Nghiên cứu các biện pháp nhằm đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến bán hàng tại công ty cổ phần thuỷ sản 584 nha trang - Pdf 22



1

MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách lớn khi
chúng ta vừa gia nhập WTO. Cơ hội để hội nhập, phát triển bắt kịp với các nước trên thế
giới, thách thức về sự tụt hậu về những khó khăn cơ bản của một nền kinh tế thị trường
còn non trẻ. Các doanh nghiệp phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường,
phải đấu tranh cho sự sinh tồn của doanh nghiệp mình. Chính vì vậy, mọi doanh nghiệp
đều hướng các mục tiêu hoạt động về phía thị trường nhằm mục đích thu hút khách
hàng, chiếm ưu thế cạnh tranh và hạn chế rủi ro. Trước tình hình đó Marketing với các
chức năng quan trọng và các kỹ thuật hiệu quả của nó góp phần xây dựng mối quan hệ
vững chắc giữa các công ty với thị trường, nắm được nhu cầu, mong muốn của khách
hàng. Thông qua đó, công ty thực hiện được các mục tiêu về doanh số, thị phần và lợi
nhuận.
Đối với các doanh nghiệp trong cả lĩnh vực sản xuất và thương mại thì một trong
những chức năng quan trọng nhất của hoạt động Marketing là hoạt động xúc tiến bán
hàng. Nó góp phần qui định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Mục đích của
doanh nghiệp là đưa sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng. Điều đó có nghĩa là
làm cho người tiêu dùng tự nguyện chấp nhận sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp.
Vấn đề cốt lõi là không phải làm cho người tiêu dùng chấp nhận một lần mà là nhiều lần,
không phải là nhất thời mà là mãi mãi.
Công ty Cổ phần thuỷ sản 584- Nha Trang là một trong những công ty sản xuất
hàng tiêu dùng không đứng ngoài hệ thống trong các doanh nghiệp nói trên. Chính vì
vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến bán hàng là điều hết sức cần thiết để
công ty đưa ra thị trường sản phẩm của mình phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, đảm
bảo tối đa hoá doanh thu và lợi nhuận góp phần vào việc cải thiện vị trí của mình trên thị
trường.


2005- 2007. 3

4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận, em đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp luận
5 Bố cục của đề tài nghiên cứu:
Đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp nhằm đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến bán
hàng tại Công ty Cổ phần thuỷ sản 584 Nha Trang”. Gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến bán hàng.
Chương II: Thực trạng hoạt động xúc tiến bán hàng tại Công ty Cổ phần Tthuỷ
sản 584- Nha Trang.
Chương III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xúc tiến bán hàng tại
Công ty Cổ phần Thuỷ sản 584 Nha Trang.
Việc lựa chọn, tổ chức và xây dựng hoạt động xúc tiến bán hàng có hiệu quả là vấn
đề không hề đơn giản với bất kì nhà quản trị nào. Với kiến thức và khả năng có hạn cùng
với việc tiếp cận thực tế còn ít, nên dù cố gắng nhưng đề tài của em không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy em rất mong được đóng góp và chỉ dẫn của quý thầy cô, các cô
chú, các anh chị đang làm việc tại Công ty và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ dẫn tận tình của thầy Dương Trí Thảo, cùng các
thầy cô trường Đại học Nha Trang cũng như các cô chú, các anh chị làm việc tại Công ty
Cổ phần Thuỷ sản 584- Nha Trang đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất cho em hoàn thành đề tài này.
Nha Trang, ngày 9 tháng 11 năm 2008

Theo Philip Kotler thì xúc tiến là hoạt động thông tin marketing tới khách hàng
tiềm năng. Trong kinh doanh thông tin marketing là trao truyền, đưa đến, chuyển giao
những thông điệp cần thiết về sản phẩm, về doanh nghiệp, về phương thức phục vụ, về
những lợi ích mà khách hàng có được khi mua sản phẩm của doanh nghiệp, cũng như
thông tin cần thiết từ phía khách hàng. Qua đó, doanh nghiệp tìm ra cách thỏa mãn một
cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Theo luật thương mại, xúc tiến bán hàng là các hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy
cơ hội mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp.
Xúc tiến bán hàng gồm quảng cáo, khuyến mãi, giao tế và một số hoạt đông bán
hàng khác. . .
1.2 VAI TRÒ CỦA XÚC TIẾN BÁN HÀNG
Xúc tiến bán hàng có vai trò quan trọng trong các mục tiêu thông tin, thuyết phục
nhắc nhở. Một chiến lược xúc tiến bán hàng có thể:
• Thông tin về những lợi ích của sản phẩm đến khách hàng tiềm năng.
• Gíup tăng số lượng bán của những sản phẩm hiện hữu.
• Thiết lập nhận thức và thái độ thuận lợi đối với sản phẩm mới.
• Gíup tạo ra sự yêu thích nhãn hiệu nơi các khách hàng và củng cố sự phân phối
tại các điểm bán lẻ
• Gíup đạt được những sự hợp tác và hỗ trợ từ những người trung gian.
• Tạo ra được những nỗ lực lớn hơn của lực lượng bán hàng.
• Gíup xây dựng một hình ảnh thuận lợi hơn cho công ty 6

