HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG VĂN KHẢI
GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN
VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA
DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG VĂN KHẢI
GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH
CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHỦ
NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY
VẬT LỊCH SỬ Mã số: 62 22 03 02
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS, TS Vũ Hồng Sơn
2. PGS, TS Đặng Quang Định
2.1. Khái niệm, nội dung giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.................35
2.2. Những nhân tố tác động đến việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.......64
Chƣơng 3. GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ
HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA................................................................77
3.1. Thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay..................................77
3.2. Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.....115
Chƣơng 4. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ
NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY..................................................................................................................................... 124
4.1. Nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết
quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội...............................................124
4.2. Tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối nhằm đảm bảo
công bằng và tổ chức thực hiện tốt trên thực tế để giải quyết quan hệ
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội............................................................130
4.3. Khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng
thời thực hiện lợi ích xã hội..........................................................................140
4.4. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện
tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội............................................145
KẾT LUẬN..............................................................................................................................156
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN.................................................................................................................158
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................159
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
: Đối tượng sở hữu
HTSH
: Hình thức sở hữu
KTTT
: Kinh tế thị trường
KTTN
: Kinh tế tư nhân
KTNN
: Kinh tế nhà nước
LLSX
: Lực lượng sản xuất
LIXH
: Lợi ích xã hội
LICN
: Lợi ích cá nhân
định: “Lợi ích là thuộc tính tất yếu của con người và nó gắn kết các thành viên xã
hội dân sự lại với nhau” [88, tr.184]. Trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội, sự
tác động lẫn nhau giữa các chủ thể lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu sẽ hình thành
quan hệ lợi ích. Mối quan hệ giữa các lợi ích, đặc biệt giữa lợi ích cá nhân (LICN)
và lợi ích xã hội (LIXH), tạo nên những vector thúc đẩy hoạt động của con người và
sự vận động của xã hội theo những chiều hướng khác nhau, mạnh yếu khác nhau.
Tuy nhiên, quan hệ giữa các chủ thể lợi ích luôn nảy sinh vấn đề phức tạp, chứa
đựng những mâu thuẫn, nhất là giữa LICN và LIXH, bởi lợi ích luôn biến đổi theo
sự biến đổi của nhu cầu xã hội. Cho đến hiện nay, ở tất cả các cấp độ của lý luận lợi
ích nói chung, LICN và LIXH nói riêng vẫn đặt ra những vấn đề cần phải nghiên
cứu, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường (KTTT) - nơi các loại lợi ích thể hiện
vai trò của mình một cách đặc thù, khác biệt so với các điều kiện xã hội khác.
Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN hiện
nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò làm động lực của lợi ích đối với sự
tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng khi chúng ta giải quyết được hài hòa các
quan hệ lợi ích khác nhau, đặc biệt là quan hệ giữa LICN và LIXH - quan hệ lợi
ích căn bản của xã hội, nếu không thì trái lại, mâu thuẫn, xung đột lợi ích sẽ trở
thành lực cản sự tiến bộ xã hội, có thể phá hoại nghiêm trọng những thành quả bước
đầu mà đất nước đạt được, thậm chí xuất hiện những vấn đề chính trị - xã hội phức
tạp. Ở nước ta trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, khi chúng ta đi ngày càng đi
sâu vào nền KTTT, vấn đề lợi ích nói chung, LICN và LIXH nói riêng lại trở nên
2
phức tạp, tạo ra những vấn đề “nóng” cần phải giải quyết. Xuất hiện những biểu hiện
của sự mất cân bằng trong giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, trong nhiều biểu
hiện chính là việc đề cao quá mức LICN hoặc LIXH. Một số lực lượng xã hội nhân
danh lợi ích, để mưu cầu LICN không chính đáng, xâm phạm LIXH. Những hiện tượng
tham ô, tham nhũng, lãng phí, gây thất thoát tài sản Nhà nước, buôn lậu, trốn thuế,
hàng giả, hàng kém chất lượng, lừa đảo, lợi ích nhóm tiêu cực lũng đoạn việc quản lý,
ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa
quan hệ giữa LICN và LIXH góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước theo định
hướng XHCN.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận án cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ
thể như sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về việc giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH như khái niệm, nội dung, phương thức và các nhân tố tác động.
