ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
TRƯỜNG CAO ĐẢNG NGHỀ YÊN BÁI
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
TRÌNH ĐỘ : CAO ĐẲNG NGHỀ
Tháng 8 năm 2014
Trường cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: Kinh tế vĩ mô
MỤC LỤC
Trang
Chương I:
KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VÀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
1. Khái niệm về kinh tế học và những đặc trưng của kinh tế học
1.1. Khái niệm về kinh tế học
1.2. Những đặc trưng của kinh tế học
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học
2.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô
2.2. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học
3. Tổ chức kinh tế của một nền kinh tế hỗn hợp
3.1. Ba chức năng cơ bản của một nền kinh tế học
3.2. Tổ chức kinh tế của một nền kinh tế hỗn hợp
4. Một số khái niện liên quan cơ bản
4.1. Yếu tố sản xuất
8
8
8
9
10
10
11
14
14
14
16
16
18
18
19
19
20
20
21
22
24
24
24
27
28
29
29
31
31
33
1.2.3. Trong mô hình kinh tế mở
52
2. Chính sách tài khóa
52
2.1. Khái niệm
53
2.2. Cách thức và tác động của chính sách tài khóa
55
2.3. Vấn đề thêm hụt ngân sách và các biện pháp tài trợ
56
3. Câu hỏi ôn tập
Chương IV
59
TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
59
1. Chức năng của tiền tệ
59
1.1. Định nghĩa
59
1.2. Chức năng của tiền tệ
60
1.3. Các loại tiền tệ
61
2. Thị trường tiền tệ
61
2.1. Cầu tiền
63
2.2. Cung tiền
67
2.3. Sự cân bằng tiền tệ
Giáo trình môn: Kinh tế vĩ mô
Trường cao đẳng nghề Yên Bái
79
1.3. Sự cân bằng thị trường lao động
80
2. Tổng cung và các mô hình tổng cung
80
2.1. Tổng cung
81
2.2. Các mô hình t�hính phủ phải giảm chi tiêu hoặc tăng
thuế hoặc cả hai biện pháp, ngân sách sẽ trở nên cân bằng. Đổi lại, chi tiêu của nền
kinh tế giảm đi, sản lượng cũng sẽ giảm theo, suy thoái sẽ thêm sâu sắc.
Nếu mục tiêu của Chính phủ là giữ cho nền kinh tế luôn ở mức sản lượng tiềm
năng với mức việc làm đầy đủ, thì Chính phủ phải thực hiện chính sách tài khóa
ngược chiều (với chu kỳ kinh doanh). Lúc đó, khi nền kinh tế suy thoái, Chính phủ
cần tăng chi tiêu hoặc giảm thuế hoặc áp dụng cả hai biện pháp nhằm giữ cho chi tiêu
ở mức cao, sản lượng tăng lên đến sản lượng tiềm năng. Đổi lại ngân sách sẽ bị thâm
hụt. Thâm hụt đó gọi là thâm hụt cơ cấu do chính sách chủ quan của Chính phủ.
Việc Chính phủ áp dụng chính sách cùng chiều hay ngược chiều(với chu kỳ
kinh doanh) phụ thuộc rất nhiều vào chu kỳ chính trị, vào các tình huống kinh tế cụ
thể của mỗi nước ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau.
54
Giáo trình môn: Kinh tế vĩ mô
Trường cao đẳng nghề Yên Bái
2.3.Vấn đề thâm hụt ngân sách và các biện pháp tài trợ.
- Thâm hụt ngân sách chu kỳ: Đó là thâm hụt ngân sách bị động do tình trạng
của chu kỳ kinh doanh.
Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu. Trong
ba loại thâm hụt ngân sách trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ quan
của chính sách tài khóa như: định ra thuế suất, phúc lợi, bảo hiểm...Vì vậy để đánh giá
kết quả của chính sách tài khóa phải sử dụng thâm hụt cơ cấu.
b) Thâm hụt ngân sách và vấn đế tháo lui đầu tư
55
Giáo trình môn: Kinh tế vĩ mô
Trường cao đẳng nghề Yên Bái
Các biện pháp của chính sách tài khóa chủ động gây nên thâm hụt cơ cấu và
kéo theo hiện tượng tháo lui đầu tư.