1.3 CÁC MỤC TIÊU CỦA XÚC TIẾN BÁN HÀNG
Chúng ta nhấn mạnh một điều rất cơ bản nhưng rất quan trọng:mục tiêu đúng đắn
là điểm trung tâm trong việc hoạch định chiến lược xúc tiến bán hàng. Việc xem xét các
mục tiêu xúc tiến bán hàng sẽ tập trung vào hai loại quá trình quyết định chính: quá trình
người mua quan tâm nhiều và quá trình người mua quan tâm ít.

thông tin mở rộng không cần thiết xẩy ra trước việc mua hàng, nên chúng ta không cần
phải có một chiến dịch để xây dựng nhận thức về sản phẩm và sau đó là hiểu biết và thay
đổi thái độ của người tiêu dùng. Kinh nghiệm trải qua về sản phẩm là phương tiện hiệu
quả hay là phương tiện hiệu quả hơn trong việc tạo nên ý kiến của người tiêu dùng.
Sau giai đoạn thực hiện một hoạt động xúc tiến nào đó, chúng ta tăng cường thái độ
thuận lợi của người tiêu dùng và làm cho họ lập lại hành động mua hàng bằng quảng cáo
nhắc nhở. Điều này cũng bảo đảm một mức độ quen thuộc với sản phẩm, giúp tác động
đến các lựa chọn tiếp theo.
1.3.3 Tầm quan trọng của các mục tiêu
Để xác định lên mục tiêu dúng đắn không phải một công việc đơn giản mà phải dựa
trên các cơ sở:
• Phải dựa trên sự hiểu biết về mục tiêu của công ty, mục tiêu tiếp thị.
• Phải dựa trên cơ sở hiểu biết rõ ràng đối tượng mục tiêu và các khuynh hướng
đáp ứng của họ đối với các mức độ thông tin khác nhau.
• Có thể lượng hóa được.
• Phản ánh càng nhiếu càng tốt hiệu quả thực tế của hoạt động xúc tiến bán hàng
1.4 CÁC CÔNG CỤ ĐỂ XÚC TIẾN BÁN HÀNG
1.4.1 Quảng cáo
1.4.1.1 Khái niệm
Theo Philip Kotler: Quảng cáo là bất kỳ hình thức trình bày và cổ động có tính
chất phi cá nhân cho những ý tưởng, hàng hóa hay dịch vụ mà nhà bảo trợ phải chi tiền để
thực hiện
Quảng cáo bán hàng là hoạt động sáng tạo nhằm đạt mục tiêu truyền bá thông tin
về sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà sản xuất cho các thành phần trung gian trong kênh
phân phối hoặc cho người tiêu dùng cuối cùng bằng những phương tiện truyền thông 8

trong một không gian và thời gian xác định để thu hút sự chú ý, thuyết phục khách hàng


