(Luận văn thạc sĩ) Quản lý nhà nước về dân tộc từ thực tiễn tỉnh Điện Biên - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ CHÂU GIANG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ CHÂU GIANG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN

Ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ TRỌNG HÁCH

HÀ NỘI - 2019



Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ DÂN TỘC ..................................................................................... 6
1.1. Những khái niệm cơ bản ...................................................................... 6
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc .............................................. 10
1.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước về dân tộc ........................................ 11
1.4. Vai trò quản lý nhà nước về dân tộc .................................................. 12
1.5. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về dân tộc .................. 13
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN ........................................................... 18
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dân tộc trên địa
bàn tỉnh Điện Biên .................................................................................... 18
2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên
thời gian qua .............................................................................................. 24
2.3. Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn
tỉnh Điện Biên ........................................................................................... 38
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
ĐIỆN BIÊN.................................................................................................... 49
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dân tộc hiện nay..... 49
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dân tộc trên
địa bàn tỉnh Điện Biên .............................................................................. 53
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 71
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSDT

: Chính sách dân tộc

tính đến 31/12/2018......................................................................................... 32
Bảng 2.2. Số lượng công chức công tác tại Phòng Dân tộc các huyện tại tỉnh
Điện Biên tính đến 31/12/2018 ....................................................................... 34


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, các DTTS phần lớn sinh sống ở
miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. Đây là những địa bàn
có vị trí chiến lược trọng yếu về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, giao
lưu quốc tế. Nhận thức được điều đó nên Đảng, Nhà nước ta luôn coi công tác
dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách
mạng của nước ta. Thực hiện CSDT, chăm lo đời sống của đồng bào các
DTTS không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là tình cảm của Đảng, Nhà
nước đối với đồng bào DTTS.
Trong những năm qua, nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển
kinh tế, xã hội đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng
đồng bào DTTS được thực hiện đã tạo nên những thay đổi to lớn trên các mặt
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; đời sống của đồng
bào dân tộc được cải thiện, bộ mặt nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa có
những khởi sắc nhất định. Bên cạnh những thành tựu còn có những hạn chế,
bất cập cần được xem xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học để có
những giải pháp phù hợp đáp ứng yêu cầu phát triển ở vùng dân tộc, miền núi
địa bàn khó khăn trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Trong rất nhiều yếu tố tạo nên những thành tựu cũng như hạn chế
trong vấn đề về dân tộc, QLNN về dân tộc là trực tiếp và hết sức quan trọng.
Tỉnh Điện Biên nằm ở vùng núi cao, biên giới phía Bắc của Tổ quốc, có
10 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 01 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện), với
130 đơn vị cấp xã (gồm 9 phường, 5 thị trấn và 116 xã). Quy mô dân số ước
khoảng 57,66 vạn người; gồm 19 dân tộc cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí

qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, những người làm công tác lý
luận nghiên cứu và các nhà quản lý, các nhà chuyên môn ở nhiều khía cạnh,
góc độ khác nhau. Có thể kể đến:

2


- GS. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân tộc tộc người ở Việt Nam,
NXB Khoa học xã hội;
- GS. Phan Hữu Dật (chủ biên) (2001), Mấy vấn đề về lý luận và thực
tiễn cấp bách liên quan đến quan hệ dân tộc hiện nay, NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội;
- Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời
kỳ công nghiệp hóa (2002), của Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền
núi (nay là Viện Dân tộc), NXB Chính trị Quốc gia;
- Một số vấn đề về dân tộc và phát triển (Sách tham khảo) (2005), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (Đồng chủ biên) (2006), Những vẩn
đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị,
Hà Nội;
- Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam
(2006), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội;
- Chính sách dân tộc trong những năm đổi mới. Thành tựu cùng những
vấn đề đặt ra (2010), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội;
- Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
(2013) của Ủy ban Dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.
Ngoài ra còn có rất nhiều các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa
học, các đề tài đã được nghiệm thu về vấn đề dân tộc, CSDT.
Những công trình trên các tác giả đã đặt ra nhiều lý luận về vấn đề dân
tộc, quản lý nhà nước về dân tộc, cũng như việc thực hiện các chương trình,

về dân tộc, gồm:
- Hoạch định chính sách, chiến lược về dân tộc;
- Ban hành văn bản QPPL về dân tộc;
- Tổ chức bộ máy, bố trí nguồn lực và vật lực về dân tộc;
- Kiểm tra, thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm trong
QLNN về dân tộc.

4


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp duy vật lịch
sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn
đề nhà nước, pháp luật và vấn đề dân tộc.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn: phương
pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp; phương
pháp phân tích, đối chiếu; phương pháp so sánh và phương pháp khảo sát thực tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về dân
tộc và QLNN về dân tộc. Đánh giá những vấn đề lý luận đó trong thực tiễn
trên một địa bàn cụ thể là tỉnh Điện Biên và củng cố những vấn đề lý luận đó
thông qua những quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về dân tộc.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về dân tộc
trên địa bàn một tỉnh. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo trong việc hoạch định chính sách cũng như thực thi pháp luật
về dân tộc. Luận văn cũng có thể được sử dụng làm học liệu tham khảo cho

lạc, bộ tộc và đến khi xuất hiện giai cấp nhà nước thì xuất hiện dân tộc.
Cho đến nay khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,
trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất. Một là, dân tộc chỉ cộng đồng
người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh
tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của
mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và
truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng
nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó
- Quốc gia dân tộc.

