia có tiếng nói rất quan trọng và sức
ảnh hưởng tới mọi hoạt động của Liên minh.
Về cơ cấu kinh tế của SACU năm 2012, khu vực dịch vụ chiếm tới 64,0%,
công nghiệp là 32,% và nông nghiệp là 2,6%.
Quá trình hội nhập kinh tế khu vực trong khuôn khổ SACU đã giúp cho kinh tế
các nước thành viên SACU phát triển tương đối ổn định kể từ năm 2002, khi Hiệp
định mới của SACU được kí kết.
Tuy nhiên, năm thành viên của SACU – Botswana, Lesotho, Namibia, Nam Phi
và Swaziland tiếp tục cho thấy sự khác biệt lớn về mức độ và trình độ phát triển
kinh tế. Botswana và Nam Phi được xếp là các nước có thu nhập trung bình ở mức
cao, trong khi Namibia và Swaziland là các nước có thu nhập trung bình ở mức
thấp, thì Lesotho lại là nước kém phát triển. Tuy nhiên, các nước SACU đều cùng
phải đối mặt với một số thách thức như thất nghiệp, bất bình đẳng thu nhập,
Các nước trong khối SACU là thành viên của một liên minh thuế quan. Các
chính sách thương mại nội khối tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc trao đổi
thương mại giữa các nước trong khối. Việc thâm nhập vào một thị trường cũng là
cánh cửa dẫn tới thị trường các nước thành viên khác.
Các nước SACU có nhu cầu về các loại hàng hoá đa dạng về chủng loại và
đòi hỏi chất lượng không cao, trước hết là nhu cầu về các loại máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu để phục vụ phát triển kinh tế. Tiếp đó là nhu cầu về lương thực
thực phẩm, hàng tiêu dùng phục vụ đời sống nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh
dân số các nước này đang tăng với tốc độ rất nhanh.
Nhu cầu và cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của các nước trong SACU rất phong
phú đa dạng với nhiều phẩm cấp chất lượng . Một bộ phận người dân các nước
SACU như người da trắng ở Nam Phi, Botswana và Namibia có thu nhập khá cao
nên có nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm có chất lượng cao như ở các nước phát
triển. Bên cạnh đó, mức thu nhập đa số người dân các nước SACU vẫn còn thấp,
yêu cầu về chất lượng hàng hóa không quá khắt khe.
Ngược lại, các nước SACU có nhiều mặt hàng nguyên liệu xuất khẩu như
quặng kim loại, khoáng sản, nhiên liệu…
Do trình độ phát triển và quy mô hơn hẳn các nước thành viên còn lại, Nam
Phi giữa vai trò chi phối trong hoạt động của cả liên minh thuế quan và các doanh
nghiệp Nam Phi cũng chi phối hầu hết các hoạt động kinh tế trong liên minh thuế
quan.
Ngoài Nam Phi và Botswana, các nước thành viên còn lại trong SACU là những
nước đang và kém phát triển do đó cơ sở hạ tầng và môi trường pháp lý yếu kém,
còn nhiều bất cập và đang trong quá trình hoàn thiện vì vậy chưa tạo ra được môi
trường thực sự thuận lợi cho hoạt động thương mại phát triển.
2.1.2. Chính sách thương mại của SACU đối với Việt Nam
2.1.2.1. Khái quát về chính sách thương mại của SACU
Hiệp định SACU năm 2002 đã nêu ra việc hợp tác về thuế quan để tạo thuận
lợi và hài hòa hóa các văn bản và thủ tục liên quan đến thương mại; hài hòa hóa
tiêu các tiêu chuẩn về sản phẩm và kỹ thuật. Tuy nhiên, riêng với các quy định về
chuyển trong nội khối được miễn thuế hải quan nhưng vẫn phải chịu sự giám sát Hải
quan.
Các quốc gia thành viên SACU đều có qui định về quy tắc xuất xứ ưu đãi và
không ưu đãi. Các quy tắc xuất xứ đối với hàng hoá không ưu đãi được qui định
tại Luật thuế Hải quan và thuế tiêu thụ đặc biệt tại mỗi quốc gia thành viên, mô
phỏng theo luật của Nam Phi.
Đối với quy định về tiêu chuẩn và kỹ thuật,
theo Hiệp định SACU 2002, các nước SACU sẽ thúc đẩy việc hài hòa hóa các quy
định về tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm, các biện pháp SPS. Tuy nhiên, đến
nay các nước SACU chưa thống nhất được vấn đề này. Các nước Lesotho và
Namibia áp dụng quy định của Nam Phi trong khi Botswana va Swaziland áp dụng
các quy định riêng.
