TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 23/2018
79
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC CỦA SINH VIÊN
TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ
HÀ NỘI QUA Ý KIẾN NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Ngô Hải Chi, Bùi Đức Nhân
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học để đáp ứng nhu cầu nhân lực có trình
độ cao phục vụ xã hội là đòi hỏi bức thiết trong quá trình triển tại Việt Nam. Chất lượng
đào tạo chỉ có thể được nâng cao khi quá trình đào tạo có sự gắn kết chặt chẽ giữa đơn vị
đào tạo (nhà trường) và các đơn vị tuyển dụng lao động. Kết quả của nghiên cứu đã cho
thấy, trên quan điểm của người sử dụng lao động, việc đào tạo đại học chỉ đạt được chất
lượng khi sinh viên tốt nghiệp hội tụ được các năng lực chuyên môn, thái độ và động cơ
làm việc và các kĩ năng làm việc cá nhân phù hợp với yêu cầu công việc. Điều này đòi
hỏi nhà trường bên cạnh việc xây dựng mối liên hệ mật thiết khách hàng, cần chú ý thiết
kế lại chương trình đào tạo để đạt được các chuẩn đầu ra theo yêu cầu của đơn vị sử
dụng lao động.
Từ khoá: Sinh viên, mức độ, năng lực chuyên môn, đơn vị sử dụng lao động.
Nhận bài ngày 29.3.2018; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 20.5.2018
Liên hệ tác giả: Ngô Hải Chi; Email: [email protected]
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội, nền
giáo dục nước ta đã có những chuyển biến và có những đóng góp tích cực trong sự phát
triển đó. Trên bình diện chung của sự phát triển giáo dục, giáo dục đại học, cao đẳng có lẽ
là lĩnh vực phát triển nhanh nhất. Sự phát triển mạnh mẽ và rộng lớn của giáo dục đại học,
cao đẳng gắn liền yêu cầu về việc nâng cao chất lượng đào tạo. Chất lượng đào tạo đại học,
cao đẳng chưa bao giờ được quan tâm nhiều như hiện nay, từ định hướng của Đảng, Nhà
nước cho tới sự chung tay của toàn xã hội. Mục tiêu của giáo dục đại học là cung cấp
sinh viên tốt nghiệp theo thang Likert 5 mức độ: mức độ đáp ứng thấp họ hoàn toàn không
hoàn thành các công việc; mức độ đáp ứng khá thấp là họ hoàn thành được một phần nào
đó các công việc được giao; mức độ đáp ứng bình thường được là họ hầu như hoàn thành
tất cả các công việc được giao; mức độ đáp ứng khá cao là họ hoàn thành được tất cả các
công việc được giao; mức độ đáp ứng cao là họ không những hoàn thành tất cả các công
việc được giao mà còn thể hiện được sự chủ động, tích cực, sáng tạo, hăng say trong quá
trình làm việc.
Dựa vào các khung lí thuyết về năng lực nghề nghiệp giáo viên, căn cứ các Chuẩn
nghề nghiệp giáo viên Mầm non, Tiểu học và Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông;
đồng thời thông qua tham vấn chuyên gia kết hợp với sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm (nghiên cứu định tính) với 15 cán bộ quản lí của các trường Trung học và Tiểu học,
Mầm non ở địa bàn Hà Nội, nhóm tác giả đã xác định 24 tiêu chí thành tố trong năng lực
đáp ứng yêu cầu công việc mà nhà tuyển dụng đòi hỏi phải có ở người giáo viên. Các biến
được diễn giải cụ thể như sau:
81
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 23/2018
Bảng 1. Diễn giải các biến của mô hình nghiên cứu
Kí hiệu
Tên biến
Thang đo
MDU1
Năng lực chuyên môn
thực tiễn nghề nghiệp
1 5
MDU7
Năng lực sử dụng ngoại ngữ
1 5
MDU8
Năng lực sử dụng công nghệ thông tin
1 5
MDU9
Năng lực giao tiếp, hợp tác, xây dựng các mối quan hệ
1 5
MDU10
Năng lực tự tổ chức, quản lí công việc của bản thân
1 5
MDU11
Cởi mở, thân thiện, quan tâm tới HS và mọi người xung quanh
1 5
MDU17
Yêu học sinh, khoan dung, độ lượng, tôn trọng học sinh
1 5
MDU18
Thẳng thắn, trung thực, lành mạnh, trong sáng, giản dị, gương mẫu