6


Hai là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền
vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc
thù, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc
gia - Quốc gia có nhiều dân tộc. Đây là khái niệm được sử dụng trong luận
văn này.
Cả hai quan niệm về dân tộc trên đây đều có ý nghĩa đối với việc nghiên
cứu đề tài luận văn. Dân tộc là đối tượng của QLNN. Trên thực tế, dân tộc
thường nói đến các tộc ít người. Cụ thể, đối tượng của QLNN về dân tộc là
các hoạt động về lĩnh vực dân tộc trên các khía cạnh kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, khía cạnh đoàn kết dân tộc, thúc đẩy sự bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển nhằm tác động và tạo điều
kiện để đồng bào các DTTS cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.1.2. Quản lý nhà nước về dân tộc
Để đi sâu tìm hiểu về quản lý nhà nước là gì cần phải làm rõ khái niệm
quản lý. Tùy theo góc độ nghiên cứu của mỗi nhà khoa học, thuật ngữ quản lý
được hiểu và có các cách tiếp cận khác nhau. Đó cũng chính là đối tượng

chính trị quốc gia. Trong khoa học quản lý, QLNN thường được hiểu theo
nghĩa hẹp. Trong luận văn này, quản lý nhà nước về dân tộc chủ yếu là hoạt
động hành pháp và được hiểu theo nghĩa hẹp.
Trong hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như tổ
chức chính trị, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn
thể nhân dân, các hiệp hội.v.v. So với quản lý của các tổ chức khác, thì quản
lý nhà nước có những điểm khác biệt sau:
Thứ nhất: chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ
máy nhà nước được trao quyền, gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành
pháp, cơ quan tư pháp.
Thứ hai: đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức

8


sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc
bên ngoài lãnh thồ quốc gia.
Thứ ba: quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,
ngoại giao.
Thứ tư: quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công
cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội.
Thứ năm: mục tiêu của quản Ịý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự
ổn định và phát triển của toàn xã hội.
Từ những điểm nêu trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản
lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và
chính sách để điều chỉnh hành vỉ của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của
đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện
Theo cách hiểu chung nhất, quản lý nhà nước về dân tộc là một bộ phận
cấu thành của hệ thống QLNN. QLNN về dân tộc là hoạt động của các cơ

phương; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả, bố trí nguồn nhân lực
làm công tác QLNN về dân tộc.
- Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và
chủ động tham gia vào quá trình thực hiện. Tuyên truyền về truyền thống
đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ
chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong
cộng đồng nhằm thúc đẩy phát triển KTXH, xóa đói giảm nghèo, giải quyết
khó khăn trong cuộc sống.
- Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện các chính
sách, chương trình, dự án ở vùng DTTS; việc chấp hành pháp luật về công tác
dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong QLNN về dân tộc.

10


1.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước về dân tộc
Quản lý nhà nước về dân tộc ở Việt Nam thể hiện các đặc điểm chung
của quản lý đồng thời có các đặc điểm riêng sau:
- Là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Các chủ thể có thẩm
quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó
phương tiện chủ yếu được sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật. Chủ thể
quản lý thể hiện ý chí của mình thông qua các hoạt động áp dụng pháp luật;
dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực
tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới
những dạng mệnh lệnh chỉ đạo trong hoạt động, nhằm tồ chức thực hiện pháp
luật trong thực tiễn. Mặt khác, các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những
hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí, quyền lực nhà nước, như các
biện pháp về hoạch định, xây dựng, tổ chức thực hiện, tuyên truyền thực hiện.

1.4. Vai trò quản lý nhà nước về dân tộc
Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo đường lối
“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh
toàn dân tộc”, công tác QLNN về dân tộc ngày càng có vai trò quan trọng và
thể hiện ở những điểm chủ yếu dưới đây:
Thứ nhất, những định hướng QLNN về dân tộc nhằm phát triển KTXH,
nâng cao đời sống nhân dân. Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu
cầu cấp thiết đặt ra là cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các
vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục... của các
dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình trạng kém phát triển. Để thực hiện
được mục tiêu cấp thiết này, Nhà nước ta đang nỗ lực đầu tư cho khu vực
đồng bào DTTS, trong đó, đặc biệt quan tâm đầu tư các chiến lược, chương
trình, kế hoạch hoạt động hướng đến đồng bào DTTS được thực hiện thông
qua hoạt động QLNN về dân tộc.

