BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BỦI NGỌC ClIÒNG
Q U Y Ể N T ự D O K IN H D O A N H T R O N G P H Á P L U Ậ T
K IN H T Ê V IỆ T N A M
LUẬN ÁN THẠC SỸ LUẬT HỌC
•
■
HÀ NỘI 1996
•
MỤC LỤC
Trang
PHÀN MỞ ĐÀU
1
CHƯƠNG I
5
24
và địa điểm kinh doanh
11.3. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp
26
11.4. Quyền tự do trong các lĩnh vực hoạt dộng sản xuất
28
kinh doanh
11.5. Tự do hợp tác kinh doanh, liên doanh với các tổ chức
34
cá nhân trong và ngòi nước
11.6. quyền tự do lựa chọn hình thúc và phương thức giải
35
quyết tranh chấp trong kinh doanh
11.7. Quyền bình đẳng trong kinh doanh
36
III. ý nghĩa của quyên tự do kinh doanh
38
việc hinh thành quyên tự do kinh doanh ỏ nước ta.
1.1. Khái niệm pháp luật kinh tế.
47
1.2. Nhũng tiền đề để hình thành quyền tự do kinh
49
doanh ỏ nưóc ta.
II.
Những nội dung của quyên tự do kính doanh được
ghi nhận trong pháp luật kỉnh tê hiện hành ỏ nưóc ta.
52
II. 1. Quyền tự do sỏ hữu tư liệu sản xuất
52
11.2. Pháp luật quy định quyền tự do lựa chọn ngành nghề,
54
quy mô hình thức và địa điểm kinh doanh.
11.3. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp được ghi nhận
58
cưòng ban hành các văn bản luật, hạn chế ban
hành các văn bản dưói luật, tránh tình trạng mâu thuẫn chồng c
1.2. Ban hành những văn bản pháp luật kinh tế quan trọng
còn thiếu.
1.3. Sửa đổi bổ sung các quy định đã có trong pháp luật kinh tế
nhưng chưa phù hợp vói yêu cầu bảo đảm thực hiện
quyền tự do kinh doanh
II. Thực hiện pháp luật và cải cách hành chính
II. 1.
về thực hiện pháp luật
II.2. Tiếp tục cải cách hành chính và cải cách tư pháp
KẾT LUẬN.
Danh mục tài liệu tham khảo.
PHẦN Mỏ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã đề ra đưòng lối đổi
mới toàn diện đòi sống chính trị, kinh tế xã hội đất nước. Đuòng lối
đổi mói đó đã được Đại hội Đảng VII và VIII tiếp tục thừa kế và phát
triển. Công cuộc đổi mới đã và đang đem lại những thành tựu đáng
khích lệ trong đòi sống kinh t ế - x ã hội, làm thay đổi bộ mặt đất nước.
Quá trình chuyển đổi tù cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị
trưòng có sự quản lý của nhà nưóc theo định hưóng xã hội chủ nghĩa
làm phát sinh hàng loạt vấn đề mà xét trên cả phương diện lý luận và
thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu để làm sáng tỏ. Một trong sô
những vấn đề đó là quan điểm và cơ sỏ khoa học về quyền tụ do kinh
việc xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế. về thực tiễn, trên cơ sỏ
đánh giá thực trạng pháp luật kinh tế trong việc ghi nhận và bảo
đảm quyền tự do kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế thị
trưòng ỏ nước ta hiện nay, tác giả tìm cách đưa ra các quan điểm về
3
việc hoàn thiện chê định quyền tự do kinh doanh.
Nghiên cứu quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế ỏ nưóc
ta là vấn đề rất mói mẻ, phúc tạp và nhạy cảm. Trong khuôn khổ một
luận án thạc sỹ luật học, chúng tôi cố gắng trình bày một cách khái
quát, có hệ thống và tổng hợp những vấn đề cơ bản nhất mà đề tài đặt
ra. Có một số vấn đề liên quan đến đề tài chúng tôi chưa trình bày
trong luận án hoặc chỉ trình bày ỏ mức khái quát. Tác giả hy vọng sẽ
có dịp trình bàv ỏ công trình khoa học có cấp độ cao hơn.