Đối với hàng hóa xuất khẩu, một số nước SACU áp dụng thuế xuất khẩu
(Namibia và Nam Phi áp dụng với kim cương thô, Swaziland áp dụng với đường).
Botswana duy trì độc quyền xuất khẩu thị bò.
2.1.2.2. Chính sách thương mại đối với Việt Nam
Chính sách phát triển quan hệ thương mại của SACU đối với Việt Nam nằm
chung trong chính sách phát triển quan hệ thương mại của SACU với các nước
đang phát triển và các nước Châu Á.
Đối với các nước Châu Á, các nước SACU có mong muốn tăng cường trao đổi
thương mại với các nước Châu Á nói chung và nhất là với các nước có nền kinh
tế tăng trưởng nhanh như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN. Riêng với các
nước ASEAN, các nước SACU đã từng đề xuất tiến hành nghiên cứu chung về
việc đám phán hiệp định ưu đãi thương mại giữa các nước SACU và ASEAN.
Đối với riêng Việt Nam, trong khuôn khổ WTO, các nước SACU đã thể hiện sự
ủng hộ đối với nỗ lực đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam thông qua việc không
14
yêu cầu đàm phán riêng với Việt Nam. Bên cạnh đó, ngay sau khi Việt Nam đã gia
Trong “Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 2010” của Chính
phủ đã nêu ra yêu cầu phải: “Tìm kiếm các thị trường mới ở châu Mỹ La tinh, Châu
Phi”.
Với định hướng này, một sự kiện rất có ý nghĩa trong quan hệ giữa Việt Nam
với châu Phi đó là việc tổ chức “Hội thảo Việt NamChâu Phi: cơ hội hợp tác
và phát triển trong thế kỷ 21” tại Hà Nội năm 2003. Hội thảo thực sự đã đánh
một dấu mốc mới quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước Châu Phi.
Đây là lần đầu tiên Việt Nam tổ chức một cuộc Hội thảo quốc tế về hợp tác giữa
Việt Nam và các nước Châu Phi. Hội thảo đã góp phần tăng cường hiểu biết và làm
thay đổi cách nhìn nhận của các bên về khả năng, lợi ích và triển vọng hợp tác Việt
NamChâu Phi.
Cùng với việc tổ chức Hội thảo, năm 2004 Chính phủ đã xây dựng và ban hành
Chương trình hành động quốc gia thúc đẩy quan hệ Việt NamChâu Phi giai
đoạn 20042010. Về thương mại, Chính phủ đặt ra mục tiêu đưa kim ngạch xuất
15
nhập khẩu Việt Nam – châu Phi đạt 1 tỷ USD vào năm 2010, trong đó xuất khẩu
đạt 700 triệu USD.
Triển khai Chương trình hành động quốc gia thúc đẩy quan hệ Việt Nam
Châu Phi giai đoạn 2004 2010 của Chính phủ, trong lĩnh vực kinh tế thương
mại, Bộ Công Thương đã ban hành Chương trình hành động nhằm thực hiện
Chương trình hành động quốc gia thúc đẩy quan hệ Việt Nam Châu Phi.
Tiếp đó, năm 2010, Bộ Công Thương đã ban hành đề án “Phát huy khả năng
của các doanh nghiệp xuất khẩu tổng hợp trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang
thị trường Châu Phi” nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh lâu dài với thị
trường châu Phi
Để tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với các nước
Châu Phi, tháng 10 năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã tổ chức Hội thảo Quốc tế
Việt Nam – Châu Phi lần 2.
Nam Phi và Namibia. Như vậy, sau khi gia nhập WTO, ta đã được hưởng ưu đãi
MFN với tất cả các thành việc của SACU.
16
Thiết lập các cơ quan đại diện hỗ trợ cho việc phát triển quan hệ thương
mại:
Nhận thức được tính cần thiết của việc mở rộng các Đại sứ quán và các Thương
vụ, Việt Nam đã thành lập cơ quan Thương vụ năm 1999 và thành lập Đại sứ quán năm
2000 tại Nam Phi. Hiện nay, các cơ quan này chịu trách nhiệm về địa bàn các nước
SACU.
Về phía các nước SACU, Nam Phi mở Đại sứ quán tại Hà Nội năm 2002, Lãnh
sự danh dự tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009.
