(Luận văn thạc sĩ) Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THU HẰNG

QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
XÃ TAM HIỆP, HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Hà Nội, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THU HẰNG

QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
XÃ TAM HIỆP, HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8.14.01.14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRƯƠNG XUÂN CỪ

Hà Nội, 2019


tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội ................................36
2.4. Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ tại
các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội .....................................43
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
trong giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội .....53
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM
NON XÃ TAM HIỆP, HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............56
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp ...............................................................56
3.2. Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ tại
các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội .....................................57
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp ..................................................................68
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ....................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BGH

Ban giám hiệu

CBQL

Cán bộ quản lý

CBQLGD

Cán bộ quản lý giáo dục


Làm quen với toán

LQCC

Làm quen chữ cái

LQVH

Làm quen văn học

NXB

Nhà xuất bản

PPDH

Phương pháp dạy học

QLGD

Quản lý giáo dục

TBDH

Thiết bị dạy học

THCS

Trung học cơ sở

Bảng 2.5.Thực trạng tổ chức ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ ở các trường
mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội ................................................... 46
Bảng 2.6. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động
giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội. ............... 48
Bảng 2.7. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc quản lý ứng dụng CNTT trong
giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội ........ 50
Bảng 2.8: Thực trạng quản lý các điều kiện ứng dụng CNTT trong hoạt động
giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội ........ 53
Bảng 2.9: Đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố tới quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ (%) ...........53
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp ............................ 71
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp ............................... 72


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay, công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng ở
nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có nghiên cứu khoa học, công nghệ và giáo dục.
Trong giáo dục, công nghệ thông tin là một công cụ hiệu quả để hỗ trợ đổi mới
phương pháp dạy và học và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nâng cao hiệu
quả và chất lượng giáo dục.
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động giáo dục góp phần thực hiện
đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp giáo dục mầm non nói riêng, mà
GDMN là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực
CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảng dạy. Đặc biệt đối với trẻ mầm non,
quá trình lĩnh hội kiến thức của trẻ là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
trẻ luôn bị hấp dẫn bởi những gì mới lạ. Dạy trẻ mầm non không thể thiếu đồ dùng
trực quan. Chính vì vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý
giáo dục và làm đồ dùng dạy học, soạn giảng giáo án có vai trò tác dụng to lớn trong
việc nâng cao chất lượng quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Với việc chuẩn

sớm, nhất là ở các nước tư bản phát triển. Từ những năm 1984, 1985 tổ chức National
Sofware - Cordination Unit (NSCU) được thành lập, cung cấp chương trình giáo dục
máy tính cho các trường trung học. Các môn học đã có phần mềm dạy học bao gồm:
nông nghiệp, nghệ thuật, thương mại, giáo dục kinh tế, tiếng Anh, địa lý, sức khỏe,
lịch sử, kinh tế gia đình, nghệ thuật công nghiệp, toán, âm nhạc, tôn giáo, khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, giáo dục đặc biệt…
Công nghệ thông tin là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học, kỹ
thuật hiện nay. Việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào
tạo đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu: Đề án “Tin học cho mọi
người” của nước Pháp năm 1970; Chương trình MEP “Chương trình giáo dục vi điện
tử” của nước Anh năm 1980; các chương trình và phần mềm các môn học cho trường
trung học được cung cấp bởi NSCU - Australia, năm 1984; đề án CLASS “Máy tính
và các nghiên cứu ở trường học” - Ấn Độ, 1985; Hội thảo về “Xây dựng phần mềm
tin học”, các nước châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại Malaysia năm 1985.
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu, một số tài liệu tiêu biểu như “Công nghệ dạy
học” (Instructional Technology for Teaching and Learning) đã mô tả việc xây dựng

2


kế hoạch tiến hành các hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật theo
hướng phát huy vai trò tích cực của người học; đề xuất các biện pháp sử dụng phương
tiện kỹ thuật phù hợp với những yêu cầu và hình thức dạy học cụ thể; đồng thời, nhấn
mạnh vai trò của phương tiện kỹ thuật nói chung, đặc biệt là công nghệ thông tin như
một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động dạy học. Cuốn “Dạy học với công
nghệ: Tạo lớp học - học sinh làm trung tâm” của Judith H. Sandholtz (1997), cuốn
sách đã trình bày về dự án ACOT, nhằm triển khai các hướng ứng dụng công nghệ
máy tính trong giảng dạy theo hướng người học là trung tâm và những ảnh hưởng của
nó đối với nền giáo dục hiện đại; cuốn sách “Học với công nghệ: Triển vọng kiến
tạo”, của David H. Jonassen và các cộng sự (1999), cuốn sách tập trung trình bày

