luận văn kinh tế luật pháp luật về giao kết hợp đồng thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần sohaco việt nam - Pdf 59

TÓM LƯỢC
Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động đã được hình thành từ ngàn đời nay.
Nó xuất phát từ nhu cầu trao đổi để thỏa mãn những mong muốn cá nhân của con
người. Ngày nay, khi nền kinh tế càng phát triển, hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra
càng phổ biến và phức tạp hơn. Đặc biệt, kể từ khi nước ta ra nhập WTO, các hoạt
động trao đổi hàng hóa, giao thương trong nước cũng như nước ngoài ngày càng phổ
biến và phát triển mạnh mẽ thì quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa lại càng trở nên
vô cùng quan trọng.
Trong phạm vi bài khóa luận, em sẽ tập trung đi sâu làm rõ một số vấn đề pháp lý
về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, và thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần
Sohaco Việt Nam. Bài khóa luận của em gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Tập trung đi vào các vấn đề pháp lý cơ bản của pháp luật về giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa. Làm rõ một số vấn đề như hợp đồng mua bán hàng hóa
là gì? Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa ra sao? Quá trình, thủ tục giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra như thế nào? Từ việc nêu ra những lý luận cơ bản
sẽ là nền tảng để em thực hiện các chương tiếp theo của bài khóa luận.
Chương 2: Tập trung đi vào phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh
vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hiện nay và thực tiễn thực hiện tại Công
ty Cổ phần Sohaco Việt Nam.
Chương 3: Qua việc đánh giá tìm ra được những vấn đề còn tồn tại gây ra sự bất
cập, không phù hợp của pháp luật khi áp dụng vào thực tế tại chương 2. Từ đó nêu ra
một số kiến nghị để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật hiện hành.


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Trường đại học Thương Mại nói chung và quá
trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp nói riêng, em đã nhận được sự chỉ bảo rất tận tình
từ các thầy cô trong chuyên ngành Luật Thương mại thuộc Khoa Kinh tế - Luật trường
Đại học Thương Mại.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu trường Đại học
Thương Mại, các thầy cô trong khoa Kinh tế - Luật đã tận tâm dạy bảo và dìu dắt

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA.......................................................................7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá..................................7
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa.......................................................7
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa......................................................7
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề về giao kết hợp đồng...........8
1.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật về hoạt động mua bán hàng hóa...........................8
1.2.1.1. Cơ sở thực tiễn xã hội.....................................................................................8
1.2.1.2. Cơ sở pháp luật...............................................................................................9
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề về giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa............................................................................................................................... 10
1.2.2.1 Chủ thể............................................................................................................ 10
1.2.2.2 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.........................................11
1.2.2.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.......................................12
1.2.2.4 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.............................................12
1.2.2.5 Thời điểm hình thành hợp đồng mua bán hàng hóa...................................13
1.3. Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa............................................................................................................................... 14


1.3.1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
..................................................................................................................................... 14
1.3.2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng..........14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..........................................................................................16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ GIAO
KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SOHACO
VIỆT NAM.................................................................................................................17
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng
của doanh nghiệp.......................................................................................................17
2.1.1 Tổng quan tình hình tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam.........................17
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng của doanh nghiệp..........18

KẾT LUẬN................................................................................................................33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
LTM
CTCP
HĐMBHH
ĐKKD
WTO
NĐ- CP
TT-BTC


Bộ Luật Dân sự
Luật Thương mại
Công ty Cổ phần
Hợp đồng mua bán hàng hóa
Đăng ký kinh doanh
Tổ chức thương mại thế giới
Nghị định – Chính phủ
Thông tư Bộ Tài chính
Hợp đồng


LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Ngày nay, hoạt động mua bán hàng hoá trong nước đã trở thành lĩnh vực kinh
doanh chủ đạo và đem lại nguồn doanh thu lớn cho các Công ty. Tuy nhiên, để hoạt

ngoài. Song để tập trung vào nội dung cần nghiên cứu, bài luận văn sẽ chỉ đề cập đến

