luận văn thạc sĩ hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại trường đại học tài nguyên và môi trường hà nội - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

NGUYỄN ANH TÙNG

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

NGUYỄN ANH TÙNG

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH

: KẾ TOÁN

MÃ SỐ


Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học
Thương Mại về những kiến thức đã giảng dạy, truyền đạt cho em trong suốt quá
trình đào tạo. Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Hội đồng
Khoa học, Khoa sau Đại học, các phòng, ban của Trường Đại học Thương Mại đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân và các bạn
lớp cao học CH21B.KT.Ngày đã luôn động viên em để hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành Luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của bản thân, tuy nhiên bài Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót,
em xin kính mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các thầy giáo,
các cô giáo để bài Luận văn này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý
nghĩa cao trong hoạt động thực tiễn.
Xin chân thành cảm ơn!


5

MỤC LỤC


6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH
BHTN
BHYT
BIDV
BGH
CBCNV
CNTT

Kinh phicông đoàn
Ký túc xá
Ngân sách Nhà nước
Quản trị đời sống
Quản lý tài chính
Tài chính kế toán
Tài sản cố định
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Thu sự nghiệp
Tài khoản
Sự nghiệp có thu
Ủy ban nhân dân


7

DANH MỤC BẢNG BIỂU


8

DANH MỤC SƠ ĐỒ


9

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (TĐHHN) là một đơn vị sự
nghiệp có thu, thực hiện tự chủ đảm bảo một phần chi phi hoạt động. Hiện nay, Nhà

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống, làm rõ cơ sở lý luận chung về tổ chức công
tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu. Phân tích thực trạng tổ chức công tác kế
toán tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội để làm rõ kết quả đạt
được, hạn chế và các nguyên nhân. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức
công tác kế toán tại Trường.


11

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị
sự nghiệp có thu.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tổ chức công tác kế toán tại Trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp kỹ thuật:
+ Phương pháp điều tra, khảo sát: tác giả tiên hành khảo sát ở các phòng ban,
trung tâm thuộc Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, đặc biệt là kế
toán trưởng và những kế toán viên trực tiếp thực hiện công tác kế toán và các nhà
quản lý như Ban Giám hiệu, trưởng, phó phòng, khoa, trung tâm.
+ Phương pháp phỏng vấn: tác giả thực hiện thông qua các cuộc trao đổi giữa
tác giả với một số nhà quản lý cũng như những người trực tiếp hoặc gián tiếp thực
hiện công tác kế toán tại Trường TĐHHN, nhằm tìm hiểu kinh nghiệm và nhận thức
của những người này về thực trạng công tác kế toán tại Trường TĐHHN.
+ Để cuộc phỏng vấn được thành công, tác giả chuẩn bị trước các câu hỏi,
phục vụ trực tiếp cho cuộc phỏng vấn. Câu hỏi phù hợp với phạm vi liên quan đến
tố chức công tác kế toán tại Trường TĐHHN.
+ Phương pháp quan sát thực tế: tác giả thực hiện phương pháp này tại các

lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự
nghiệp công lập.
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế tại Trường Đại học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.


13

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập (dưới đây gọi là đơn vị sự nghiệp) là đơn vị do cơ
quan nhà nước có thẩm quyển thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài
khoản riêng, thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ
công trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật như y tế, giáo dục đào
tạo, khoa học, công nghệ, môi trường, dịch vụ việc làm,…. Các đơn vị sự nghiệp
công lập hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận,
phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
các tổ chức cá nhân, đảm bảo công bằng trong phân phối và khả năng tiếp cận bình
đẳng giữa mọi công dân nhất là các dịch vụ cơ bản.
Các đơn vị sự nghiệp công lập đều sử dụng ngân sách nhà nước nên hệ thống
kế toán phải tuân theo Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và Hệ thống mục lục
ngân sách nhà nước để phục vụ công tác quản lý và thống kê. Nhà nước cho phép
tạo lập nguồn thu (phí, lệ phí, sản xuất, dịch vụ) để trang trải phần hoặc toàn bộ chi
phihoạt động thường xuyên. Mức thu, nội dung thu thực hiện theo các quy định của