VII. KẾ CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm : PHÀN MỎ ĐẰU, HAI CHƯỒNG VÀ PHÀN KẾT LUẬN
Lời mở đàu
Chương I : Nhũng vấn đề lý luận về quyền tự do kinh doanh - nội
dung và ý nghĩa của quyền tụ do kinh doanh.
Chương II : quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh t ế - t h ự c
trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật kinh tế
bảo đảm quyền tự do kinh doanh ỏ nưóc ta.
KẾT LUẬN
4
về mặt kinh tế càng cao. Kinh doanh bao giò củng phục vụ cho chế
độ sỏ hữu, là hành động tiếp sau sỏ hữu. Do đó kinh doanh đóng
vai trò làm cho sỏ hữu từ chỗ tồn tại về mặt hình thúc, trỏ thành
tôn tại hiện thực.
Vối quan niệm đó ngưòi ta chia kinh doanh thành nhiều kiểu, chế
5
độ, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, như kinh doanh trong nền sản
xuất hàng hoá giản đơn, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ; kinh
doanh tư bản chủ nghĩa ; kinh doanh xã hội chủ nghĩa, kinh doanh
trong công nghiệp ; kinh doanh trong nông nghiệp ; kinh doanh trong
vận tải ; kinh doanh trong thương nghiệp... Dù phân chia như thế nào
đi chăng nữa thì mục đích cuối cùng của kinh doanh là làm tăng thêm
giá trị vật chất cho xã hội và đối vói từng nhà kinh doanh thì đó chính
là lợi nhuận.
Ỏ nước ta đã có thòi gian dài, tồn tại quan niệm không đây đủ,
không đúng về kinh doanh. Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp,
được coi là một khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, cụ thể là gắn
vói hoạt động lưu thông trao đổi, là buôn bán. Thậm chí có người còn
ác cảm vói kinh doanh, coi kinh doanh là con dưòng dẫn đến bóc lột,
do vậy chỉ có các tổ chúc kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập
thể) mói được phép kinh doanh còn các thành phần kinh tế khác thì bị
hạn chế và cấm đoán.
Thực ra, kinh doanh, như đã trình bày ỏ trên, luôn gắn liền vói quan
hệ hàng hoá - tiền tệ và quy luật giá trị. Trong bất kỳ phương thức
nào, còn sản xuất hàng hoá và quy luật giá trị tôn tại khách quan thì
còn có kinh doanh vói tính cách là một phương thúc hoạt động kinh tê
của con ngưòi.
một cách khoa học, thiết nghĩ cũng nên tìm hiểu khái niệm tự do vói
tính cách là một giá trị vĩnh hằng của con ngưòi.
Theo từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1994 thì : "Tự do là phạm trù
triết học chỉ khả năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình trên
cơ sỏ nhận thức được quy luật phát triển của tự nhiện, xã hội. Tự do là
tất yếu được nhận thức".
Như vậy, tự do biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa hoạt động của
con ngưòi và quy luật khách quan.
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có những quan niệm khác nhau
về tự do.
Các nhà duy tâm chủ nghĩa cho rằng tự do và tất yếu là hai khái
niệm loại trù nhau. Họ coi tự do là tự do ý chí, là khả năng hành động
phù hợp vói sự thể hiện ý chí. Sự thể hiện này lại không do điều kiện
bên ngoài quy định. Họ cho rằng tư tưởng quyết định, quy định tính
tất yếu của hành vi. Theo quan niệm này họ đã vứt bỏ trách nhiệm
con ngưòi đối với xã hội. Quan niệm trên đã tuyệt đối hoá yếu tố chủ
quan của chủ thể.