- Phân tích thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt
ra từ giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện
nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN
và LIXH góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN ở Việt
Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện
KTTT ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, giải quyết quan hệ giữa
LICN và LIXH là vấn đề rất rộng, ở đây, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu việc giải
quyết quan hệ giữa LICN và LIXH chủ yếu thông qua lợi ích kinh tế trong lĩnh vực
sở hữu và phân phối; chủ thể giải quyết quan hệ lợi ích này chủ yếu là Đảng, Nhà
nước, xã hội và cá nhân. Luận án cũng chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu LICN là lợi
4
ích của cá nhân cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thân, đảm bảo sự phát triển của
mỗi cá nhân; LIXH ở đây chính là lợi ích của cả xã hội với tính cách là một dân tộc
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch s để phân tích bản chất của lợi ích, điều kiện hình thành, tồn tại,
biến đổi và tính lịch s của lợi ích, LICN, LIXH, quan hệ giữa LICN và LIXH...
Luận án s dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, các phương pháp thu
thập và x lý số liệu, thông tin (thứ cấp)... để phân tích thực trạng việc giải quyết
quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay bằng các
dẫn liệu cụ thể.
6. Ý nghĩa của luận án
- Góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận cho Đảng, Nhà nước trong việc đề
ra các chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay.
- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho
những người làm công tác quản lý xã hội xây dựng và thực hiện tốt các chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhằm giải quyết quan hệ giữa LICN và
LIXH trong những điều kiện cụ thể nhất định ở nước ta hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
giảng dạy, nghiên cứu giảng dạy triết học, các ngành khoa học xã hội và nhân văn
tại các học viện, trường đại học, cao đẳng, trường chính trị tỉnh (thành phố).
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm: 04
chương, 12 tiết.
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
7
Năm 2005, tác giả Lê Thị Kim Chi trong cuốn sách Nhu cầu: động lực và định
hướng xã hội [15] đã có những phân tích cụ thể về mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích,
theo đó, tác giả khẳng định: “Lợi ích xuất hiện trong quan hệ giữa nhu cầu của con
người với môi trường xung quanh; lợi ích thể hiện mối quan hệ xã hội giữa con người
với con người nhằm thỏa mãn nhu cầu; lợi ích là cái trung gian giữa nhu cầu và hoạt
động của con người, là động lực thúc đẩy hoạt động của con người và của xã hội” [ 15,
tr.31]. Những phân tích của tác giả về quan hệ nhu cầu và lợi ích đã gợi mở cho chúng
tôi nghiên cứu sâu thêm về vấn đề lợi ích trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Năm 2010, trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công
nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay [36], tác giả Đặng Quang Định trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, đã
nêu rõ định nghĩa về lợi ích: “lợi ích là cái phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ
thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp,
tầng lớp...) trong những điều kiện lịch s - xã hội nhất định” [36, tr.30]. Từ đó, tác giả
khẳng định: “về bản chất, lợi ích là cái phản ánh quan hệ của các chủ thể nhu cầu,
còn nội dung là để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể ấy” [36, tr.30]. Chúng tôi đồng ý
với quan điểm này và coi đây là tài liệu tham khảo rất có ý nghĩa.