- Khuyến khích chuyển sang dùng nhãn hiệu của mình.
- Gỉai thích nguyên tắc sử dụng hàng.
- Đính chính những quan niệm không đúng về sản phẩm
- Hình thành hình ảnh công ty.
• Mục tiêu so sánh: quảng cáo thể hiện được sự so sánh giữa các sản phẩm cùng bán
trên thị trường.
- Chứng tỏ được sự khác biệt, đặc trưng riêng có của sản phẩm.
- Thuyết phục thông qua sản phẩm quảng cáo có điểm tốt hơn sản phẩm cùng
loại
• Mục tiêu nhắc nhở: Quảng cáo nhắc nhở người tiêu dùng về hàng hóa mà có thể
cần đến trong tương lai.
- Nhắc nhở về sự tồn tại của sản phẩm.
- Nhắc nhở người tiêu dùng về nơi có thể mua hàng.
- Lưu lại trong trí nhớ người tiêu dùng.
- Duy trì mức độ hay biết hàng hóa ở mức cao.
b. Xác định ngân sách dành cho quảng cáo:
Quyết định ngân sách rất quan trọng vì ảnh hưởng sâu xa nên hiệu quả của chiến
dịch. Người đặt kế hoạch quảng cáo thường đặt ra hai câu hỏi đơn giản nhưng quan
trọng sau đây:
- Chúng ta nên chi tiêu bao nhiêu tiền để đạt được mục tiêu đã định?
- Chúng ta phải chi tiêu bao nhiêu tiền để đạt được mục tiêu đã định?
Qui mô ngân sách xác định số lượng và tầm quan trọng của các khả năng chiến lược mà
nhà kế hoạch có thể chọn lựa. Một ngân sách quá nhỏ không đủ để xem xét các nỗ lực
quảng cáo nào có hiệu quả nhất.
Mặt khác, một ngân sách cung cấp quá nhiều tiền hơn cần thiết có thể khuyến
khích việc tiêu xài hoang phí ở những bộ phận mà chỉ có thể những đóng góp ít nhất vào
chương trình. 11

Ưu điểm:
• Lựa chọn đối tượng: Quảng cáo trên tạp chí sẽ tiếp cận được đối tượng mục
tiêu đã được xác định rõ theo khu vực địa lý hay nhân khẩu học. Tạp chí có
độ linh hoạt cao trong vấn đề lựa chọn đối tượng ở phạm vi cả nước và ở
từng địa phương.
• Quảng cáo chất lượng cao không phô trương: Do người đọc có thể chủ
động trước họ phải đọc gì và khi nào đọc, như vậy quảng cáo trên tạp chí
can thiệp vào cuộc sống người đọc ít hơn nhiều so với quảng cáo trên truyền
hình.
• Tuổi thọ cao: Không giống như báo, tạp chí thường tồn tại lâu hơn. Người ta
đọc nó lưu giũ và truyền cho những người khác xem. Theo nghiên cứu một
người đọc phải mất từ 2-5 ngày để đọc hết một cuốn tạp chí.
Nhược điểm:
• Ngày hết hạn đăng ký sớm: Nên nó đòi hỏi nhà quảng cáo phải nộp mẫu
quảng cáo cảu mình một thời gian khá lâu trước ngày phát hành tạp chí, thông
thường là hai tuần.
• Sự tắc nghẽn các thông tin cạnh tranh: Số lượng các trang nội dung và
quảng cáo ngày càng lớn của tạp chí sẽ gây khó khăn cho thông điệp của nhà
quảng cáo trong việc thu hút sự chú ý và quan tâm của người đọc.
• Phân phối thông điệp một chiều: Quảng cáo trên tạp chí chỉ chuyển tải
thông điệp qua hình ảnh nên mất đi cơ hội chứng tỏ sản phẩm một các đầy đủ.
• Chi phí phần ngàn cao: Do qui mô nhóm đối tượng tương đối nhỏ và giá
trị của đối tượng đối với nàh quảng cáo bị định đoạt bởi chủ tạp chí.
 Truyền hình:
Ưu điểm:
• Về phạm vi: Truyền hình là một phương tiện tiếp cận được với hầu hết mọi

xe may,ô tô hay trên các phương tiện chuyên chở công cộng hay
đơn giản là đi bộ
• Bộc lộ hay tác động lặp lại: Quảng cáo ngoài trời xuất hiện dọc theo hoặc
gần các nơi giao thông. Phô bày tại các khu vực giao thông đông 13

đúc như tại các giao độ chính, nên tiếp cận được với nhiều đối
tượng và có tác động lặp đi lặp lại.
• Chi phí thấp: Với mức giá thay đổi( tùy theo vật liệu là bảng quảng cáo
bình thường, hộp đèn hay đèn neon) từ 100USD/m -250USD/m
thì tính trên chi phí phần ngàn và với tác đông lặp đi lặp lại. Do
đó chi phí của quảng cáo ngoài trời sẽ thấp hơn so với quảng cáo
trên báo hay trên truyền hình
• Tác động thị giác: các đặc trưng: kích thước to, máu sắc sống động, sáng. .
. gây ấn tượng mạnh mẽ.
Nhược điểm:
• Hiệu quả thị giác đơn giản
• Mức độ chú ý thấp do tình cờ
• Bối cảnh lộn xộn
 Quảng cáo trực tiếp đến khách hàng.
• Thư gửi cho khách hàng