Tăng cường triển khai công tác xúc tiến thương mại ở cấp độ quốc gia để
hỗ trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp:
Triển khai Chương trình hành động hành động Việt Nam Châu Phi, Việt Nam đã
lập Diễn đàn doanh nghiệp Việt NamChâu Phi (27/10/2004). Bên cạnh đó, Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng đã xây dựng được cổng thương
mại điện tử Việt Nam Châu Phi (chính thức đi vào hoạt động tháng 9/2005).
Từ năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã thông qua Chương trình xúc tiến
thương mại trọng điểm quốc gia. Tính đến nay, hàng năm đều có các đề án
chương trình xúc tiến thương mại quốc gia được tổ chức tại Nam Phi, hỗ trợ cho
hàng trăm doanh nghiệp tham gia. Tuy nhiên, ngoài Nam Phi, chưa có các chương
trình được tổ chức tại các nước SACU khác.
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến thương mại, Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam cũng chú trọng đến công tác nghiên cứu, tìm hiểu
thị trường.
2.3.2. Phát triển quan hệ thương mại ở cấp độ thực thể
2.3.2.1. Về kim ngạch trao đổi thương mại hàng hóa
Trao đổi thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với các nước SACU chỉ được
bình là 24,2%/năm trong giai đoạn 20072014.
Tỷ trọng trao đổi thương mại với SACU trong tổng trao đổi thương mại Việt
Nam – châu Phi năm 2007 là 22,1%, đạt mức cao nhất là 44,3% năm 2011 và năm 2014
là 21,2%. Tính chung cho cả thời kỳ 20072014, tỷ lệ này là 26,2%. Điều này cho thấy
vai trò quan trọng của thị trường các nước SACU đối với Việt Nam ở châu Phi.
Trong tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam, trao đổi thương mại với
các nước SACU chiếm 0,2% năm 2007, đạt mức cao nhất là 1,04% năm 2011 và
năm 2014 là 0,34%. Tính chung cho cả thời kỳ 20072014, thì tỉ lệ này là 0,43%.
Về cán cân thương mại, từ năm 2007 đến nay, Việt Nam luôn ở thế xuất siêu
sang thị trường khu vực này.
Trong giai đoạn từ 20072014, xuất khẩu của Việt Nam sang các nước SACU
tăng từ 125,2 triệu USD năm 2007 lên 814,4 triệu USD năm 2014. Tốc độ tăng
trưởng trung bình trong thời kỳ này là 30,7%/năm.
Xuất khẩu sang các nước SACU đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu của
Việt Nam sang châu Phi, chiếm 18,3% năm 2007, đạt mức cao nhất là 53,1% năm
2011 và năm 2014 là 26,3%. Tính chung cho cả thời kỳ 20072014, xuất khẩu sang
các nước SACU chiếm 30,5% xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Phi.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, xuất khẩu sang SACU năm
2007 chiếm 0,26%, đạt mức cao nhất là 1,93% năm 2011 và năm 2014 là 0,54%.
Tính chung cho cả thời kỳ 20072014 thì tỉ lệ này là 0,72%.
Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các nước SACU tăng
từ 97,2 triệu USD năm 2007 lên 200,1 triệu USD năm 2014. Tốc độ tăng trưởng
trung bình trong thời kỳ 20022014 là 10,8%.
Nhập khẩu từ các nước SACU chiếm tới 30% nhập khẩu từ châu Phi năm 2007,
nhưng đến năm 2014 tỉ lệ này chỉ là 11,8% và tính chung cho cả thời kỳ 20072014 là
16,6%.
2.3.2.2. Về thị trường và mặt hàng xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu
bị sản xuất đường, phân bón, giấy, sản phẩm sắt thép…
Trong thời kỳ 20022012, các nhóm hàng Việt Nam nhập khẩu từ SACU phân
theo SITC là lương thực và động vật sống, nguyên liệu thô, hóa chất và các mặt
hàng công nghiệp chế biến. Trong đó, nhóm hàng lương thực và động vật sống và
nhóm nguyên liệu thô có xu hướng tăng, trong khi nhóm hàng hóa chất và các mặt
hàng công nghiệp chế biến có xu hướng giảm.
2.3.2.4. Quan hệ thương mại dịch vụ và đầu tư
Quan hệ trên các lĩnh vực dịch vụ và đầu tư giữa Việt Nam với các nước
SACU còn ở mức thấp và chủ yếu mới có quan hệ giữa Việt Nam và Nam Phi.