Ngược lại vói quan niệm trên, một số nhà triết học khác lại cho rằng
tự do ý chí trong mọi trường hợp đều do hoàn cảnh bên ngoài quyết
7
định và tồn tại không phụ thuộc vào ý thúc con ngưòi. Điều này có
nghĩa là họ đã tuyệt đối hoá yếu tố khách quan, phủ nhận yếu tố nhận
thức của chủ thể.
Quan niện khoa học về tự do phải dựa trên sự thừa nhận mối quan
hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu (các quy luật). Trong mối quan hệ
này, cái tất yếu khách quan là cái có trưóc, còn ý chí, ý thúc con ngưòi
là cái thứ hai, cái phái sinh. Tất yếu tồn tại trong tự nhiên và xã hội
+ Là khả năng hành động của chủ thể theo ý mình, cái khả năng
hành động theo ý mình thể hiện tính độc lập, tự chủ của chủ thẻ trong
hoạt động kinh doanh. Song giới hạn của khả năng hành động đến
đâu, mức độ nhu thế nào, điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trưóc
hết đó là yếu tố khách quan, những yếu tố tồn tại bên ngoài chủ thể
không lệ thuộc vào chủ thể như : Điều kiện kinh tê - xã hội ; cơ chế
quản lý kinh tê của nhà nưóc ; quy định của pháp luật... Nói cách khác
đó là môi trường kinh doanh mà trong đó các chủ thể kinh doanh
hành động. Môi trường đó là gì chúng tôi sẽ trình bày kỹ ỏ phần tiếp
theo trong luận án.
Khả năng của chủ thể hành động theo ý mình trong hoạt động kinh
doanh còn phụ thuộc vào chính bản thân họ (yếu tố chủ quan). Tức là
họ có khả năng kinh doanh hay không? khả năng đó ỏ múc độ nào?
khả năng đó bao hàm rất nhiều yếu tố như nhân thân, tình trạng tài
sản, sự hiểu biết của họ trong đòi sống kinh doanh...
+ Khả năng hành động theo ý mình trong mọi hoạt động của quá
trình kinh doanh. Kinh doanh như đã trình bày trên có nội dung rất
rộng bao gồm rất nhiều các hoạt động như đầu tư, tiền vốn, sản xuất,
buôn bán, dịch vụ... Như vậy tự do kinh doanh thể hiện, khả năng
hành động theo ý mình trong mọi hoạt động của quá trình kinh doanh
như đầu tu vốn để thành lập doanh nghiệp, lựa chọn lĩnh vực kinh
doanh, lựa chọn bạn hàng...
+ Khả năng hành động theo ý của mình trên cơ sỏ phù hợp với
pháp luật. Điều đó có nghĩa rằng tự do kinh doanh có tính tương đối.
Các chủ thể kinh doanh không thể hành động theo ý mình một cách
tuyệt đối, muốn làm gì thì làm. Như đã trình bày ỏ trên, tự do luôn
được đặt trong mối quan hệ biện chúng vói các quy luật và luôn bị chi
phối bởi lực lượng thống trị xã hội. Các lực lượng thống trị xã hội,
thông qua pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội nhằm định
hướng cho hoạt động của con ngưòi. Suy cho cùng thì pháp luật chính
hiến. Nhà triết học Anh s Lock ỏ th ế kỷ 17-18 định nghĩa : Quyền
con ngưòi là quyền sống, quyền tự do và quyền tư h ữ u ^ . Hiến pháp
1791 của nưóc Pháp cho rằng quyền con ngưòi là quyền tự do, sỏ
hữu, được an toàn và chống lại áp bức. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ
năm 1776 thì coi quyền con người là quyền sống, quyền tự do và
quvền mưu cầu hạnh phúc. Gần đây nhà triết học Trung Quốc
Đông Văn H ồ cho rằng : "Nhân quyền là quyền sinh tồn và phát
triển một cách tụ do bình đẳng"(10). Tuyên ngôn về quyền con ngưòi
của Liên hợp quốc năm 1948 đề ra 30 điều có tính nguyên tắc về
quyền con ngưòi. Các công ước 1966 của Liên hợp quốc khẳng
(9)
s. lock. T ạp chí C ộng sản số tháng 8 năm
1996.