hoạt động thường xuyên =
x 100%
của đơn vị (%)
Tổng số chi hoạt động thường xuyên
Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí thường xuyên là đơn vị có
mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên tính theo công thức trên bằng hoặc
lớn hơn 100%;
còn đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt
động thượng xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên
nhỏ hơn 100%.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ thể, đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục đào tạo;
+ Đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Y tế, đảm bảo xã hội;
+ Đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Văn hoá thông tin;
+ Đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Thể dục thể thao;
+ Đơn vị sự nghiệp hoạt động trong Nông lâm ngư nghiệp, Thuỷ lợi;
+ Đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế khác.
Riêng trong lĩnh vực GD&ĐT, các đơn vị SNCT có các loại hình như sau:
+ Các cơ sở giáo dục mầm non;
+ Các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
+ Các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường
xuyên, trung tâm giáo dục từ xa, các trung tâm đào tạo khác;
+ Các trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề;
+ Các trường Đại học, Cao đẳng, Học viện.
Như vậy trường Đại học công lập nằm trong hệ thống các đơn vị sự nghiệp có
thu thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo. Vì thế, trường Đại học công lập vừa mang


15


1.1.3. Đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.3.1. Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập có bốn đặc trưng cơ bản:


16

- Các đơn vị sự nghiệp hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì
mục tiêu lợi nhuận;
- Sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp là sản phẩm mang lại lợi ích chung, có
tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất, giá trị tinh
thần, xã hội và có thể sử dụng chung cho nhiều người, nhiều đối tượng trên phạm vi
rộng;
- Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
- Các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động trong lĩnh vực nào, có nguồn thu hay
không đều giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân và
thực thi các chính sách xã hội của Nhà nước.
Mỗi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp được trang trải bằng một nguồn kinh
phí khác nhau và số lượng các hoạt động không giống nhau ở tất cả các đơn vị, sự
khác nhau này tạo nên đặc trưng của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đặc điểm
của các đối tượng gắn với các nghiệp vụ đó. Đặc điểm này ảnh hưởng tới hệ thống
chứng từ, hệ thống tài khoản, sổ kế toán và báo cáo tài chính cần sử dụng để phản
ánh thông tin về các đối tượng kế toán gắn với các đơn vị có các đặc điểm hoạt
động khác nhau. Chính sự khác nhau đó dẫn đến sự khác nhau trong khối lượng
công việc kế toán, do đó ảnh hưởng lớn tới việc xác định khối lượng và phân công
công việc, bố trí nhân sự và xây dựng quy chế hoạt động trong bộ máy kế toán
nhằm thực hiện tốt công việc quản lý tài chính tại đơn vị.
Đơn vị sự nghiệp là một bộ phận trong hệ thống các đơn vị của bộ máy quản
lý nhà nước nên luôn chịu sự chi phối của Nhà nước thông qua các công cụ quản lý

của nhiều ngành nhiều lĩnh vực có liên quan. Một đơn vị sự nghiệp nếu xét theo đặc
điểm hoạt động có thể thuộc một trong hai nhóm, đơn vị sự nghiệp hoặc cơ quan quản
lý nhà nước hoạt động ở mọi lĩnh vực khác nhau theo chức năng nhiệm vụ được giao,
nhưng cho dù hoạt động trong lĩnh vực nào các đơn vị này cũng phải chiu sự quản lý
và chi phối của các đơn vị có liên quan như: cơ quan quản lý tài chính (Bộ Tài chính,
Sở Tài chính, Phòng Tài chính), Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản, và hơn cả,
chính là cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp, mối quan hệ giữa đơn vị sự nghiệp và các
đơn vị chức năng khác trong hệ thống quản lý nhà nước.
Tất cả sự phối hợp đan xen trong quản lý các đơn vị sự nghiệp tạo nên một
mạng lưới các mắt xích có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận hành
của bộ máy quản lý nhà nước nói chung. Do vậy, xét ở phạm vi một đơn vị sự
nghiệp cụ thể, bộ máy quản lý phải được thiết lập phù hợp nhằm đảm bảo cho hoạt
động của bản thân đơn vị và toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước nói chung được
diễn ra thuận lợi. Để đáp ứng và thỏa mãn được các mối quan hệ ngang dọc trong
hệ thống quản lý, các bộ phận chức năng, các phòng, ban trong đơn vị sự nghiệp
phải được bố trí đầy đủ, phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị trong mối quan
hệ với các đơn vị khác. Trong bộ máy quản lý thì số lượng các bộ phận được bố trí
phụ thuộc vào đặc điểm quy mô hoạt động và đặc điểm quản lý của từng đơn vị
nhưng theo lý thuyết về khoa học quản lý mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại các