1


những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hoá trong nước.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Những vấn đề pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng
mua bán hàng hóa nói riêng đã được đề cập trong Giáo trình Luật Thương mại của một
số trường như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội…
hay Giáo trình pháp luật kinh tế (2005), của khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc
dân nhưng nó mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các kiến thức cơ bản. Ngoài ra, vấn đề
hợp đồng mua bán hàng hóa cũng được nghiên cứu theo khía cạnh hợp đồng trong
thương mại với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong đó có thể kể đến các công trình
nghiên cứu tiêu biểu như:
- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của Lê Minh
Hùng, luận án Tiến sĩ Đại học Luật - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 đã nghiên cứu
các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu
lực hợp đồng ở Việt Nam.
- “Pháp luật về hợp đồng trong thương mại” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung, nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2009 đã nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về
các loại hợp đồng trong thương mại, trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa.
- “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài - Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện
cho pháp luật Việt Nam” của Trương Thị Bích, luận văn Thạc sỹ năm 2012 đã luận
giải những vấn đề lý luận và pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài và phân tích một cách có hệ thống về thực trạng và thực tiễn
áp dụng pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
nước ngoài. So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc về giao kết hợp

nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu bài khóa luận tốt nghiệp,
nhưng các công trình kể trên không nghiên cứu riêng và toàn diện về giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bởi vậy, việc lựa chọn
đề tài “Pháp luật về giao kết hợp đồng - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần
Sohaco Việt Nam ” sẽ đi sâu phân tích cụ thể vấn đề giao kết hợp đồng theo luật hiện
hành và áp dụng cụ thể vào Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam. Từ đó, chỉ ra các bất
cập và đưa ra giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao
kết hợp đồng.
3.Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu phân tích một số đề tài thì em thấy đây là một đề tài không
mới, đã được nhiều người nghiên cứu nhưng nó cũng là một vấn đề đang rất được
quan tâm.
Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này đã chứng tỏ tầm quan trọng của giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa vẫn còn nhiều bất cập chưa được hoàn thiện. Vì vậy việc hoàn thiện hệ
3


thống pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là điều tất yếu. Do đó một
trong những điểm thành công trong các đề tài nghiên cứu đó là phát hiện ra được
những bất cập còn thiếu sót, những mặt còn hạn chế. Từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, các đề
tài nghiên cứu trên còn mang nặng tính lý thuyết. Nhận thấy được vai trò quan trọng
trong việc giao kết hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa nên em đã chọn đề tài
“Pháp luật về giao kết hợp đồng - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Sohaco
Việt Nam” để tìm hiểu và nghiên cứu
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định về hợp đồng mua bán
hàng hóa được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005… và thực

- Về nguồn tư liệu: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa trong thương mại kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật
Thương mại năm 2005 và các văn bản pháp luật liên quan khác.
- Về không gian: Khóa luận tập trung làm rõ vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa tại Việt Nam, nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: dựa vào các khái niệm nêu trong bài để hiểu rõ hơn về
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Từ đó đánh giá các kết quả đạt được và hạn chế
để đưa ra các giải pháp giải quyết.
- Phương pháp liệt kê: liệt kê các hệ thống và các văn bản có liên quan để làm
căn cứ cho lý luận..
- Phương pháp so sánh: phương pháp so sánh giúp bài nghiên cứu được rõ ràng
hơn, dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu các văn bản luật để tiến hành so sánh và
phương pháp này được sử dụng tại chương 1 nhằm cho người đọc hiểu rõ được sự
khác biệt về sự quy định các điều luật điều chỉnh mối quan hệ khi tham gia giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa thương mại ở các văn bản pháp luật khác nhau.
- Phương pháp quan sát: xem xét quá trình làm việc của các nhân viên trong
Công ty.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp được áp dụng để làm chương 2
của bài khóa luận là phần thực tiễn liên hệ tại Công ty. Trên cơ sở giải thích các khái
niệm, quy phạm pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa, người nghiên
cứu sẽ đi phân tích vai trò của các yếu tố này tới hoạt động của công ty. Ngoài ra, trên
cơ sở đánh giá những kết quả đã đạt được và hạn chế của hành lang pháp lý hợp đồng,
người nghiên cứu sẽ có một cái nhìn tổng quan, qua đó có phương hướng để giải quyết
những hạn chế phát sinh. Phương pháp này được sử dụng hầu hết các chương của đề
tài khóa luận.