Năm 2012, cũng trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, song đề cập đến khía
cạnh động lực của lợi ích đối với con người, tác giả Lê Văn B u, trong công trình
Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng
Nam bộ hiện nay [9] đã nêu: “Lợi ích là sự thể hiện mâu thuẫn khách quan giữa nhu
cầu và điều kiện để thỏa mãn nhu cầu. Trong khi thể hiện mâu thuẫn nói trên, lợi ích
kích thích tính tích cực, sáng tạo của con người và “thúc ép” con người phải hành
động, đấu tranh vì lợi ích của mình” [9, tr.35]. Đây là quan điểm mà chúng tôi cũng
đã có sự tham khảo trong quá trình nghiên cứu về lợi ích.
Như vậy, vấn đề khái niệm, bản chất của lợi ích cũng đã được nhiều học giả
trong và ngoài nước nghiên cứu trong những giai đoạn lịch s khác nhau, song có thể
thấy, cơ bản đều thống nhất quan hệ lợi ích là khách quan, là cái phản ánh quan hệ
là một bài viết, song đây là công trình có nhiều gợi mở, tạo tiền đề cho chúng tôi
nghiên cứu các vấn đề lý luận về vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội.
Năm 2011, trong công trình Lợi ích - động lực của sự phát triển bền vững
[84]
tác giả Hoàng Văn Luân đã khẳng định: Mâu thuẫn lợi ích và giải quyết mâu
thuẫn lợi ích là động lực phát triển xã hội [84, tr.93]. Trên cơ sở đó tác giả nêu ra
9
những định hướng quan hệ lợi ích vì sự phát triển xã hội, trong đó nêu khá cụ thể
các nguyên tắc và biện pháp điều chỉnh cũng như điều chỉnh một số quan hệ lợi ích
cơ bản của xã hội, đặc biệt nhấn mạnh đến việc điều chỉnh chính sách kinh tế. Đây
là công trình có nhiều giá trị đối với chúng tôi trong việc phân tích về lợi ích, cũng
như có những gợi mở để nghiên cứu về việc giải quyết các lợi ích.
Về phân loại lợi ích
Các công trình về lợi ích nêu trên đều đã đề cập về phân loại lợi ích theo
nhiều cách tiếp cận, nhiều tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, ở góc độ khái quát, theo
tác giả Đặng Quang Định trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp
công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay [Theo 36], đã phân tích cách phân loại lợi ích của các học giả Liên
Xô được đề cập trong “Bách khoa toàn thư Liên Xô”, viết năm 1972, trên cơ sở các
nguyên tắc, tiêu chí nhất định, lợi ích phân loại như sau: dựa vào các lĩnh vực của
đời sống xã hội, chia thành lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi
ích chính trị; dựa vào phạm vi cộng đồng, chia thành LICN, lợi ích giai cấp, lợi ích
tập thể, LIXH; dựa vào xu hướng khách quan của sự phát triển xã hội, chia thành
lợi ích tiến bộ, lợi ích bảo thủ;…
Ngoài ra, lợi ích còn có thể phân loại dựa trên một số căn cứ sau: dựa vào
thời gian tồn tại của lợi ích, chia thành lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; dựa vào
thuẫn lợi ích cụ thể.
Vấn đề lợi ích kinh tế cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những
năm 80 của thế kỷ trước, phải kể đến như:
Năm 1982, trong cuốn sách Bàn về các lợi ích kinh tế [132], các tác giả Đào
Duy Tùng, Lê Xuân Tùng, Vũ Hữu Ngoạn… đã phân tích và đưa ra quan niệm về
lợi ích kinh tế: “lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của những quan hệ kinh tế,
quan hệ giữa người với người trong sản xuất” [132, tr.9]. Ở điểm khác các tác giả
phân tích “Lợi ích kinh tế của xã hội là lợi ích của nhân dân lao động trên phạm vi
cả nước, lợi ích của tất cả các tập đoàn, các thành viên của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Lợi ích kinh tế của xã hội nảy sinh trên cơ sở nhân dân lao động làm chủ tập thể về
tư liệu sản xuất, về lao động, đất đai, về tài nguyên thiên nhiên” [132, tr.11]. Cùng
với đó, các tác giả cho rằng: “lợi ích của cá nhân người lao động biểu hiện trước hết
ở
tiền lương, tiền thưởng trong các xí nghiệp quốc doanh, ở thu nhập của các xã
viên trong các đơn vị kinh tế tập thể, ở các khoản phụ cấp xã hội về học hành, bảo
vệ sức khỏe, nghỉ ngơi, v.v..” [132, tr.13].