Ở Việt Nam, vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ngành giáo dục đã nhận
thấy sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo.
Đến năm 1985, những kiến thức nhập môn tin học đã được triển khai dạy thí điểm ở
một số địa phương. Từ năm học 1990 - 1991, một số kiến thức tin học đã chính thức
được đưa vào dạy trong chương trình của lớp 10 trung học phổ thông; bắt đầu từ năm
học 1993 - 1994, tin học đã trở thành một môn học có giáo trình riêng. Bên cạnh đó,
công nghệ thông tin được đưa vào nhà trường với tư cách là công cụ hỗ trợ công tác
quản lý như quản lý học sinh, quản lý nhân sự, quản lý thư viện, quản lý kết quả học
tập... CNTT là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng phát triển với tốc độ rất nhanh.
Bước sang thời kỳ đổi mới, nhận thức được tầm quan trọng của CNTT mang
lại, đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng nhấn mạnh tới việc đẩy mạnh CNTT
như: Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, ngày 30/7/2001
nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong GD&ĐT ở tất cả các cấp học,
bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ
trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn
học...Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối Internet đến tất cả
các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục” [2].
Trần Minh Hùng (2012), trong luận án tiến sĩ giáo dục về “Quản lý hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường trung học phổ thông”. Qua
nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng, nguyên nhân ưu điểm
và hạn chế của hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tác giả đề xuất
các biện pháp cơ bản như: Nâng cao nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin cho

4


đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông; nâng cao trình độ về ứng dụng công
nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên; tăng cường quản lý việc ứng dụng công nghệ
thông tin của đội ngũ giáo viên trong dạy học; tăng cường quản lý việc đổi mới
phương pháp dạy học của đội ngũ giáo viên theo hướng ứng dụng công nghệ thông

Nhận thức được vai trò to lớn của công nghệ thông tin trong giáo dục, ngoài
luận án, luận văn còn có rất nhiều các bài báo khoa học nghiên cứu về ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học như: Quách Tuấn Ngọc (1999), với bài
“Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin - xu thế của thời đại”, đăng
trên Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số 8; Lưu Lâm (2002), với bài viết
“Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam”, đăng trên Tạp
chí Giáo dục số 20; Lê Hồng Sơn (2002), “Công nghệ thông tin và truyền thông với
giáo dục và đào tạo ở Việt Nam”, đăng tại Tạp chí Giáo dục số 32; Đỗ Trung Tá
(2004), “Ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông để đổi mới giáo dục đại học ở
Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 84; Đào Thái Lai (2006), “Những yêu cầu
đối với người giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghề
nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Giáo dục số 5; Trần Khánh (2007), “Tổng
quan về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục”, đăng trên
Tạp chí Giáo dục số 161.
Trong các luận án, luận văn, các bài báo khoa học, các nhà khoa học, các nhà quản
lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí, tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển
CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục.
Tuy nhiên, việc đưa CNTT vào hoạt động giáo dục trẻ còn khó khăn, bất cập,
có nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết: Trình độ tin học cơ bản của
đội ngũ giáo viên còn hạn chế, nhiều giáo viên còn lúng túng khi thiết kế bài giảng có
ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ. Cho đến nay, ở các trường mầm non nói chung
và các trường mầm non xã Tam Hiệp nói riêng đã áp dụng rất nhiều biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục trẻ nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề
quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã
Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chính vì vậy việc nghiên cứu đề xuất
các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ để nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì,
thành phố Hà Nội là hết sức cần thiết.

6


7


- Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về giáo dục
trẻ, ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường; phân tích, phân loại, xác định
các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để
hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.
5.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Phiếu trưng cầu ý kiến gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn đề hoạt động ứng
dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non xã
Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đối tượng khảo sát là giáo viên, nhân
viên, ban giám hiệu.
5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Thu thập những thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của hoạt động quản lý ứng
dụng công nghệ thông tin. Nhóm đối tượng phỏng vấn: Cán bộ quản lý, giáo viên.
5.4. Phương pháp chuyên gia:
Phương pháp này tiến hành thông qua việc tác động trực tiếp giữa người hỏi
và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
5.5. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học:
Sử dụng thông tin điều tra thống kê từ đó phân tích so sánh các đánh giá của
các đối tượng, từ đó rút ra kết luận.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa được lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt
động giáo dục trẻ tại các trường mầm non bao gồm các khái niệm công cụ, ứng dụng
CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non, quản lý ứng dụng CNTT trong
HĐGD trẻ tại các trường mầm non, các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý ứng dụng
CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non. Những lý luận này góp phần bổ
sung và làm phong phú thêm lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại

Theo Từ điển Tin học và CNTT của tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn thì “CNTT là
sự nghiên cứu hoặc sử dụng thiết bị điện tử, đặc biệt là máy tính và truyền hình, hệ
thống truyền thông và video để xử lý, truyền phát và nhận thông tin” [ 23,tr.674].
Theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ thì: “CNTT là tập hợp các phương
pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật
máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con
người và xã hội” [6].
Theo Luật CNTT thì: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công
nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và
trao đổi thông tin số”.[18]
Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn: “CNTT là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức khai thác và
sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm năng trong mọi
lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ”. [13, tr.90]
Ngày nay, với sự bùng nổ của CNTT, các phương tiện truyền thông và
Internet giúp con người có những giải pháp tốt nhất để xử lý thông tin nhanh chóng
và chính xác. Trong giáo dục việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông,
Internet... đã góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học đa dạng, phong phú và đã thực
sự trở thành một phương tiện hỗ trợ có hiệu quả trong việc đổi mới PPDH.
Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công
nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin.