(10). (N guòn) T ạp chí Cộng sản số tháng 8 năm 1996.
10
định lại và cụ thể hoá thêm những nguyên tắc đó thành các quyền
chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội...
Ỏ Việt Nam, có thể nói tù cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
đến sự nghiệp đổi mói ngày nay, đưòng lối của Đảng và nhà nưỏc
luôn nhất quán vì sự nghiệp giải phóng con ngưòi, vì quyền con
ngưòi đích thực.
Trong tuyên ngôn đọc tại quảng
Hô đã phát triển lý tưởng về quyền
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
quyền tự do kinh d oanh - quyền tự do trong lĩnh vực quan trọng
11
của đòi sống xã hội.
Khi bàn về quyền tụ do kinh doanh, trước hết phải thấy rằng đó là
một phạm trù pháp lý. Dưói góc độ này quyền tự do kinh doanh được
xem xét dưới hai khía cạnh :
+ Trưóc hết quyền tự do kinh doanh là quyền chủ thể, tức là quyền
của một cá nhân (hay pháp nhân) trong việc lựa chọn các lĩnh vực của
đòi sống kinh tế để đầu tư tiền vốn, súc lao động, máy móc thiết bị...
tiến hành các hoạt động sản xuất, mua bán, dịch vụ nhằm tìm kiếm lợi
nhuận. Ỏ khía cạnh này quyền tự do kinh doanh bao hàm một loạt các
hành vi mà các chủ thể được phép tiến hành như : lựa chọn ngành
nghề kinh doanh, lựa chọn hình thức kinh doanh, quy mô kinh doanh,
lụa chọn kách hàng...
+ Mặt khác quyền tự do kinh doanh còn được hiểu là tổng hợp
toàn bộ các quy định và đảm bảo pháp lý mà nhà nước ban hành nhằm
tạo diều kiện cho các cá nhân (hay pháp nhân) thực hiện quyền chủ
thể nói trên. 0 góc độ này thì quyền tự do kinh doanh bao hàm các
hành vi mà cá nhân (hay pháp nhân) được phép thực hiện, những Uu
đãi mà họ dược hưởng. Và xét ỏ khía cạnh kia nó bao hàm các hành vi
của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nưóc khi thực hiện chức
năng quản lý của mình. Hai khía cạnh này là một thể thống nhất trong
quyền tụ do kinh doanh. Nếu chỉ thùa nhận quyền tự do kinh doanh
của chủ thể mà không đảm bảo cho nó những điều kiện để thực hiện
thì quyền tự do kinh doanh chỉ mang tính hình thức, chẳng đem lại ý
nghĩa thiết thục cho sụ phát triển kinh tế.
Tóm lại, theo tôi quan niệm về quyền tự do kinh doanh phải được
pháp bảo đảm như :
- Bảo đảm an toàn về sỏ hữu (tiền, bạc, tài sản đâu tư) sự chuyển
dịch thuận tiện của vốn đâu tư.
- Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền
- Bảo đảm trong việc giải quyết phá sản ; trong việc giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ kinh doanh một cách nhanh chóng, thuận tiện,
thực thi các bản án, quyết định một cách hữu hiệu.
- Bảo đảm những điều kiện, thủ tục thuận lợi ; trong kinh doanh
như cấp giấy phép thành lập, đăng ký kinh doanh...
-T rách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nưóc, nhân viên nhà nước
- Bảo đảm quyền bình đẳng trong kinh doanh
-C h ín h sách thuế, tín dụng, chính sách xuất nhập khẩu...
Như vậy, nếu nhìn vào hệ thống những quy định hiện hành trong
pháp luật kinh tế nưóc ta thì quyền tự do kinh doanh ỏ phương diện
13
thứ nhất đã được ghi nhận khá đây đủ. Do vậy trọng tâm công tác thể
chế hoá quyền tự do kinh doanh trong thòi gian tới là phải hưóng vào
phương diện thú hai, tức là tạo cơ sỏ pháp lý cho việc mỏ rộng và phát
triển môi trưòng tự do kinh doanh, v ấ n đề này chúng tôi sẽ trình bày
cụ thể ỏ Chương II của luận án.