1 5
Mô hình nghiên cứu được tiến hành thông qua 2 bước. Bước 1: Nghiên cứu định tính
bằng xây dựng phát triển hệ thống khái niệm/thang đo và các biến quan sát và hiệu chỉnh
biến quan sát phù hợp với thực tế. Bước 2: Nghiên cứu định tính, sử dụng hệ số tin cậy
Cronbach Alpha để kiểm định mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan
với nhau;
Dựa trên hai câu hỏi nghiên cứu chính là mức độ đáp ứng về năng lực của cử nhân
ngành sư phạm đối với yêu cầu của thị trường lao động như thế nào và chương trình đào
tạo của trường Đại học Thủ đô Hà Nội về đào tạo cử nhân sư phạm cần phải cải tiến như
thế nào để đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hiện nay, tác giả thiết kế mô hình
nghiên cứu theo sơ đồ sau:
82
Hoạt động
hỗ trợ
Hình 1. Sơ đồ mô hình nghiên cứu
2.2. Phương pháp thu thập, xử lí và phân tích số liệu
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (tiền thân là trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội) đã có
bề dày gần 60 năm đào tạo, có 55 khoá sinh viên tốt nghiệp, cung cấp cho xã hội hàng chục
nghìn sinh viên các hệ đào tạo. Sinh viên tốt nghiệp ngành sư phạm trường Đại học Thủ đô
Hà Nội chủ yếu trở thành giáo viên Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở; một số ít trở
thành giáo viên Trung học phổ thông, giảng viên, nghiên cứu viên, tư vấn viên... ở các
trung tâm, viện nghiên cứu, trường THPT và Đại học. Nhiều sinh viên sau khi ra trường
không làm đúng ngành nghề đào tạo. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chỉ khảo
sát mức độ đáp ứng công việc của những giáo viên Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở ở
các loại hình trường công lập, ngoài công lập và các trường có yếu tố nước ngoài.
Chúng tôi sử dụng phương pháp thu thập số liệu qua điều tra bằng bảng hỏi, kết hợp
phỏng vấn sâu 167 trường có sử dụng sinh viên tốt nghiệp ngành sư phạm Trường Đại học
Thủ đô Hà Nội. Các sinh viên này có thời gian làm việc tại các trường Tiểu học, Mầm non,
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội từ 6 tháng trở lên. Phiếu hỏi tập
trung thu thập thông tin đánh giá của các trường về mức độ đáp ứng công việc của sinh
viên theo các biến của mô hình nghiên cứu đã xác định. Phương pháp phỏng vấn sâu được
sử dụng để thu thập thông tin cụ thể về nguyên nhân, giải pháp của và về cách thức người
sử dụng lao động (cơ sở giáo dục), đánh giá mức độ đáp ứng với công việc của người lao
83
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 23/2018
%
Trường công lập
25
15.0%
38
22.8%
31
18.6%
94
56.3%
Trường ngoài công lập
33
19.8%
23
13.8%
Bảng 3. Tổng hợp mức độ yêu cầu công việc của nhà tuyển dụng
Yêu cầu công việc của Nhà tuyển dụng
Thấp (1) Cao (5)
Mức 1
Mức 2
Mức 3
Mức 4
Tiêu chí
Mức 5
Tổng
Điểm
TB
Mức
độ
SL
%
SL
%
26.9
167
3.98
4
MDU1
0
0
1
0.6
28
16.8
69
41.3
69
41.3
4.08
4
MDU3
0
0
11
6.6
45
26.9
76
45.5
35
21.0
167
3.81
MDU5
0
0
1
0.6
26
15.6
71
42.5
69
41.3
167
4.25
5
MDU6
độ
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
0
0
5
3.0
22.8
91
54.5
36
21.6
167
3.96
4
MDU8
0
0
0
0.0
19
11.4
44.3
65
38.9
167
4.20
5
MDU10
0
0
15
9.0
77
46.4
61
36.7
38.9
167
4.22
5
MDU12
4.00
4
NLC
0
0
3
1.8
19
11.4
68
82
49.1
167
4.37
5
MDU14
0
0
3
1.8
35
21.0
92
55.1
37
167
3.94
4
MDU16
0
0
1
0.6
23
13.8
72
43.1
71
42.5
167
5
MDU18
4.18
4
PCNN
Theo kết quả thu được, các tiêu chí thuộc tiêu chuẩn “Phẩm chất nghề nghiệp” (ĐTB
4.18) được yêu cầu ở mức cao hơn so với nhóm các tiêu chí thuộc tiêu chuẩn “năng lực
nghề nghiệp” (ĐTB 4.01) và “năng lực chung” (ĐTB 4.00). Tuy nhiên, các tiêu chí được
đánh giá không đều nhau.