5



nghĩa theo Khoản 8 Điều 3 LTM 2005 là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có
nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán,
bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa
theo thỏa thuận. Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là hàng hóa hiện đang
tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động
sản được phép lưu thông thương mại. Từ hai định nghĩa trên có thể thấy hợp đồng mua
bán hàng hóa theo quy định của LTM 2005 là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán
tài sản.
Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng “ Hợp đồng mua bán hàng hoá
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua
và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời
hạn, số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”.
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất giống như hợp đồng mua bán tài sản
đều là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập quyền nghĩa vụ pháp lý giữa các bên,
ghi nhận quan hệ chuyển quyền sở hữu hàng hóa/ tài sản và có sự thanh toán. Tuy
nhiên hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại còn được nhận diện qua những
dấu hiệu riêng sau:

7


Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân.
Ngoài thương nhân chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể không phải là
thương nhân. Điều đó có nghĩa là thương nhân phải là một bên chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa. Chủ thể còn lại của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương
nhân hoặc không phải là thương nhân.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa. Theo quy định
tại khoản 2 Điều 3 LTM 2005, hàng hóa bao gồm:
“ a, Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;


trao đổi, để bán trên thị trường. Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hóa không
phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán,
tức để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất và lưu
thông hàng hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thông qua cơ chế
thị trường. Cơ chế thị trường chính là một tổ chức kinh tế, trong đó người sản xuất và
người tiêu dùng chịu sự tác động chi phối lẫn nhau của nền kinh tế thị trường. Thông
qua các hoạt động trao đổi mua bán, thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển
của nền kinh tế. Thị trường cung cấp thông tin cần thiết cho nhà kinh doanh và tạo yếu
tố cạnh tranh làm động lực cho sự phát triển sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, nâng
cao chất lượng sản phẩm. Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường
là tự do trao đổi các sản phẩm hàng hóa giữa người mua và người bán. Người bán bao
giờ cũng muốn bán giá cao, người mua muốn mua giá thấp. Như vậy, hợp đồng về bản
chất là sự thỏa thuận, thống nhất ý chị giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng theo
nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng, không trái pháp luật.
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp
lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của
hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa. Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởi
hợp đồng giữa các bên và quy định của pháp luật. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản
chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các
quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Để đảm bảo lợi ích của cả người bán và
người mua việc xác lập những quy tắc chung trong quá trình mua bán giao kết hợp đồng
là yếu tố rất quan trọng. Do vậy việc thiết lập luật về hợp đồng mua bán trở thành yếu tố
tiên quyết nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế được phát triển ổn định và bền vững.
1.2.1.2. Cơ sở pháp luật
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng trong thương mại nên đối với
các hoạt động mua bán hàng hóa trong nước, trước hết nó chịu sự điều chỉnh trực tiếp
của luật chuyên ngành là LTM 2005. Nhưng để xác định bản chất pháp lý về hợp đồng

Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá không có đặc thù riêng so với giao kết hợp
đồng dân sự. Vì vậy, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên chủ thể phải
tuân thủ nguyên tắc chung về giao kết hợp đồng, thủ tục giao kết hợp đồng, xác định
thời điểm giao kết hợp đồng theo quy định tại BLDS 2005.
1.2.2.1 Chủ thể
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương
nhân hoặc một trong hai bên là thương nhân. Các chủ thể tham gia vào hợp đồng cần
phải có năng lực chủ thể. Đối với chủ thể là thương nhân cần phải năng lực pháp luật
và năng lực hành vi thương mại, còn chủ thể khác không phải là thương nhân phải có
năng lực hành vi dân sự.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa một bên phải là thương nhân. Theo quy định
của LTM 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá
nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh. Trường hợp mua bán sản phẩm, hàng hóa có điều kiện kinh doanh, thương
nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật.
Thương nhân là chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam
10