Cơ chế thao lui đầu tư: Khi G tăng (hoặc T giảm) GNP sẽ tăng lên theo hệ số
nhân, nhu cầu về tiền tăng theo. Với mức cung tiền cho trước, lãi suất sẽ tăng lên, bót
nghẹt một số đầu tư. Kết quả là một phần GNP tăng lên có thể bị mất đi do thâm hụt
cao kéo theo tháo lui đầu tư. Vì vậy, tác động của chính sách tài khóa sẽ giảm đi. Tác
động tương tự cũng có thể xảy ra đối với tiêu dùng.
Có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề quy mô của tháo lui đầu tư.
Điều phỏng đoán tốt nhất là: Về mặt ngắn hạn, quy mô của tháo lui đầu tư là nhỏ.
Song về mặt dài hạn quy mô này có thể rất lớn. Do đó cần phải có sự phối hợp chặt
chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ.
c) Các biện pháp tài trợ cho thâm hụt ngân sách
Khi thâm hụt quá lớn và kéo dài, các Chính phủ đều phải nghĩ đến các biện
pháp hạn chế thâm hụt. Biện pháp cơ bản thường là tăng thu và giảm chi. Tuy vậy,
vấn đề đặt ra là phải tính toán số tăng thu và giảm chi thế nào để gây ảnh hưởng ít
nhất đến tăng trưởng kinh tế.
Khi các biện pháp tăng thu và giảm chi không giải quyết được toàn bộ thâm
lượng gây ra bởi sự gia tăng đầu tư này.
Câu 5: Xét một nền kinh tế đóng có sự tham gia của Chính phủ. Tiêu dùng tự
định là 300 triệu đồng và xu hướng tiêu dùng cận biên là 0,8. Đầu tư trong nước của
khu vực tư nhân bằng 200 triệu đồng. Chính phủ chi tiêu 300 triệu đồng và thuế suất
là 25% thu nhập quốc dân
a. Xây dựng hàm tiêu dùng
b. Xây dựng hàm tổng cầu
c. Xác định mức sản lượng cân bằng
d. Giả sử Chính phủ tăng chi tiêu thêm 200 triệu đồng. Hãy tính số nhân chi
tiêu và sự thay đổi mức sản lượng cân bằng.
Câu 6: Xét một nền kinh tế mở có xuất khẩu bằng 5 tỷ đồng và xu hướng nhập
khẩu cận biên là 0,14. Tiêu dùng không phụ thuộc vào thu nhập là 10 tỷ đồng và xu
hướng tiêu dùng cận biên là 0,8. Đầu tư trong nước của khu vực tư nhân bằng 5 tỷ
đồng. Chính phủ chi tiêu 40 tỷ đồng và thu thuế bằng 20% thu nhập quốc dân.
a. Xác định hàm tiêu dùng
b. Xây dựng hàng tổng cầu
c. Xác định mức sản lượng cân bằng.
Bây giờ, giả sử chính phủ tăng chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ thêm 20 tỷ
đồng. Hãy:
b. Xác định mức sản lượng cân bằng mới
Câu 7: Trong nền kinh tế mở, cho biết xu hướng tiêu dùng cận biên từ thu nhập
quốc dân là 0,8 và xu hướng nhập khẩu cận biên là 0,4. Thuế là hàm của thu nhập (T
= t.Y)
a. Giả sử đầu tư tăng thêm 100 tỷ đồng còn các yếu tố khác không đổi thì mức
sản lượng cân bằng và xuất khẩu ròng sẽ thay đổi như thế nào?
b. Giả sử xuất khẩu tăng thêm 100 tỷ đồng chứ không phải tăng đầu tư, thì cán
cân thương mại sẽ thay đổi như thế nào?
Câu 8: Xét một nền kinh tế có xu hướng tiêu dùng cận biên là 0,8 và thuế suất
là 1/3. Cả tiêu dùng tự định và đầu tư đều là 100 tỷ đồng và chi tiêu của chỉnh phủ là
500 tỷ đồng.