Trong tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp, Nhà tuyển dụng mong đợi mức cao nhất đối
với “năng lực giải quyết vấn đề, thích nghi và dẫn dắt sự thay đổi trong thực tiễn nghề
nghiệp” (ĐTB 4.25 – Mức 5) và “Năng lực dạy học” (ĐTB 4.23). Qua phỏng vấn sâu, các
nhà tuyển dụng cho biết “Hiện nay nội dung, chương trình phổ thông thay đổi rất nhanh
chóng, GV cũng thường xuyên được yêu cầu sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học,
công nghệ mới, do đó ngoài năng lực dạy học chúng tôi rất cần những giáo viên có khả
năng thích ứng nhanh với những thay đổi đồng thời phải có năng lực giải quyết vấn đề đa
dạng và phức tạp phát sinh trong thực tiễn nghề nghiệp” (Cô NTM). “Với vai trò đặc thù
85
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 23/2018
và tầm ảnh hưởng của mình, người giáo viên trong thời đại nới không chỉ thích nghi mà
còn phải dẫn dắt dư luận, dẫn dắt sự thay đổi của xã hội, bởi nghề dạy học là nghề sáng tạo
%
SL
%
SL
%
SL
%
Mầm non
0
0.0
2
3.4
25
43.1
21
16
26.2
61
4.02
4
TH cơ sở
0
0.0
0
0.0
4
8.3
25
52.1
19
167
3.98
4
Qua tìm hiểu, chúng tôi ghi nhận các ý kiến cho rằng đối với GV mầm non, các nhà
tuyển dụng chú trọng phẩm chất nghề nghiệp và năng lực dạy học, năng lực giáo dục nhiều
hơn là các kiến thức chuyên môn bởi ở bậc học này các kiến thức dạy học ở mức độ đơn
giản không đòi hỏi GV phải biết nhiều biết sâu về kiến thức. Tuy nhiên, càng lên cao, khi
trình độ học sinh càng phát triển, thì lại yêu cầu càng cao về năng lực chuyên môn.
Trong tiêu chuẩn “năng lực chung”, hai tiêu chí được nhà tuyển dụng yêu cầu cao
nhất đó là “Năng lực giao tiếp hợp tác” (4.28); Năng lực học tập suốt đời và nghiên cứu
khoa học (ĐTB 4.22), Năng lực tự tổ chức, quản lí công việc của bản thân (4.20). Qua
phỏng vấn, các nhà tuyển dụng đều cho rằng “năng lực giao tiếp hợp tác” là năng lực rất
quan trọng đối với người giáo viên. Bởi dạy học chính là quá trình tương tác. “Hàng ngày
giáo viên phải giao tiếp và hợp tác với học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp... đòi hỏi GV
phải có năng lực giao tiếp, hợp tác để xử lí tất cả mối quan hệ nói trên. Những sự cố,
những vấn đề bức xúc tạo làm nóng dư luận vừa qua nhiều phần là do GV chưa có đủ năng
lực này” (cô NMD). Các Nhà tuyển dụng cũng cho rằng giáo viên rất cần năng lực học tập
suốt đời, đó vừa là phương thức học tập hiệu quả nhất để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho mình, vừa là để dạy cách học cho học sinh. Để có thể thích ứng được với
những thay đổi hàng ngày, hàng giờ của xã hội, để sống và hoạt động suốt đời không còn
con đường nào khác là phải học tập suốt đời. Chỉ khi giáo viên có năng lực học tập suốt
đời mới có khả năng hướng dẫn học sinh học tập tốt. Đối với “Năng lực tự tổ chức quản lí
công việc của bản thân”, các nhà tuyển dụng cho rằng “giáo viên thời đại công nghệ 4.0
86
0.0
4
4.3 28 29.8 59 62.8
Ngoài công lập
0
0.0
0
0.0
Tổng
%
SL
%
SL
%
Tổng
5
3.0 41 24.6 87 52.1 34 20.4
167
3.90
4
Tìm hiểu nguyên nhân của sự khác biệt này, chúng tôi được biết tuỳ vào mức độ hợp
tác quốc tế của các trường mà yêu cầu đối với ngoại ngữ của từng loại hình trường là khác
nhau. Các trường công lập chưa quan tâm đến hợp tác quốc tế, hợp tác chủ yếu là trong
nước do vậy nhu cầu về ngoại ngữ không cao (3.65 mức độ 4). Các trường ngoài công
lập chú trọng tăng cường ngoại ngữ, mời GV nước ngoài về giảng dạy ngoại ngữ hoặc một
số môn, ngoài ra đối với một số trường quốc tể còn trường tổ chức dạy học với nội dung
chương trình nước ngoài... Do vậy, yêu cầu ngoại ngữ ở mức độ giao tiếp thành thạo, thậm
chí nhiều nhà tuyển dụng ở các trường có yếu tố nước ngoài còn yêu cầu giáo viên có thể
giảng dạy bằng tiếng Anh một số môn học hoặc giao tiếp với học sinh hoàn toàn bằng
tiếng Anh.