hoặc thương nhân nước ngoài. Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân
không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng
hóa. Khác với bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ
thể có đủ năng lực hành vi để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy
định của pháp luật. Hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không
nhằm mục đích sinh lợi trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ
thể này lựa chọn áp dụng LTM.
Trong việc giao kết hợp đồng, nếu các bên không tự mình thực hiện có thể cử đại
diện giao kết. Tuy nhiên, người đại diện phải thực hiện đúng thẩm quyền nghĩa vụ thực
hiện trong phạm vi phần công việc mà mình được ủy quyền. Giao kết hợp đồng không
đúng thẩm quyền sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trừ trường

nhận nội dung giao kết hợp đồng bằng một văn bản. Trong văn bản đó các bên phải
ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tên xác nhận vào một văn
bản. Khi có tranh chấp hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng
cứ pháp lí chắc chắn hơn so với hình thức miệng. Căn cứ vào văn bản của hợp đồng,
các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia. Vì vậy, đối với
những hợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việc giao kết thì các bên
thường chọn hình thức này. Thông thường hợp đồng được tạo thành nhiều bản và mỗi
bên giữ một bản.
1.2.2.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo Điều 389 BLDS 2005, việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các
nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội:
Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
1.2.2.4 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi pháp lý đơn phương của bên
bán hoặc bên mua. Căn cứ vào quy định tại Điều 390 BLDS 2005 có thể định nghĩa:
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp
đồng mua bán và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã
được xác định cụ thể.
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được gửi đến một hoặc nhiều
chủ thể xác định. Hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng có thể được xác định tương tự
như hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại Điều 24 LTM 2005.
Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng mua bán thông thường được bên đề nghị
ấn định. Trường hợp bên đề nghị không ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao
kết hợp đồng thì đề nghị có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.
Căn cứ xác định bên được đề nghị đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng là các
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 391 BLDS 2005.
Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình. Trong thời hạn đề

hợp đồng nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được
trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
1.2.2.5 Thời điểm hình thành hợp đồng mua bán hàng hóa
Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được áp dụng quy định chung
về thời điểm giao kết hợp đồng tại Điều 404 BLDS 2005:
Hợp đồng được giao kết bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời
điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng
Hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản thì thời điểm hợp đồng được
giao kết là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
Hợp đồng cũng được xem như giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận
được đề nghị vẫn im lặng, nếu có sự thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết
Hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng
là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
13


Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác hoặc pháp luật các bên có quy định khác
1.3. Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa
1.3.1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội
Bộ luật Dân sự quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm
tạo điều kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần.
Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ thể
đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một hợp đồng nào, nếu muốn. Tuy nhiên, hợp đồng
chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của các bên
giao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của Nhà nước. Hay nói cách khác, sự tự do ý chí
giao kết hợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định – giới
hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng. Nếu để

trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự thống nhất ý chí của
chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong nội dung hợp đồng mà chủ thể
này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để xác định một hợp đồng đã đảm bảo
nguyên tắc tự nguyện hay chưa. Hay nói cách khác, việc giao kết hợp đồng chỉ được
coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh một cách khách quan, trung
thực mong muốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng.
Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả những hợp đồng được giao kết do
bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe doạ đều không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi
giao kết và do đó bị vô hiệu.