11
Năm 1988, tác giả Nguyễn Duy Hùng trong công trình Bàn về sự hình thành và
kết hợp các lợi ích kinh tế trong nông nghiệp tập thể ở nước ta hiện nay, [60] đã cho
rằng: “lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, có tính vật chất, có ý nghĩa thiết
thực đối với hoạt động và phát triển của chủ thể. Song chưa đủ: lợi ích kinh tế còn đảm
bảo duy trì các mối quan hệ giữa các chủ thể” [60, tr.12] và “lợi ích cá nhân là điểm
xuất phát và là động lực mạnh mẽ nhất cho mọi hoạt động” [60, tr.18].
Đi vào phân tích lợi ích kinh tế trong điều kiện hiện nay, năm 2013, tác giả Đỗ
Huy Hà trong công trình Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa
ở nước ta hiện nay [48] khẳng định: “lợi ích kinh tế là những quan hệ kinh tế phản ánh
Trên cơ sở kế thừa quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu trước đó, năm 2002,
tác giả Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn sách Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích
[76], đã phân tích quan hệ giữa các lợi ích trong sự phát triển xã hội, tác giả cũng đã
chỉ ra: “Quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung thực chất là các quan hệ cơ bản
của một cá nhân hay một nhóm xã hội với cả cộng đồng” [76, tr.98] và “Mối quan
hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, hay còn gọi là lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển xã hội” [76, tr.102]. Do vậy, tác giả đã
dành sự quan tâm đến việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH nói riêng và các
quan hệ lợi ích nói chung.
Nói về LICN và LIXH trong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, trong đề tài Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay [106] (năm 2013) các tác giả khẳng định: “thực chất
của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi ích nhằm tạo khả năng cao nhất cho
mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh tế, xã hội, cho sự phát triển được thực
hiện” [106, tr.33]. Các tác giả cũng đã phân tích quan hệ biện chứng giữa sự phát
triển của cá nhân và sự phát triển của xã hội: “thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu
và lợi ích chính đáng của cá nhân là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã
hội. Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián
tiếp, nếu lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất thì chính ở đó bắt gặp mục đích và
động lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai tốt đẹp” [106, tr.33]. Cách tiếp cận về
quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích trong công trình này đã gợi mở cho chúng tôi nhiều
ý tưởng để có sự nhìn nhận rộng hơn về quan hệ lợi ích trong xã hội.
Đề cập đến lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân, tác giả Tang Shan Qing
trong Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân [153] đã
phân tích quan hệ biện chứng giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân trong điều
kiện ở Trung Quốc. Tác giả cho rằng: lợi ích công và lợi ích cá nhân có mối quan hệ
13
biện chứng vừa đối lập, lại vừa thống nhất. Một mặt, lợi ích công và lợi ích cá nhân
14
hội là một hệ thống: kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và toàn dân;” [109,
tr.8]. Việc chỉ ra cách thức giải quyết mâu thuẫn là kết hợp các lợi ích cũng gợi mở
cho chúng tôi nhiều ý tưởng nghiên cứu.
Năm 2006, trong bài viết Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò,
động lực của nhu cầu, lợi ích trong sự phát triển xã hội [33] tác giả Đặng Quang
Định cho rằng: dưới góc độ phát triển xã hội, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc
nhìn nhận vị trí, vai trò của lợi ích trong hoạt động của mỗi cá nhân cụ thể mà
chúng ta phải nói đến quan hệ biện chứng giữa các lợi ích đó nhằm tìm ra những
động lực chung cho sự phát triển xã hội. Có như vậy, chúng ta mới tạo ra được
những hoạt động của “khối quần chúng đông đảo”, của “một dân tộc trọn vẹn” thúc
đẩy xã hội phát triển. Những đề xuất trong công trình này đặt ra cho chúng tôi
nhiệm vụ tìm kiếm những cách thức giải quyết quan hệ lợi ích một cách lâu dài, trên
cơ sở kết hợp các lợi ích.