Trong tiêu chuẩn “phẩm chất nghề nghiệp”, 4/6 tiêu chí được yêu cầu ở mức cao, đó
là các tiêu chí: Say mê, nhiệt tình, yêu nghề, tận tụy với nghề MUD14 (4.37; Kỉ luật,
trách nhiệm, chăm chỉ, kiên nhẫn, chịu được áp lực MUD13 (4.31)); Yêu học sinh,
khoan dung, độ lượng, tôn trọng học sinh MUD17 (4.28); Thẳng thắn, trung thực, lành
mạnh, trong sáng, giản dị, gương mẫu MUD18 (4.21). Theo các nhà tuyển dụng, phẩm
chất nghề nghiệp đặc biệt quan trọng đối với nghề giáo viên. “Chỉ khi giáo viên yêu nghề,
yêu trẻ, kiên trì, có phẩm chất tốt mới có thể vượt qua được nhiều khó khăn trong quá trình
dạy học. Thực tế cho thấy, những giáo viên thành công, được học sinh và phụ huynh yêu
quý, tin tưởng luôn là những người có phẩm chất tốt, đặc biệt là tình yêu nghề” (Cô ĐHA);
3.02
MDU2
3
MDU3
Mức 2
Mức 3
Mức 4
Mức 5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
167
9
5.4
38
22.8
75
44.9
40
24.0
5
3.0
4
3.46
167
7
33
19.8
74
44.3
48
28.7
6
3.6
MDU5
3
3.35
167
5
3.0
33
74
44.3
25
15.0
0
0.0
NLNN
3
3.09
0
MDU7
3
2.92
167
9
21
12.6
48
28.7
65
38.9
23
13.8
MDU9
4
3.46
167
5
3.0
17
85
50.9
21
12.6
9
5.4
MDU11
4
3.16
167
7
4.2
35
21.0
66
22
13.2
7
4.2
NLC
3
3.09
0
MDU13
4
3.81
167
3
1.8
15
57
34.1
43
25.7
20
12.0
MDU15
3
3.02
167
15
9.0
31
18.6
63
69
41.3
32
19.2
MDU17
4
3.99
167
0
0.0
15
9.0
33
19.8
58
69
41.3
PCNN
4
3.64
88
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Nhìn vào bảng trên ta thấy, mức độ đáp ứng yêu cầu công việc chung của sinh viên tốt
nghiệp ngành sư phạm Trường Đại học Thủ đô Hà Nội chỉ ở mức trung bình và thấp hơn
so với yêu cầu của nhà tuyển dụng. Với các tiêu chuẩn năng lực chung (2.94) và năng lực
nghề nghiệp (2.96) đáp ứng ở mức trung bình thấp nhưng tiêu chuẩn phẩm chất nghề
nghiệp lại đáp ứng ở mức độ khá cao.