15


KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua chương 1, em đã đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa với
những đặc điểm đặc trưng riêng của nó. Bên cạnh đó, em cũng đã khái quát được nội
dung chủ yếu của vấn đề giao kết hợp đồng mà pháp luật điều chỉnh, thấy được tầm
quan trọng của nó trong đời sống hàng ngày. Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa là một giao dịch phổ biến luôn diễn ra xung quanh chúng ta. Và để mọi người có
thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, em sẽ đi sâu phân tích thực trạng đồng thời chỉ ra những
thành công và bất cập của pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng tại chương 2

16


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ GIAO
KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SOHACO
VIỆT NAM
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp
đồng của doanh nghiệp



2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng của doanh nghiệp
Trong kinh doanh hiện đại, các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến
kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và việc giao kết được
hợp đồng hay không. Các yếu tố kinh tế bao gồm một phạm vi rất rộng từ các yếu tố
tác động đến hợp đồng mua bán hàng hóa. Các yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến
doanh nghiệp kinh doanh là: tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất tiền vay, tiền gửi ngân
hàng, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, mức độ thất nghiệp, cán cân thanh toán, chính
sách tài chính, tín dụng, kiểm soát về giá cả, tiền lương tối thiểu….
Bên cạnh đó, tìm hiểu pháp luật và đối tác là công việc quan trọng không thể
thiếu nhằm giúp phòng tránh rủi ro trong đàm phán, giao kết hợp đồng. Việc tìm hiểu
các thông tin cần thiết về đối tác như đăng ký kinh doanh và ngành nghề kinh doanh,
năng lực tài chính, người đại diện và giấy ủy quyền…là rất cần thiết để thiết lập quan
hệ hợp đồng an toàn và đáp ứng mục tiêu lợi nhuận. Khi tìm hiểu pháp luật và đối tác
cần lưu ý một số vấn đề như: Các chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực chủ thể
để thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng. Chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa
chủ yếu là thương nhân. Các hợp đồng được ký kết chủ yếu vì mục đích lợi nhuận, các
thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh hợp pháp để thực hiện
công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng. Đối với việc mua bán hàng hóa có điều kiện
kinh doanh thì thương nhân còn cần phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo
quy định của pháp luật. Như vậy, các bên cần phải tìm hiểu thông tin về tư cách pháp
lý, đăng ký kinh doanh và ngành nghề kinh doanh hợp pháp của đối tác. Mặt khác,
cũng cần phải lưu ý trong giao kết hợp đồng là đại diện của các bên giao kết hợp đồng
phải đúng thẩm quyền. Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo
pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Trong quá trình đàm phán và giao kết hợp
đồng, các bên cần phải biết rõ người đại diện cho các đối tác là ai, chức vụ và thẩm
quyền đại diện và thẩm quyền đại diện cho Doanh nghiệp của họ. Mỗi loại hình Doanh
nghiệp sẽ có người đại diện theo pháp luật khác nhau.
Hợp đồng thương mại được giao kết theo các nguyên tắc quy định cho hợp

Yêu cầu này có nghĩa là đề nghị giao kết HĐ phải có đầy đủ nội dung chủ yếu của loại
HĐ để cho phép bên nhận được đề nghị biết được rằng, để giao kết hợp đồng chỉ cần
họ thể hiện sự đồng ý của mình với đề nghị giao kết thì HĐ được giao kết.
Nội dung chủ yếu của HĐ là những điều khoản mà không thể thiếu được đối
với từng loại hợp đồng. Nếu không thỏa thuận được những điều khoản đó thì HĐ
không thể giao kết được. Tuy nhiên, BLDS 2005 hiện nay không quy định về nội dung
“chủ yếu” của HĐ mà chỉ quy định: Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa
thuận về những nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công
việc phải làm hoặc không được làm; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh
toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các
bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng; các nội dung khác
(Điều 402). Quy định này chỉ mang tính chất liệt kê các nội dung thường gặp trong
hợp đồng chứ không phải quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng (Nội dung chủ
yếu là những nội dung mà thiếu nó hợp đồng không thể được coi là giao kết). Ví dụ:
Các quy định về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện … nếu không có thỏa
thuận thì cũng đã có quy định của pháp luật. Như vậy, việc xác định nội dung chủ yếu
của đề nghị giao kết HĐ trên thực tế cũng rất khó khăn và phức tạp.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status