Năm 2014, tác giả Hoàng Văn Luân trong công trình Quản trị xung đột lợi
ích - các lý thuyết và vấn đề đặt ra ở Việt Nam hiện nay [85] đã cho rằng giữa các
lợi ích khác nhau trong xã hội luôn có xu hướng xung đột với nhau, đó là một tất
yếu khách quan và phổ biến. Xung đột lợi ích được hiểu là sự vi phạm, xâm phạm
hoặc làm tổn hại lẫn nhau giữa các lợi ích trong một quan hệ nhất định. Tác giả
cũng đã lược khảo quan điểm của các nhà tư tưởng trong cách tiếp cận xung đột lợi
ích như F.W.Taylor, Mary Packer Follet... Từ đó, tác giả cho rằng, để thúc đẩy xã
hội phát triển, cần có quản trị xung đột lợi ích - tức là quá trình tác động của nhân tố
chủ quan đến các xung đột lợi ích, hay cụ thể hơn là đến các xu hướng khách quan
của sự cạnh tranh, đấu tranh giữa các lợi ích không phải là sự triệt tiêu sự cạnh
tranh, đấu tranh này, cũng không phải là để đẩy sự cạnh tranh đó thành đối kháng,
thù địch mà tạo ra sự cân bằng năng động giữa các lợi ích - động lực phát triển xã
hội. Tác giả cũng cho rằng: xung đột lợi ích giữa các chủ thể khác nhau có thể là
xung đột LICN - LIXH, xung đột LICN, lợi ích nhóm, xung đột lợi ích nhóm - lợi
trường thể chế và tạo nên hệ thống nhân lực chính làm nòng cốt, đủ sức huy động
mọi tầng lớp xã hội tham gia giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh và xung đột”
[127, tr.328]. Cùng với đó, theo tác giả, việc giải quyết hài hòa các mâu thuẫn, xung
đột - trọng tâm chính là nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền. Những
16
phân tích, luận giải về mâu thuẫn, xung đột lợi ích được nêu trong công trình, giúp
chúng tôi nghiên cứu một cách tổng quát hơn về mâu thuẫn lợi ích trong xã hội.
Có thể nói, mặc dù đã ít nhiều bàn tới tầm quan trọng và phương thức, chủ thể
giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, song vấn đề nội dung của quan hệ này vẫn
chưa được bàn nhiều, vẫn là khoảng trống cần nghiên cứu. Tuy nhiên, qua các công
trình này, chúng tôi đã kế thừa một số nội dung, cùng với các nhận định ở các
nghiên cứu khác sau này để đi đến sự khẳng định về thực chất của việc giải quyết
quan hệ giữa LICN và LIXH đó là việc điều chỉnh hệ thống các lợi ích ở các lĩnh
vực khác nhau, để đạt được sự hài hòa về lợi ích đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát
triển của cá nhân và xã hội.