1.3. NHỮNG YỂU TỐ CHI PHỐI TỚI QUYỂN Tự DO KINH DOANH
Trưóc khi nghiên cứu những yếu tố chi phối tói quyền tự do kinh
doanh, thiết nghĩ củng nên trình bày ỏ múc khái quát những yếu tố chi
phối tới quyền tự do của con người bởi lẽ, quyền tụ do kinh doanh là
bộ phận trong hệ thống các quyền tự do của con ngưòi cũng chính vì
vậy phải đặt nó trong mối liên hệ vói cái chung trong khái niệm quyền
xuất phát tù mối quan hệ giũa nhà nưóc vói cá nhân. Quyền con ngưòi
được xem là giá trị được xã hội hoá, túc phải bằng con đưòng nhà nước
ghi nhận, củng cố trong các quy phạm pháp luật, trong các bảo đảm về
chính sách thì mới trỏ thành hiện thực.
Từ quan niệm trên ; "Quyền con người là những đặc quyền (quyền
tự nhiên) của con ngưòi được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh, do cá
nhân, con người nắm giữ trong mối liên hệ vói nhà nước và vói những
cá nhân con ngưòi khác'^1).
Quan niệm này mang nhiều yếu tô hợp lý. Một mặt quyền con ngưòi
mang tính tự nhiên, nhà nước không thể không ghi nhận. Mặt khác khi
chưa được pháp luật ghi nhận thì các quyền tự nhiên đó cũng chưa
chính thúc ra đòi và chưa trỏ thành quyền. Vai trò của nhà nưóc chính
là ỏ chỗ đáp úng được nhu cầu về quyền tự do của con ngưòi trong xã
hội, biết phát hiện nhu cầu hiện thực của việc xuất hiện các quyền của
con ngưòi để sóm thể chế hoá và bảo vệ bằng pháp luật.
Từ quan niệm chung đỏ, cho thấy quyền tự do kỉnh doanh bị chi phối
bới chế độ chính trị -xã hội, V À trình độ phát triển kinh tế -v ă n hoá của
mỗi quốc gia ở từng giai đoạn lịch sử nhất định. Do đó không tồn tại
quan niệm quyền tự do kinh doanh tuyệt đối phổ biển. Quyền tự do kinh
doanh có biên giới quốc gia, do những điều kiện về chính trị - xã hội,
kinh tể, văn hoá. ở mỗi quốc gia, tính chất và mức độ của quyen tự do
kinh doanh có những đặc điểm khác nhau. Tất nhiên chúng ta củng
không phủ nhận một số tính chất chung nào đó của nội dung quyền tự do
kinh doanh giữa các quốc gia trong thể giới ngàv nay.
3.1. CHÊ ĐỘ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Nói tới chế độ chính trị là nói tói hệ thống tổ chúc chính trị, kinh tế,
xã hội do giai cấp cầm quyền thiết lập. Chế độ chính trị phản ánh bản
chất của nhà nưóc, biểu hiện cụ thể ỏ đưòng lối chính trị, đưòng lối
(1) Quyền con ngưòi trong thc giỏi hiện đ ạ i : Viện thông tin khoa học xã hội 1995. Tr.20.
nưóc đối với toàn bộ quá trình phân phối. Các giá trị công bằng xã
hội đã đạt được, các quyền tự do trong lĩnh vực chính trị đã đạt
được, song các quyền tụ do về kinh tê đặc biệt là quyền tự do kinh
doanh thì lại không được chú trọng, sỏ dĩ có tình trạng này theo tôi
có những lý do sau :
(1) Lê N in toàn tập, T ập 39 N X B T iến bộ 1979. Tr.87.