Trong tiêu chuẩn “năng lực nghề nghiệp”, tiêu chí đạt được mức độ hài lòng cao nhất
của nhà tuyển dụng là năng lực giáo dục (3.46 MĐ 4) và Năng lực tạo dựng và quản lí
môi trường giáo dục (3.35 MĐ 3) trong khi đó năng lực “giải quyết vấn đề, thích nghi và
dẫn dắt sự thay đổi trong thực tiễn nghề nghiệp” (2,67) được đánh giá thấp nhất. Qua
phỏng vấn tìm hiểu sâu, chúng tôi được các nhà tuyển dụng cho biết “sinh viên trường Đại
học Thủ đô Hà Nội ra trường lúc đầu bắt nhịp khá tốt, có thể đứng lớp khá vững, nhưng
càng về sau lại càng tụt lại, khả năng thích ứng với sự thay đổi của các em còn yếu” (thầy
PTH). Tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân, chúng tôi nhận thấy tư duy phản biện của SV yếu,
lại không có năng lực nghiên cứu, tự học, chủ yếu làm theo những gì được dạy, được bảo
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Mầm non
6
10.3
18
31.0
41.0
23
37.7
5
8.2
61
3.38
4
TH cơ sở
2
4.2
13
27.1
25
52.1
24.0
5
3.0
167
2.91
4
Như vậy, sinh viên tốt nghiệp ngành Tiểu học được đánh giá mức độ năng lực cao
nhất trong các bậc học (3.38), trong khi đó ngành giáo dục mầm non chỉ được đánh giá
mức điểm 2.56 MĐ2. Nhà tuyển dụng, qua phỏng vấn cho biết: “SV ngành Giáo dục
Mầm non khi về trường chúng tôi phải đào tạo lại nhiều, các em còn loay hoay chưa thể
89
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 23/2018
đứng lớp ngay được, chủ yếu chúng tôi phân các em làm giáo viên phụ sau một thời gian
mới dần giao lớp”. Khi phỏng vấn sinh viên Mầm non, các em cho biết, chương trình mà
các em được học không sát với thực tế ở trườn, có sự khác biệt khá lớn giữa chương trình
đào tạo và thực tế dạy học” (SV NTH). Đối với các ngành bậc THCS, nhà tuyển dụng cho
hay, “sinh viên mới ra trường còn thiếu tự tin, chưa thành thạo các kĩ năng dạy học”. SV
các ngành này khi được hỏi cho biết, chương trình đào tạo chủ yếu là dạy lí thuyết với các
học phần về kiến thức chuyên môn ít thực hành và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. “Các học
phần phương pháp ở Trường có thời lượng rất ít, chúng em ít có cơ hội để rèn nghiệp vụ,
Mức 4
Mức 5
Tổng
Điểm Mức
TB
độ
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9
12.3
31
42.5
25
34.2
8
11.0
0
0.0
73
2.32
4
Tổng
9
Như vậy, mặc dù điểm trung bình trung của 167 ý kiến khảo sát về mức độ đáp ứng
của năng lực ngoại ngữ là 2.92 nhưng trong khi mức độ hài lòng của các nhà tuyển dụng
loại hình trường công lập là 3.29 (MĐ trung bình cao) nhưng ở các trường ngoài công lập
lại chỉ đạt 2.32 (MĐ khá thấp). Điều này cũng dễ hiểu vì cùng một chương trình đào tạo,
cùng hệ thống giáo viên ngoại ngữ nên kết quả đầu ra của sinh viên cũng khá tương đồng
nhau, tuy nhiên mức độ yêu cầu năng lực ngoại ngữ của từng loại hình trường lại khác
nhau (như đã phân tích ở trên) nên mức độ hài lòng cũng khác nhau. Để tìm hiểu giải pháp
cho vấn đề này, chúng tôi phỏng vấn giảng viên và sinh viên, một số ý kiến cho rằng, Nhà
trường cần có chương trình mở, đa dạng và linh hoạt với nhiều học phần tự chọn, cần gia
tăng cơ hội được lựa chọn của sinh viên trong việc học ngoại ngữ nói riêng và các năng lực
khác nói chung. Với những em xác định vị trí việc làm tương lai là các trường quốc tế,
trường có yếu tố nước ngoài cần định hướng và tạo điều kiện cho các em học tăng cường
ngoại ngữ. Chương trình hiện nay của Nhà trường tuy đào tạo theo phương thức học chế
tín chỉ nhưng các học phần tự chọn trong chương trình ít, chủ yếu là tự chọn bắt buộc do
vậy không khuyến khích năng lực và tạo ra sự khác biệt, lợi thế cạnh tranh đáp ứng sự đa
dạng của yêu cầu đầu ra đối với SV.