• Điện thoại trực tiếp
 Quảng cáo tại các điểm bán hàng
• In ấn catalogue
• Bảng hiệu cửa hàng nhà phân phối, đại lý, cửa hàng bán lẻ
• Tủ kệ trưng bày
d. Phương thức quảng cáo

còn đo hiệu quả của một quảng cáo bằng những thước đo khác như: mức độ nhận biết,
mức độ ưa thích và mức độ thay đổi hành vi mua hàng qua việc chuyển dổi thương hiệu.
Đánh giá hiệu quả quảng cáo luôn đòi hỏi tính chính xác song lại rất khó đo được
một cách chính xác vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng như lúc đó đối thủ cạnh tranh có quảng
cáo không? Sản phẩm quảng cáo có đang ở cuối vòng đời không ? Người tiêu dùng đã bao
giờ sử dụng sản phẩm này chưa?
Quảng cáo là một sự kết hợp hài hòa giữa khoa học và nghệ thuật qua đó doanh
nghiệp đối thoại với người tiêu dùng bằng nhiều cách khác nhau, đòi hỏi những nghiên
cứu và thấu hiểu sâu sắc về sản phẩm, kinh doanh lẫn yếu tố tâm lý con người. Thị trường 15

thay đổi nhanh chóng, liên tục và đầy ắp thông tin nên phải bám sát, nghiên cứu kỹ lưỡng
thị trường và chuẩn bị nghiêm túc, để có thể xây dựng một chiến dịch quảng cáo đầy đủ và
thành công cho thương hiệu.
1.4.2 Khuyến mãi
1.4.2.1 Khái niệm
Theo hiệp hội các công ty quảng cáo Mỹ: khuyến mãi là bất kỳ hoạt động mà tạo ra
một động cơ để mua sản phẩm ngoài các lợi ích vốn có của sản phẩm.
Khuyến mãi là hoạt động tiếp thị làm thay đổi giá hoặc giá trị của sản phẩm, dịch
vụ trong một thời gian cụ thể và tác động trực tiếp đến quyết định mua hàng của người
tiêu dùng, hệ thống phân phối và nỗ lực của đội ngũ bán hàng cho sản phẩm, dịch vụ đang
có khuyến mại.
Khuyến mại bao gồm rất nhiều công cụ phiếu thưởng, thi đố, quà tặng, giảm giá,…
hay còn gọi là các kích thích ngắn hạn nhằm khích lệ người mua hay bán một sản phẩm
hoặc một dịch vụ. Tất cả đều có những phẩm tính độc đáo riêng của nó, các công ty dùng
đến công cụ khuyến mãi để tạo ra sự đáp ứng nhanh và mạnh hơn. Tuy nhiên, ảnh hưởng
của khuyến mại thường ngắn ngủi và không hữu hiệu trong việc xây dựng sự ưu chuộng
lâu dài đối với sản phẩm.

Có nhiều biện pháp khuyến mãi đối với người tiêu dùng và mỗi biện pháp riêng lẻ
đều thành công với từng mục đích của nó. Tuy nhiên, sự kết hợp các biện pháp này một
cách hợp lý sẽ có tác động hữu hiệu hơn.
Trưng bày tại nơi mua hàng: Đó là việc sử dụng các vật liệu như áp phích, giá để
hàng, bảng hiệu, hàng trưng bày, hàng trưng bày có chuyển động, băng rôn, khung để
bảng giá được sử dụng như một cách để nhắc nhở lại các quảng cáo sản phẩm trên các
phương tiện truyền thông.
Phiếu giảm giá mua hàng: Là phiếu xác nhận được phân phối bởi nhà sản xuất hay
người cung cấp và được hoàn lại tại điểm bán lẻ cho nhà sản xuất hay phân phối, tạo cho
người tiêu dùng cơ hội mua hàng với giá ưu đãi một sản phẩm nào đó.
Qùa tặng: Bao gồm quà tặng trực tiếp được kẹp vào gói hàng, để trong gói hàng, để
gần gói hàng hoặc là vật chứa hàng; quà tặng người nhận phải trả một phần; quà thưởng
tại chỗ; quà tặng theo phiếu thực hiện liên tục 17