12


Thứ hai, những hỗ trợ cho khu vực đồng bào DTTS, đặc biệt là đồng bào
DTTD cư trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn nhằm phát triển
KTXH, xây dựng cơ sở hạ tầng... giúp thu hẹp khoảng cách về trình độ phát
triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo
dục, y tế... của các dân tộc hiện nay còn đang trong tình trạng kém phát triển.
Thứ ba, trong QLNN, có những hoạt động không tuân thủ quy định của
pháp luật, quy tắc của cơ quan quản lý đề ra như tham nhũng, làm sai lệch
đường lối, chủ trương của Đảng... hay việc các thế lực thù địch lợi dụng
CSDT để gây rối an ninh chính trị, trật tự xã hội, chia rẽ đoàn kết dân tộc...,
tuỳ theo tính chất, mức độ Nhà nước có thể xử lý vi phạm hành chính, hình
sự. Cùng với đó, có thể thấy QLNN về dân tộc là một nhiệm vụ rất quan trọng
của Đảng và Nhà nước ta.

công cụ quan trọng. Pháp luật về dân tộc là công cụ để thực hiện QLNN về
dân tộc, cơ sở để thực hiện giám sát việc thực hiện CSDT là sự thể chế hoá để
quan điểm, đường lối của Đảng về dân tộc đi vào cuộc sống.
Trong nhiều năm qua, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ta
thường xuyên ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật
nhằm thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các
dân tộc, đặc biệt là những chính sách ưu tiên và đẩy mạnh phát triển kinh tế,
xã hội, văn hóa, giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi phù hợp với
điều kiện phát triển KTXH của đất nước và hiện đang là là khung pháp lý cơ
bản điều chỉnh các vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc.
Pháp luật về dân tộc không được hoàn thiện, không được sửa đổi, bổ
sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển KTXH của đất nước và
tình hình thực hiện CSDT đối với các vùng, miền hoặc đối tượng cụ thể sẽ
gây khó khăn cho việc QLNN về dân tộc.
1.5.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dân tộc
Một hệ thống QLNN chỉ tốt và được tự nguyện áp dụng khi nó phát huy

14


được những ưu điểm của các giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng phải
loại bỏ đi những nhược điểm của truyền thống như những hủ tục lạc hậu, tư
duy bảo thủ. QLNN về dân tộc không nằm ngoài ngoại lệ đó.
Hiện nay, hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan công tác dân tộc từ Trung
ương đến địa phương chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và thiếu tính ổn định.
Cơ chế QLNN về công tác dân tộc đã được hình thành, từng bước hoàn thiện.
Trong hệ thống bộ máy QLNN về công tác dân tộc, tỷ lệ cán bộ là người
DTTS chiếm tỷ lệ cao nhất so với các Bộ, ngành khác.
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân tộc có vai trò rất
quan trọng trong việc hoạch định và quyết định sự thành công hay thất bại

Toàn cầu hóa là xu thế phát triển tất yếu của quan hệ quốc tế và của nền
kinh tế thế giới, nó vừa mang lại cho công tác QLNN một động lực tích cực
nhưng cũng đạt cho công tác này trước những đòi hỏi, yêu cầu và thách thức.
Do đó toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một trong những nhân
tố tác động đến QLNN nói chung và QLNN về dân tộc nói riêng.

16


Tiểu kết chương 1
Trong chương, luận văn đã hệ thống và làm rõ hơn những vấn đề lý luận
QLNN về dân tộc. Luận văn đã đưa ra khái niệm dân tộc, QLNN về dân tộc,
vai trò, nội dung QLNN về dân tộc và các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về
dân tộc.
Dân tộc là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững
được hình thành trong quá trình lịch sử trên cơ sở có chung phương thức sinh
hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, có tâm lý và ý thức riêng, kết tinh trong nền
văn hóa của dân tộc và cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định. Dân tộc là
một bộ phận của quốc gia. Ví dụ như dân tộc Kinh, Tày, Nùng…
Quản lý nhà nước về dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống
QLNN. QLNN về dân tộc là hoạt động của các cơ quan nhà nước (trong đó
trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước), cá nhân có thẩm
quyền, trên cơ sở Hiến pháp, luật và để thi hành Hiến pháp, luật nhằm tác
động đến công tác dân tộc để đạt được mục đích đã được xác định trước.
Những định hướng QLNN về dân tộc nhằm phát triển KTXH, nâng cao
chất lượng cuộc sống, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào
DTTS ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Bên cạnh đó cũng có những
chế tài xử lý phù hợp đối với những hành vi vi phạm CSDT, lợi dụng chính
sách dân tốc mưu cầu lợi ích riêng, chống phá nhà nước, chia rẽ tinh thần
đoàn kết dân tộc…

100% xã, phường, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó 120/130
xã đi lại được quanh năm; năng lực tưới tiêu của các công trình thủy lợi có khả
năng phục vụ cho trên 27.000 ha đất sản xuất; 130/130 xã, phường, thị trấn có
điện, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 88,24 %; cơ sở vật chất các trường chuyên nghiệp

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status