Một số ngân hàng của Việt Nam đã lập quan hệ đại lý với một số ngân hàng
của Nam Phi.
Về du lịch, Nam Phi là nước có số du khách đến Việt Nam đông nhất so với
các nước Châu Phi khác, hàng năm có khoảng từ 1.0002.000 người đến Việt
Nam. Các công ty du lịch Việt Nam cũng đã triển khai nhiều chương trình du lịch
tại Nam Phi, với số khách hàng năm hiện nay đạt khoảng 5.000 người.
Về đầu tư, Nam Phi mới chỉ có một dự án nhỏ đầu tư trực tiếp tại Việt Nam
và Việt Nam cũng mới có hai dự án nhỏ đầu tư tại Nam Phi.
19
Trong khi đó, cho tới nay đã có một số công ty Việt Nam mở chi nhánh tại Nam Phi.
Quan hệ hợp tác song phương về sở hữu trí tuệ chưa được thiết lập.
2.4. Đánh giá chung về thực trạng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và các nước SACU
2.4.1. Những thành quả đạt được
Việt Nam đã ban hành được một số chính sách, giải pháp phát triển quan hệ
thương mại với các nước châu Phi, trong đó có các nước SACU.
Việt Nam đã bước đầu thiết lập một số cơ chế hợp tác và khuôn khổ pháp lý
nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa Việt Nam với các nước
SACU.
Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, chi phí vận tải cao, làm tăng giá cả, giảm sức cạnh tranh của hàng
hóa. Thứ hai, Việt Nam không phải là đối tác ưu tiên trong chính sách phát triển
quan hệ thương mại của các nước SACU với các quốc gia trên thế giới. Thứ ba,
trừ Nam Phi, các nước khác trong SACU có quy mô rất nhỏ do đó việc gia tăng số
20
lượng hàng và kim ngạch xuất khẩu tương đối khó khăn do tính hiệu quả kinh tế
còn hạn chế. Thứ tư, đại đa số người dân các nước SACU có thu nhập thấp, nên
mặc dù nhu cầu tiêu dùng lớn nhưng khả năng chi trả có hạn. Thứ năm, Việt Nam
đang chịu sự cạnh tranh rất lớn trên thị trường này.
Nguyên nhân chủ quan:
* Về phía Nhà nước: Thứ nhất, các cơ quan quản lý Nhà nước chưa chú trọng
việc đề xuất, xây dựng các chính sách phát triển quan hệ kinh tế, thương mại
riêng biệt, cụ thể đối với thị trường các nước SACU. Thứ hai, Việt Nam chưa
quan tâm chú trọng đề xuất, đàm phán để xây dựng các cơ chế hợp tác và khuôn
khổ pháp lý nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa Việt Nam với cả
khối SACU và các nước thành viên… Thứ ba, sự hỗ trợ của Nhà nước đối với các
hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp trong việc thúc đẩy phát triển quan hệ
thương mại với các nước SACU còn rất hạn chế. Chưa có nhiều các ưu tiên hỗ
trợ trong các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia đối với các thị trường
khó khăn, xa xôi như thị trường các nước SACU.
* Về phía các hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp, :
Thứ nhất, các hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp Việt Nam ít tổ chức
các đoàn doanh nghiệp, khảo sát thị trường và tìm hiểu cơ hội hợp tác thương mại
với các nước SACU. Thứ hai, thông tin về thị trường các nước SACU lại rất
thiếu, ít được cập nhật. Thứ ba, các hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường
các quốc gia khu vực SACU chưa được quan tâm chú ý. Thứ tư, năng lực cạnh
tranh của bản thân doanh nghiệp nước ta còn yếu. Thứ năm, các doanh nghiệp
SACU
3.1.1. Triển vọng hội nhập kinh tế khu vực của SACU
Các nghiên cứu về hội nhập khu vực trên thế giới đều cho thấy rằng ý chí
chính trị là yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình hội nhập sâu rộng và có hiệu
quả. Điều này đã được nguyên thủ của các nước SACU thể hiện qua tuyên bố về
nghị trình 12 điểm tại Hội nghị thượng đỉnh SACU năm 2010, bao gồm: Tăng
cường năng lực của Ban thư ký; Xây dựng chính sách và thủ tục cần thiết để hoàn
thành việc thiết lập các cơ quan của Liên minh; Đảm bảo rằng việc xây dựng các
chính sách công nghiệp, nông nghiệp, cạnh tranh, thương mại không lành mạnh và
các ưu tiên khác nêu trong Hiệp định SACU 2002 được triển khai thực hiện; Xây
dựng chính sách thương mại và thuế quan, chiến lược thương mại hỗ trợ cho quá
trình công nghiệp của SACU; Phát triển các sáng kiến thúc đẩy thương mại nội
khối; Nghiên cứu việc tài trợ cho các dự án liên quốc gia; Cân nhắc việc xem xét
lại Hiệp định SACU 2002; Phát triển quan điểm của SACU về các vấn đề của
thế hệ tương lại, tính đến các đàm phán hiện tại; Xác định lộ trình để tiến đến
một Cộng đồng kinh tế và Liên minh tiền tệ; Xem xét việc phân chia Quỹ thu
nhập chung; Định vị SACU ở vị trí trung tâm trong hội nhập kinh tế khu vực.