Trong tiêu chuẩn “Phẩm chất nghề nghiệp”, ở hầu hết các tiêu chí, SV đáp ứng ở
mức khá cao và gần ngang bằng với yêu cầu của nhà tuyển dụng. Chỉ lưu ý 2 tiêu chí Say
mê, nhiệt tình, yêu nghề, tận tụy với nghề (3.16); Tự tin, độc lập, chủ động, tích cực, năng
động, linh hoạt, sáng tạo (3.02) là ở mức trung bình và thấp hơn nhiều so với yêu cầu của
nhà tuyển dụng. Tìm hiểu sâu chúng tôi được biết, “nhiều sinh viên mới ra trường chưa có
nhận thức đầy đủ về nghề nghiệp nên khi tiếp xúc với thực tiễn các em bị hụt hẫng, dễ dẫn
đến tình trạng giảm niềm say mê với nghề nghiệp, nhiều em chỉ sau một thời gian ngắn
làm việc lại chuyển làm nghề khác hoặc tiếp tục đi học. Chỉ sau một thời gian gắn bó với
nghề các em mới lại có lại được lòng yêu nghề thực sự” (Cô HTVQ). Sinh viên khi được
hỏi có nguyện vọng được tư vấn và giáo dục về nghề nghiệp sâu hơn. Một số ý kiến cho
rằng “trong quá trình đào tạo chúng em chỉ được học các học phần riêng lẻ mà không có
nội dung nào giúp chúng em nhìn tổng thể được cả cấu trúc hệ thống của các hoạt động của
người giáo viên dưới trường phổ thông. Do vậy, như thầy bói xem voi, chúng em không
hiểu đầy đủ và sâu sắc về nghề nghiệp tương lai của mình nên không tránh khỏi hụt hẫng
3.81 3.71
3.68
4.00
3.46
3.42 3.46
3.41
3.35
3.16 3.02
3.16
3.50 3.02 2.96
3.09
2.92
2.83
2.77
2.67
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0.50
0.00
1
2
3
4
5
6
7
8
tuyển dụng cũng như các thông tin khác liên quan đến việc xác định hồ sơ nghề nghiệp. Hồ
sơ nghề nghiệp được chuyển tải thành hồ sơ năng lực (hồ sơ tốt nghiệp – chuẩn đầu ra) bao
gồm tổ hợp các phẩm chất, năng lực được xây dựng theo nhiều mức độ khác nhau mà một
sinh viên tốt nghiệp nên có sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, đó chính là mục tiêu
giáo dục xuyên suốt trong quá trình đào tạo.
Nhà trường cần rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo ngành sư
phạm, lấy ý kiến góp ý của Nhà tuyển dụng. Khi xây dựng mục tiêu giáo dục, Nhà trường
cần đặc biệt chú ý đến việc phát triển năng lực học tập suốt đời (lifelong learning) để người
học có khả năng chuyển giao và áp dụng các kĩ năng và kiến thức để thích ứng nhanh với
sự thay đổi nhanh chóng của giáo dục phổ thông. Đó là năng lực cốt lõi, năng lực chìa
khoá để phát triển mọi năng lực khác của người học. Đây cũng là năng lực mà nhà tuyển
dụng rất chú trọng.
4.2. Cải tiến nội dung, chương trình đào tạo
Khi xây dựng chương trình đào tạo ngành sư phạm nên tách biệt khỏi quan điểm lôgíc
cấu trúc môn học truyền thống, cần xây dựng chương trình đào tạo theo địa chỉ sử dụng,
đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng theo hướng mở và dựa vào năng lực. Nội dung,
chương trình, giáo trình giảng dạy cần xây dựng có tính mềm dẻo và cởi mở một mặt phải
đảm bảo tính cập nhật kịp thời với khoa học, thực tế nghề nghiệp; nhưng mặt khác phải
tính đến tính sự thay đổi, biến động của giáo dục phổ thông trong tương lai. Muốn vậy, cần
tổ chức chương trình dưới dạng hệ thống môđun mang lại sự tiện ích và tính linh hoạt cao
hơn cho người học. Một môđun học tập là một đơn vị học tập tương đối độc lập mà học
viên có thể tiếp thu được. Hoàn thành học tập một môđun là học viên đạt được một phần
năng lực trong hồ sơ năng lực nghề nghiệp thuộc chương trình đào tạo.