1.1.4. Những công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng tới việc
giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Đi vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa
LICN và LIXH có rất nhiều công trình nghiên cứu ở phạm vi rộng, với nhiều khía
cạnh khác nhau, có thể kể đến một số công trình như:
Về nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, công trình Những đặc trưng
của kinh tế thị trường và nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa [98] tác giả Vũ Văn Phúc đã nêu lên những đặc trưng mang tính
quy luật, bản chất của KTTT, nêu lên sự khác biệt giữa nền KTTT TBCN và nền
KTTT định hướng XHCN là ở chỗ ai làm chủ sức mạnh kinh tế và sức mạnh chính
trị trong một nước. Cùng với đó, bài viết cũng đã phân tích quá trình nhận thức của
Đảng ta về KTTT định hướng XHCN qua các kỳ Đại hội của Đảng. Đây là công
trình chúng tôi đã tham khảo trong quá trình nghiên cứu những nội dung về KTTT
cá nhân; phát huy tối đa năng lực, tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá
nhân... Tuy nhiên, khi nền KTTT chưa hoàn thiện cũng có thể gây ra những tác
động tiêu cực đối với quan hệ giữa cá nhân và xã hội, đó là: xu hướng đề cao lợi ích
vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần, tạo ra sự tha hoá về đạo đức, lối sống, vô cảm,
thờ ơ, thiếu trách nhiệm; chủ nghĩa cá nhân có cơ hội phát triển mạnh; tạo ra sự bất
bình đẳng xã hội; gia tăng phân hóa giàu nghèo,... Đây là công trình chúng tôi tìm
thấy nhiều giá trị tham khảo cho việc phân tích những tác động của KTTT tới việc
giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH.
18
Đề cập tới yếu tố cá nhân - nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc giải
quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, trong bài viết Cá nhân và sự phát triển của cá
nhân trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay ở nước ta, [53] tác giả Đoàn
Đức Hiếu đã nêu quan điểm khá căn bản về cá nhân và những yêu cầu, thách thức
trong điều kiện của nước ta (vào những năm 90 của thế kỷ XX) đòi hỏi sự phát triển
của cá nhân. Cũng tác giả Đoàn Đức Hiếu, trong bài viết Về cơ chế đánh giá cá
nhân trong sự phát triển con người [54] đã đề cập đến quan hệ cá nhân trong lịch s
và hiện tại, nhưng nghiêng về cách đánh giá cá nhân trong sự phát triển con người.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các quan điểm trong việc nhìn nhận, đánh giá cá
nhân trong bối cảnh KTTT hiện nay đó là: cần đảm bảo tính khách quan, đầy đủ,
chính xác, rõ ràng và tạo mọi điều kiện cho cá nhân phát triển. Các bài báo tuy ngắn
gọn nhưng có những gợi mở lý thú trong quan niệm về cá nhân và yêu cầu phát
triển cá nhân gắn với những yếu tố LICN.
Đi vào phân tích vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là cá nhân,
doanh nghiệp trong việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, có khá nhiều bài
viết như: Nâng cao trách nhiệm xã hội của cá nhân trong điều kiện kinh tế thị
trường [56] của tác giả Nguyễn Đình Hòa; Mối quan hệ giữa trách nhiệm cá nhân
và trách nhiệm nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
[130] của tác giả Lê Thi; Trách nhiệm xã hội của cá nhân và yêu cầu nâng cao
Năm 2002, đánh giá về quan hệ giữa LICN và LIXH nhưng qua góc độ đạo
đức xã hội, tác giả Phạm Văn Đức trong công trình Mối quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện nay [42] đã chỉ
ra quan hệ giữa lợi ích và đạo đức, nhất là LICN và đạo đức trong điều kiện KTTT
nói chung và ở Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ ra những thay đổi đạo đức do LICN
thay đổi, đặc biệt đề cập đến những tác động tiêu cực của KTTT, thông qua LICN
đã có những tác động tiêu cực tới đạo đức truyền thống.
Năm 2012, trong công trình Vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội
[40] của tác giả Đặng Quang Định đã có những phân tích về thực trạng vấn đề lợi
ích trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội ở nước ta hiện nay. Trong đó, theo tác giả,
trong những năm đổi mới, chúng ta đã tìm ra được phương thức điều chỉnh hợp lý
hơn quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nhất là tạo điều kiện để cá nhân phát triển. Tuy
nhiên, dưới tác động của mặt trái của KTTT, trong những năm gần đây, quan hệ