Sự thành công của SACU cũng sẽ thúc đẩy sự liên kết khu vực sâu hơn của
SADC, từ một khu vực thương mại tự do trở thành một liên minh thuế quan với
các nước SACU là thành viên chủ chốt.
Ở quy mô lớn hơn, các nước SACU với tư cách là thành viên của SADC sẽ
tham gia Khu vực Thương mại Tự do Tam khối (The Tripartite Free Trade Area
TFTA), còn được gọi là Vùng Thương mại Tự do từ Cape Town đến Cairo (Cape
to Cairo Free Trade Zone) bao gồm 26 nước thành viên của 3 khối thương mại
Đông Phi (EAC), Đông Nam Phi (COMESA) và Nam Phi (SADC).
3.1.2. Triển vọng phát triển kinh tế của các nước SACU
Trong bối cảnh tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và khó khăn, thách
thức của mỗi nền kinh tế, sự phát triển kinh tế của các nước SACU sẽ phụ thuộc
vào hiệu quả của sự phối hợp chính sách giữa các nước thành viên nhằm tạo ra
một thị trường khu vực thống nhất và thúc đẩy tăng trưởng dựa vào xuất khẩu.
nguyên liệu, nhiên liệu thiết yếu phục vụ cho quá trình sản xuất ở trong nước.
Cùng với các cơ hội trong thương mại hàng hóa thì với các chính sách thu hút
đầu tư của các nước SACU, Việt Nam cũng có cơ hội để đầu tư vào các nước
SACU, nhất là trong các lĩnh vực có thế mạnh của Việt Nam như viễn thông; nuôi
trồng , đánh bắt và chế biến thủy sản; chế biến gỗ… Ngược lại, Việt Nam cũng
có thể thu hút đầu tư từ Nam Phi vào các lĩnh vực như khai thác khoáng sản, du
lịch, trồng và chế biến gỗ…
3.1.3.2. Thách thức
Các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của các nước SACU vẫn tiềm ẩn nhiều
nguy cơ bất ổn sẽ tạo ra những khó khăn không nhỏ cho việc phát triển quan hệ
thương mại của Việt Nam với các quốc gia này. Sự mất ổn định về chính trị, kinh
tế, xã hội sẽ làm cho môi trường kinh doanh ở các nước SACU có khả năng xấu
đi và rủi ro trong hoạt động thương mại và đầu tư tăng lên.
Khi thâm nhập thị trường các nước SACU, Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với
Nam Phi và các nước châu Á khác. Với trình độ phát triển khá cao, các doanh nghiệp
Nam Phi sẽ là những đối thủ cạnh tranh đầu tiên khi các doanh nghiệp Việt Nam
thâm nhập thị trường các nước SACU. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh gay gắt của các
nước khu vực châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan… vốn có cơ cấu
xuất khẩu tương đồng với Việt Nam và có tính cạnh tranh khá lớn về giá, chất
lượng, mẫu mã…
Sự khác biệt về văn hóa kinh doanh và tập quán tiêu dùng cũng tạo ra rào cản
trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU.
3.1.4. Dự báo triển vọng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các
nước SACU
3.1.4.1. Triển vọng xuất khẩu
Trong chiến lược xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2020, định hướng
phát triển xuất khẩu cả nước nói chung đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu là 11
12%/năm từ 2011 đến 2020 và 10%/năm thời kỳ từ 20212030.