16
+ Thú nhất, do điều kiện lịch sử chúng ta phải đấu tranh giành độc
lập tụ do, thống nhất tổ quốc, do đó các quyền tự do của dân tộc, của
đất nưóc phải đặt lên hàng đầu. Trong điều kiện đó các quỳên tự do về
chính trị phải được xác lập trước các quỳên tự do vê kinh tể. Các quyền
ve chính trị cùa con người với tính cách là những nhân tố chính trị pháp lý có ảnh hường rất lớn, thúc đẩy sự phát triển của dời sông kinh tê
-x ã hội. Do vậy các quyền về chính trị được quan niệm là tiền đê đảm
bảo cho sự phát triển tự do cá nhân, bảo đảm quyền làm chủ của công
dân đối với nhà nước. Đó là cách tốt nhất để tăng cường những giá trị
và truyền thống dân chủ trước khi các tiền đê kinh tế chín mùi để thiết
lập các quyền tự do về kinh tế.
+ Thứ hai, do cơ chế quản lý kinh t ế :
Sau khi miền Bắc dược hoàn toàn giải phóng (1954) Nhà nước bắt
tay khôi phục và xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã
sao chép hầu như nguyên vẹn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ
chê quản lý kinh tế của các nưóc xã hội chủ nghĩa đặc biệt là của Liên
Xô. Vấn đề chủ yếu của cơ chế quản lý kinh tế giai đoạn này là ; kế
hoạch hoá được coi là cơ chế quản lý kinh tế và là công cụ số một có
tính pháp lệnh bắt buộc trực tiếp hoặc gián tiếp đối vói tất cả các
ngành, các cấp, các đơn vị kinh tê và công dân. Các công cụ quản lý
- Bộ máy quản lý cồng kềnh kém hiệu quả mọi quyết định quan
trọng đều xuất phát tù nhà nưóc trung ương, phong cách quản lý quan
liêu cửa quyền...
Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp tất yếu dẫn đến hậu quả
là : Các giá trị tự do về kinh tế không được chú trọng và dĩ nhiên
không thể có sự tồn tại của quyền tự do kinh doanh. Bằng chứng là từ
khi chúng ta thực hiện đưòng lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tê mà
thực chất là dân chủ hoá trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá
xã hội thì quyền tự do kinh doanh đã được chính thức ghi nhận trong
hiến pháp và các văn bản pháp luật.
Yếu tố xã hội cũng góp phần quan trọng trong việc hình thành và
phát triển quyền tự do kinh doanh. Nói tói yếu tố xã hội là nói tới các
nhân tô như lịch sử, truyền thống, tập quán, tâm lý, đạo đức, tôn giáo
của mỗi dân tộc. Những yếu tố này đã góp phần hình thành nhân cách
con ngưòi tự do. ỏ những quốc gia nơi xã hội đã phát triển, ngưòi ta
hay luận bàn tỏi "nhân quyền" nhiều hơn. Do đó quyền tự do kinh
doanh ỏ những quốc gia đó đã hình thành và phát triển sớm. Ngưòi
Việt Nam sống trong một quốc gia Á - Đông, nơi mà sự hình thành
tính cách dân tộc và nhân cách con ngưòi có những nét đặc thù.
Chúng ta phải sống dưói ách độ hộ hàng ngàn năm của chê độ phong
kiến, tiếp đến là sự độ hộ của thực dân Pháp, sau này lại phải tiến
hành cuộc đấu tranh thống nhất đất nưóc. Những đặc thù này cùng
vói những yếu tố đạo đức, tôn giáo... đã ảnh hưởng lón tới việc hình
thành ý thúc về quyền tạ do kinh doanh của công dân.
18
3.2. TRÌNH Độ PHÁT TRIẾN KINH TÊ - VĂN HOA
được biểu hiện tập trung ỏ mức lợi nhuận.
-T ự do lựa chọn việc sản xuất kinh doanh và tiêu dùng từ phía các
nhà kinh doanh và những ngưòi tiêu dùng thông qua các mối quan
19