Nhà trường đồng thời cần đẩy mạnh bổ sung kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ theo giảm
bớt thời lượng lí thuyết, tăng cường thời lượng thực hành trong các môn học đặc biệt đối
với các ngành giáo dục mầm non và các ngành đào tạo giáo viên THCS. Không kể đến
khối kiến thức giáo dục đại cương, khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp của các ngành
này hầu hết phân bổ theo hướng 85% là các giờ lí thuyết, chỉ có 1520% là các giờ thực
hành. Trong khi đó, cũng cần bổ sung vào chương trình đào tạo những năng lực còn yếu
Hướng dẫn sinh viên tư duy phản biện, suy nghĩ phê phán theo hướng khác, lật
ngược lại vấn đề.
Khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi, nêu ý kiến, nghĩ ra nhiều phương pháp giải
quyết vấn đề, có ý tưởng mới, chính kiến riêng và cho phép lập luận bảo vệ chính kiến đó.
Tạo điều kiện cho người học tham gia vào mọi khâu của quá trình dạy học như: lập
kế hoạch bài giảng, lựa chọn, sưu tầm tư liệu, chuẩn bị phương tiện, chia sẻ thông tin, giải
quyết vấn đề, đánh giá, phản hồi...
Khuyến khích người học tự định hướng mục tiêu, xây dựng kế hoạch học tập và lựa
chọn các chiến lược nhận thức.
Tạo cho SV cơ hội cộng tác và làm việc theo nhóm, giúp họ làm quen với việc hợp
tác, với việc tôn trọng quan điểm của nhau, biết cách thoả thuận, đàm phán để đạt tới mục
đích chung.
94
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Tần tạo cơ hội cho người học lựa chọn như: lựa chọn các nhiệm vụ học tập; chọn
chủ đề báo cáo, viết tự luận... sử dụng các tình huống thực tiễn trong giảng dạy, yêu cầu
sinh viên liên hệ những gì học được trong nhà trường với thực tế bên ngoài.
4.4. Cải tiến kiểm tra đánh giá
Cần cải tiến kiểm tra đánh giá theo tiếp cận năng lực với mục tiêu để phát triển người
học hay đánh giá vì sự tiến bộ của người học. GV cần sử dụng đa dạng các loại hình kiểm
tra đánh giá ở các thời điểm khác nhau của quá trình dạy học. GV cần phổ biến trước mục
tiêu và yêu cầu đánh giá để SV nắm được trước khi tiến hành các nhiệm vụ học tập để làm
cơ sở cho việc tự đánh giá của SV. Cần đánh giá trong suốt quá trình dạy học, nhấn mạnh
sự hợp tác, quan tâm đến kinh nghiệm của người học, tập trung vào năng lực thực tế, với
các phương pháp và hình thức đa dạng, phong phú đã trở nên phổ biến hiện nay như:
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 23/2018
95
Việc trang bị một cách đồng bộ những điều kiện, phương tiện thực hiện đào tạo là
một trong những yêu cầu không thể thiếu. Những điều kiện vật chất được đặt ra ở đây là
hệ thống giáo trình, tài liệu, thư viện điện tử, hạ tầng mạng Internet... phải được đảm bảo
nhằm phát huy cao độ tính chủ động của sinh viên trong quá trình học tập; trang thiết bị,
phòng ốc phải phù hợp cho mọi loại lớp học khác nhau; điều kiện giảng dạy cũng cần
được tin học hoá. Thư viện, tài nguyên học tập phong phú và cập nhật sẽ đem lại nhiều lợi
ích to lớn cho người học và người dạy trong đào tạo theo học chế tín chỉ, đặc biệt là tài
nguyên Internet... Cần tăng cường biên soạn, sưu tầm giáo trình, tài liệu đặc biệt là các
giáo trình điện tử kết hợp với việc giới thiệu, hướng dẫn khai thác các nguồn tài liệu tham
khảo đa dạng, websites chuyên ngành...
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Đinh Quang Báo (2017), Chương tình đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
2.
Ngô Xuân Bình (2011), “Đào tạo nguồn nhân lực của TP. Hồ Chí Minh hướng tới thị trường
tuyển dụng lao động”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, (tháng 06/2011)
3.
Đặng Thành Hưng (2014), “Năng lực và giáo dục theo tiếp cận năng lực”, Tạp chí Quản lí
giáo dục, số 43 tháng 12/2014, tr.1826.