Đối với SACU, trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu của các nước này tăng
trưởng chậm, việc gia tăng xuất khẩu chủ yếu dựa vào việc phát triển các mặt
Việt Nam với các nước Châu Phi (thường xuyên chiếm khoảng 25% tổng kim
ngạch xuất khẩu sang Châu Phi), việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước SACU
sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu
sang Châu Phi đạt mục tiêu là chiếm tỷ trọng 5% kim ngạch xuất khẩu của cả
nước vào năm 2020.
3.2.1.2. Phát triển quan hệ thương mại với các nước SACU là góp phần vào việc
mở rộng tiến trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới
Trong thời gian tới, để mở rộng tiến trình hội nhập của Việt Nam vào nền
kinh tế thế giới, Việt Nam cần thúc đẩy quan hệ hợp tác với tất cả các quốc gia,
các khu vực trên thế giới. Các nước SACU, với đầu tàu là Nam Phi, một thành
viên của khối BRICS, là cửa ngõ để vào Châu Phi, cần được xác định là các đối
tác cần ưu tiên phát triển quan hệ, trong đó trọng tâm là phát triển quan hệ thương
mại.
3.2.1.3. Phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU dựa
trên việc tăng cường đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu ở Việt Nam để đáp ứng nhu
cầu của các nước SACU và khai thác nguồn hàng nhập khẩu từ các nước SACU
Trong phát triển quan hệ thương mại với các nước SACU, Việt Nam cần chú
trọng cả đẩy mạnh xuất khẩu và tăng cường nhập khẩu hàng hóa.
3.2.2. Định hướng phát triển quan hệ thương mại với giữa Việt Nam với các nước
SACU
24
Thứ nhất, tạo sự chuyển biến cơ bản trong quan hệ thương mại giữa Vi ệt
Nam với các nước trong SACU phù hợp với tiềm năng của các bên
Thứ hai, cần có chính sách thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam với
các nước trong SACU phù hợp với các cam kết hội nhập của Việt Nam
Thứ ba, đa dạng hóa mặt hàng kết hợp với lựa chọn mặt hàng có lợi thế để
phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trong SACU
Thứ tư, nâng cao hiệu quả của các quan hệ thương mại giữa Việt Nam với
triển thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU.
Ở cấp độ song phương, Việt Nam cũng nên thúc đẩy thành lập các cơ chế hợp
tác như Ủy ban liên chính phủ hoặc Ủy ban thương mại hỗn hợp với các nước
Namibia và Botswana là các đối tác có nhiều tiềm năng phát triển quan hệ thương
mại.
3.3.1.3. Nghiên cứu thúc đẩy việc đàm phán, ký kết các hiệp định, quy chế thương
mại đa phương và song phương với các nước SACU
Xuất phát từ thực tế hiện nay SACU là một khối liên kết kinh tế khá chặt chẽ,
25
đã hình thành được một liên minh thuế quan thống nhất, do đó để tạo điều kiện
cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường SACU, các cơ quan quản
lý Nhà nước cần nghiên cứu đề xuất ký kết hiệp định thương mại tự do với khối
SACU. Việc ký kết được Hiệp định thương mại tự do (FTA) với SACU sẽ mở
cánh cửa cho hàng hóa của Việt Nam xâm nhập vào thị trường chung của các
nước trong khu vực, đây cũng là một xu hướng của nền kinh tế thế giới hiện nay
khi mà các cam kết đa phương không còn là một công cụ hiệu quả như trước đây .
Trước mắt, Việt Nam cần đề xuất với các nước SACU việc tiến hành nghiên cứu
chung về khả năng đàm phán, ký kết FTA giữa Việt Nam với các nước SACU.
Sau khi nghiên cứu chung được hoàn thành, hai bên sẽ cân nhắc để thúc đẩy việc
sớm khởi động đàm phán với mục tiêu là trước năm 2020 sẽ hình thành khu vực
thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước SACU.
Đồng thời, với đặc thù của một liên minh thuế quan là các nước vẫn duy trì
hàng rào phi thuế quan riêng, nên Nhà nước cần sớm xem xét việc đàm phán để có
các thỏa thuận với các nước trong SACU về vấn đề này. Đặc biệt là cần đàm
phán với Nam Phi vì nước này có hệ thống các hàng rào phi thuế quan tương đối
hoàn chỉnh và được các nước thành viên SACU khác áp dụng. Các nội dung cần
được thúc đẩy đàm phán sớm là các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về kiểm dịch
động thực vật, tạo điều kiện cho việc tăng cường trao đổi thương mại hàng nông