18

đơn vị sự nghiệp có thể được tổ chức theo các mô hình trực tuyến, chức năng hoặc
mô hình hỗn hợp.
Các bộ phận trong một đơn vị luôn chịu sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng
đầu bộ phận và chịu sự quản lý chung của thủ trưởng đơn vị. Các bộ phận trong một
đơn vị có mối quan hệ phối hợp lẫn nhau trong quá trình hoạt động. Khi chức năng
nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp khác nhau thì mô hình tổ chức bộ máy quản lý
cũng khác nhau và theo đó yêu cầu về thông tin kế toán phục vụ cho quản lý nói

sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê
duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm
quyền phê duyệt;
Kinh phí khác (nếu có).
Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:
Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định
của pháp luật;
- Thu từ hoạt động dịch vụ; Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng.
Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật.
Nguồn khác, gồm:
Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức
trong đơn vị;
Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
theo quy định của pháp luật.
Nguồn kinh phí NSNN được cấp trên phân bổ, giao cho đơn vị sử dụng trên cơ
sở dự toán khối lượng công việc theo kế hoạch cụ thể của năm sau đơn vị cung cấp
và báo cáo quyết toán năm trước.
Đơn vị sự nghiệp được giao thẩm quyền thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng,
thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do Nhà nước quy định. Trường hợp Nhà nước
quy định khung thu thì đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ hoạt động, khả năng đóng
góp của xã hội để quy định mức thu cụ thê cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng
đối tượng nhưng không được vượt quá khung do Nhà nước quy định.
Đối với các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được cơ quan Nhà nước đặt hàng thì
mức thu theo đơn giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Trường hợp sản
phẩm chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyển quy định giá thu thì chi phí được
xác định trên cơ sở dự toán chi phiđược cơ quan tài chính có thẩm quyển chấp thuận.
Đối với các hoạt động thu dịch vụ theo hợp đồng cho các tổ chức và cá nhân
trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các

được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc và
quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo
quy định của pháp luật.
Việc kiêm soát chi tại các đơn vị sự nghiệp có thu thông qua Quy chế chi tiêu
nội bộ của đơn vị. Quy chế chi tiêu nội bộ quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định
mức, mức chi thống nhất trong toàn đơn vị và phải tuân thủ theo các quy định của
các cơ quan có thẳm quyền. Đối với những khoản chi cần thiết cho hoạt động của
đơn vị nhưng chưa có văn bản pháp luật quy định thì thủ trưởng đơn vị có thể xây
dựng dựng mức chi cho từng nhiệm vụ, nội dung công việc trong phạm vi nguồn tài
chính của đơn vị.
Đối với các trường công lập, đơn vị cần phải tuân thủ quy định về các khoản
chi liên quan đến kinh phí đào tạo như chi phí giảng dạy theo chức danh, chi phiăn,


21

nghi, đi lại của giảng viên, cán bộ quản lý lớp, chi phí tài liệu, văn phòng phẩm, chi
phí thuê hội trường, địa điểm tổ chức lớp học, chi phí liên quan đến tổ chức thi,
kiểm tra, công tác phí của quản lý lớp và các chi phí gián tiếp khác liên quan đến
quản lý, điều hành lóp học...
1.1.5. Cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập
Cơ chế quản lý tài chính là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến công tác
tổ chức kế toán. Quản lý tài chính (QLTC) theo nghĩa rộng được hiểu là một việc sử
dụng tài chính làm công cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những
chức năng vốn có của nó. Quản lý tài chính theo nghĩa hẹp là việc sử dụng các
thông tin phải ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm
mạnh, điểm yếu của nó và lập kế hoạch sử dụng nguồn tài chính (thông qua các
định mức, quy định chi tiêu hiện hành của Nhà nước). Quản lý tài chính là quản lý
các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những
phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở

ngân sách, công việc này thực hiện sau khi đã thực hiện xong dự toán thu, chi tại
các đơn vị.
Kiểm tra, kiểm soát là công việc được thực hiện trong tất cả các bước của chu
trình lập và chấp hành dự toán thu, chi tại các đơn vị hành chính sự nghiệp. Trong
quá trình hoạt động các đơn vị hành chính sự nghiệp có trách nhiệm tự kiểm tra tình
hình tài chính kế toán ở đơn vị mình nhằm đánh giá khả năng, năng lực thực hiện,
trình độ tổ chức triển khai công việc và việc chấp hành các chế độ, chính sách của
Nhà nước gắn với từng giai đoạn của chu trình ngân sách. Bên cạnh đó, cũng cần có
sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên của các cơ quan chủ quản và các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo cho việc sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả,
lành mạnh, đồng thời giúp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp rút kinh nghiệm
trong quá trình tổ chức và thực hiện công việc, góp phần nâng cao năng lực và trình
độ quản lý cho các đơn vị.
Căn cứ vào khả năng và nội dung các nguồn thu sự nghiệp, đơn vi sự nghiệp
có thể xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ trong đó quy định các mức thu, chi có thể
cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thầm quyền ban hành làm
căn cứ áp dụng thống nhất trong toàn đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được
giao, sử dụng kinh phí có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý; căn cứ nội dung
và tính chất công việc cụ thể thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán
thu, chi cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc.
1.2. Khái quát về tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu
1.2.1. Khái niệm và vai trò của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự
nghiệp có thu
1.2.1.1. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán
Theo tác giả Nghiêm Văn Lợi “Tổ chức kế toán là việc tạo ra mối liên hệ theo
trình tự nhất định giữa các yếu tố của hệ thống kế toán”.


23


nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, giúp cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, sử
dụng vốn đúng mục đích.
- Tính toán đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thúc đẩy gia tăng


24

nguồn thu sự nghiệp cho đơn vị góp phần bù đắp chi hoạt động thường xuyên của
đơn vị và nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên.
Thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu của kế toán trong
từng thời kỳ.
1.2.2. Nhiệm vụ và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự
nghiệp có thu
1.2.2.1. Nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán
- Tổ chức hợp lý bộ máy kế toán đảm bảo thực hiện toàn bộ công việc kế toán
ở đơn vị với sự phân công, phân nhiệm rõ ràng công việc kế toán cho từng bộ phận,
từng người trong bộ máy kế toán.
- Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và chế
độ kế toán hiện hành, tổ chức vận dụng hình thức kê toán hợp lý, các phương tiện
kỹ thuật tính toán nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán.
- Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán với các bộ
phận quản lý khác trong đơn vị có liên quan đến công tác kế toán.
- Tổ chức hướng dẫn các thành viên trong đơn vị chấp hành chế độ quản lý kinh
tế tài chính nói chung và chế độ kế toán nói riêng và tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ.
- Cung cấp thông tin đáp ứng cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, kiểm tra và phân tích hoạt động kinh tế tài chính phục vụ cho công tác lập và
theo dõi thực hiện kế hoạch, phục vụ cho công tác thống kê thông tin kinh tế.
1.2.2.2. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán
- Nguyên tắc phù hợp
Tổ chức kế toán phải đảm bảo phù hợp với luật kế toán, chuẩn mực kế toán,

- Nguyên tắc tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả
Tổ chức bộ máy kế toán phải gọn nhẹ, sử dụng nhân lực và vật tư ít nhất
nhưng vẫn đáp ứng tất cả các yêu cầu đối với công tác kế toán muốn vậy trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của kế toán phải giỏi, trang thiết bị phù hợp, tổ chức kế toán
phải đảm bảo nhịp nhàng nhằm tiết kiệm, hiệu quả.
- Nguyên tắc linh hoạt
Hệ thống kế toán phải được thiết kế linh hoạt để có thể điều chỉnh phù hợp khi
có sự thay đổi về cơ chế hoặc nhiệm vụ hoạt động của đơn vị, hoặc nhu cầu thông
tin của nhà quản lý trước những thay đổi theo nhiệm vụ trong từng giai đoạn.
1.2.3. Đặc điểm cơ chế quản lý tài chính và hoạt động của đơn vị sự nghiệp
công lập ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán
Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp là hệ thống các cách thức,
phương pháp tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài
chính trong các đơn vị sự nghiệp.
Hiện nay cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp tại nước ta là có quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị. Nhà nước có quy định quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị sự
nghiệp nhằm mục đích sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực của đơn vị. Đặc
trưng của cơ chế này việc kiếm soát chi theo dự toán đã được phê duyệt. Cụ thể:
Về lập dự toán: Căn cứ dự toán năm đầu tiên của thời kỳ ổn định, cơ quan
quản lý phân loại đơn vị sự nghiệp và việc phân loại này được ổn định trong 3 năm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status