Hàng mẫu: Có thể gửi đến từng nhà qua bưu điện hoặc nhận thoải mái tại cửa hàng
Tổ chức các cuộc thi có thưởng và xổ số: Các cuộc thi có thể là tạo ra một khẩu
hiệu hay biêủ tượng, vẽ một áp phích liên quan tới một chủ đề nhất định. Bốc thăm các
phiếu tham gia của những người tham dự cuộc xổ số nên không đòi hỏi một kỹ năng nào
hết.
Giảm giá trực tiếp: hoàn tiền một phần, thưởng thêm hàng, hoặc phối hợp các hình
thức với nhau.
Tặng phẩm quảng cáo: Là hình thức phân phối các vật phẩm hữu ích, trên này ghi
tên huy hiệu, và thông điệp quảng cáo ngắn của nhà quảng cáo.
b Khuyến mãi với trung gian phân phối và lực lượng bán hàng
- Hỗ trợ chi phí bán hàng.
- Hợp tác quảng cáo: quảng cáo hợp tác theo chiều dọc và chiều ngang nhằm
giúp người tiêu dùng liên hệ sản phẩm của nhà sản xuất với một cửa hàng cụ thể, khuyến

cậy.
PR là các hoạt động đánh giá các giới liên quan, xác định chính sách và thứ tự của
cá nhân hay tổ chức có ảnh hưởng đến lợi ích của các giới này và thực hiện sách lược
hành động để dành được sự thông hiểu và tin tưởng của công chúng, chính quyền địa
phương, giới tài chính, cộng đồng dân cư, nhà cung cấp, khách hàng, vv. .
Hoạt động PR gắn lợi ích công ty với phúc lợi xã hội tài trợ giáo dục, xây dựng
nhà tình nghĩa, bảo vệ môi trường. . .
1.4.3.2 Vai trò của giao tế
Mục tiêu cơ bản của giao tế là xây dựng và nâng cao hình ảnh tích cực về công
việc trong các giới liên quan. Giao tế tìm cách thuyết phục những người thuộc các giới
này rằng công ty là một tổ chức hấp dẫn và họ nên quan hệ giao dịch kinh doanh với
công ty.
• Giao tế thiết lập và nâng cao hình ảnh nhãn hiệu hay hình ảnh sản phẩm, bằng
cách đố thuyết phục khách hàng mua sản phẩm cụ thể.
• Tạo sự hiểu biết của khách hàng đến sản phẩm và công ty.
• Một khi hình ảnh công ty và hình ảnh sản phẩm hòa hợp với nhau thì quyết định
mua sản phẩm hay quyết định hợp tác với công ty sẽ dễ dàng hơn. 19

• Gỉam bớt chi phí chào hàng khuyến mãi.
1.4.3.3 Chi phí cho hoạt động giao tế
Một trong những cách đo lường mức độ quan trọng của hoạt động giao tế là xem
thử các công ty chi bao nhiêu cho hoạt động này. Việc xác định chi phí chính xác cho
hoạt động giao tế gặp nhiều khó khăn vì:
- Chi phí tỷ lệ nghịch với các mục tiêu thông tin đã xác định.
- Giao tế là tổng hợp của các phương pháp và kỹ thuật khác nhau từ quảng cáo tổ
chức cho đến các bản tin và tham gia các sự kiện đặc biệt.
- Chi phí cho các hoạt động này thì gần như không thể tính toán tổng cộng được.

Bán hàng trực tiếp là một hoạt động xúc tiến tập trung vào từng người mua của thị
trường mục tiêu, sau đó nuôi dưỡng và khuyến khích một sự chuyển tiếp nhanh chóng từ
việc nhận thức vấn đề cho đến hành động mua nhằm tiết kiệm thời gian cho cả người
mua lẫn người bán.
Nhân viên bán hàng có nhiệm vụ cung cấp thông tin cần thiết về sản phẩm cũng
như về doanh nghiệp cho khách hàng.
Nhân viên bán hàng là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên có nhiệm vụ thu
thập thông tin về khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh tranh.
Các nhân viên bán hàng có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ khác nhau cho khách
hàng, tư vấn cho khách hàng khác nhau trong tiêu dùng cũng như hỗ trợ kỹ thuật, xúc
tiến nhanh việc giao hàng, hỗ trợ giúp kiểm tra hàng tồn kho, bày hàng, cất hàng lên kệ
Một vai trò khác của bán hàng trực tiếp khác là thông qua nó các khách hàng sẽ
đảm nhận, đánh giá được tiềm năng của doanh nghiệp, qua đó lựa chọn cho mình nơi
cung cấp có hiệu quả.
1.4.4.2 Hội chợ triển lãm
a. Khái niệm
Hội chợ thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại tập trung cho một thời gian
và một thời điểm nhất định. Trong đó tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh được trưng
bày hàng hóa của mình nhằm tiếp thị ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Hội chợ là hoạt
động mang tính định kỳ được tổ chức tại một địa điểm, thời gian nhất định, là nơi người
bán và người mua trực tiếp giao dịch. 21

Triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại thông qua việc trưng bày hàng
hóa, tài liệu về hàng hóa để giới thiệu, quảng cáo nhằm mở rộng và thúc đẩy việc tiêu thụ
hàng hóa.
b. Tác dụng của việc tham gia hội chợ triển lãm của các doanh nghiệp
- Cơ hội để các doanh nghiệp tiếp cận khách hàng mục tiêu của mình.

- Giới thiệu hàng hoá: người phụ trách tại gian hàng cần luôn có mặt tại hội chợ
triển lãm trong những ngày đầu tiên. Luôn chuẩn bị đủ danh thiếp và tài liệu để phát
cho khách thăm.
- Giao tiếp và bán hàng tại hội chợ triển lãm: phân loại khách thăm để cử người
tiếp xúc làm việc. Ghi nhận những trao đổi, thoả thuận với khách hàng và lên kế
hoạch làm việc cho ngày tiếp theo. Hẹn lịch làm việc và đàm phán với họ về những
hợp đồng tương lai hoặc ký kết nagy hợp đồng.
 Sau hội chợ triển lãm.
- Đánh giá kết quả đạt được khi tham gia hội chợ triển lãm, so sánh mục đích ban
đầu đề ra.
- Thực hiện các hợp đồng đã ký kết
- Phân loại khách hàng và đối tác tiềm năng, phân công người theo dõi, đàm phán
với họ
23


Năm 1987 Ủy ban kế hoạch đổi tên trạm thành Xí nghiệp thủy sản Nha Trang. Xí
nghiệp có nhiệm vụ phân bổ, đổi xăng dầu, lưới, ngư cụ cho ngư dân, hợp tác xã khai
thác của địa phương để đổi lấy các sản phẩm của địa phương như nước mắm, cá khô,
phân phối đi các tỉnh không có nguồn lợi thủy sản như ĐăkLăc, Gia Lai,
Năm 1990, do nhu cầu về các mặt hàng thủy sản còn hạn chế, nên Xí nghiệp đã
tìm hướng đi mới là cắt giảm và loại bỏ những mặt hàng không có hiệu quả, chỉ đầu tư
vào sản xuất mặt hàng nước mắm cho phù hợp với quy mô và năng lực sản xuất. Nhờ
nắm bắt được nhu cầu thị trường, xí nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả, quy mô sản
xuất không ngừng được mở rộng. Doanh thu của công ty không ngừng tăng lên. Sản
phẩm của công ty đã có chỗ đứng trên thị trường và đã có mặt trên 20 tỉnh thành khác
nhau trong cả nước. Sản phẩm của công ty nhiều năm liền đều đạt danh hiệu Hàng việt
nam chất lượng cao (từ năm 2000). Đây là danh hiệu có uy tín dành cho các doanh
nghiệp do người tiêu dùng bình chọn hàng năm.
Do đòi hỏi thực tế của nền kinh tế nước ta và chủ trương cổ phần hóa một số
doanh nghiệp nhà nước, thực hiện quyết định số 1287/QDD-BTS của Bộ thủy sản
ngày 11/11/2005 về việc phê duyệt phương án và chuyển xí nghiệp thủy sản Nha
Trang, thuộc công ty xuất nhập khẩu miền Trung thành công ty cổ phần. Đến 3/2006
công ty chính thức trở thành công ty cổ phần thủy sản 584 Nha Trang.
Tên đầy đủ : Công ty cổ phần thủy sản 584 Nha Trang. 25

Tên giao dịch: TRASECOM.
Tên tiếng Anh : 584 Nha Trang Seaproduct joint – stock company.
Địa chỉ: 584- Lê Hồng Phong- Nha Trang- Khánh Hòa.
Điện thoại : 058.881176 - 058.883184.
Fax : 058.884442.
Mã số thuế: 4200636551.
Email:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status