10


Như vậy, “CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ,
phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ
thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu
quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa… của con

em mang tính chất giáo dục gia đình, giữa cô và trẻ là quan hệ tình cảm mẹ - con, trẻ
thông qua chơi mà học, học mà chơi; Tổ chức nhà trẻ, trường mẫu giáo mang tính
chất tự nguyện: Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo.
1.1.3. Hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non
Hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non là hoạt động sư phạm được tổ
chức trong nhà trường một cách có kế hoạch, có mục đích. Trong đó dưới vai trò chủ
đạo của giáo viên, trẻ được giáo dục tích cực, chủ động giúp trẻ phát triển về thể
chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một.
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm,
trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em
vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực
và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi,
khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các
cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
Nội dung hoạt động giáo dục ở trường mầm non được quy định cụ thể tại
chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành bao gồm nội
dung chương trình giáo dục nhà trẻ và nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo.
Hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo bao gồm: hoạt động chơi; hoạt động học; hoạt động
lao động; hoạt động ngày hội, ngày lễ.
Hoạt động chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Trẻ có thể
chơi với các loại trò chơi cơ bản sau: Trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi ghép
hình, lắp ráp, xây dựng, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò
chơi dân gian, trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại.
Hoạt động học được tổ chức có chủ định theo kế hoạch dưới sự hướng dẫn
trực tiếp của giáo viên. Hoạt động học ở mẫu giáo được tổ chức chủ yếu dưới hình
thức chơi.

12



13


đánh giá: Nêu gương: Sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng
chỗ. Biểu dương trẻ là chính, nhưng không lạm dụng. Đánh giá: Thể hiện thái độ
đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi, cử
chỉ của trẻ. Từ đó đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình huống hoặc hoàn
cảnh cụ thể. Không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ.
1.1.4. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ tại trường
mầm non
1.1.4.1. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ
tại trường mầm non
Tại Điều 4, Luật công nghệ thông tin giải nghĩa từ: Ứng dụng công nghệ thông
tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã
hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này [21].
Ở trường mầm non, CNTT được ứng dụng trong hoạt động chăm sóc, hoạt
động giáo dục và quản lý. Như vậy có thể hiểu ứng dụng CNTT ở trường mầm non là
việc sử dụng CNTT vào các hoạt động chăm sóc, hoạt động giáo dục trẻ và quản lý
nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động đó.
Ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục là phương pháp làm tăng giá trị
lượng tin, trao đổi tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn. Nhờ CNTT để tăng
thêm năng lực biểu đạt nội dung bài giảng, qua đó người dạy có thể hình thành
phương pháp tư duy sáng tạo và tạo hứng thú cho người học. Như vậy, chúng ta có
thể xem ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục là hoạt động giáo dục được diễn ra có
sự hỗ trợ của CNTT. Trong quá trình đó GV sử dụng CNTT để phát triển trí tưởng tượng
của trẻ; tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức mới, kỹ năng mới, thái độ
mới và cuối cùng là dẫn dắt trẻ tới một phương pháp học hiệu quả hơn.
Như vậy, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại

tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố
cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Xã hội
phát triển qua nhiều phương thức sản xuất, trong quá trình lao động con người buộc
phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể. Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ
chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý.
Tùy theo nội dung, tính chất, đặc thù của mỗi loại lao động mà hoạt động quản
lý có những phương pháp, cách thức riêng.

15


Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Theo F.W.Taylor (1856 - 1915) “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất và rẻ nhất” [4, tr.11-12].
Theo H.Fayol (1841 - 1925), xuất phát từ các loại hình “Hoạt động quản lý”,
Ông đã nhấn mạnh quản lý gồm 5 chức năng cơ bản: “Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp, kiểm tra” [8, tr.31] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang : “Quản lý là sự
tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao
động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [19, tr.14]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong cuốn: “Đại cương
khoa học quản lý: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ
chức - nhằm làm cho tổ chức được vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5,
tr.9]. Cũng theo đó, tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, trong đó chủ thể quản lý sử dụng các
chức năng của quản lí, các biện pháp quản lí tác động vào đối tượng quản lý nhằm
thực hiện mục tiêu nhất định.

trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được
mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn
nhân lực của tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi thái độ của
những người khác nhằm đạt tới mục tiêu với chất lượng cao. Sau khi kế hoạch đã
được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có
người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người
khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được
mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế
hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý.
- Chức năng kiểm tra diễn ra ở giai đoạn cuối cuối cùng của chu trình quản
lý, là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới các
mục tiêu của tổ chức, chức năng kiểm tra bao gồm những nhiệm vụ chính sau đây:

17


+ Người quản lý đặt ra các chuẩn mực thành đạt của hoạt động.
+ Đánh giá, đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã
đặt ra.
+ Điều chỉnh những sai lệch.
+ Hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.
Trong những chức năng trên, mỗi chức năng đảm nhận vị trí, vai trò nhất
định, song các chức năng này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau.
Như vậy, chức năng quản lý là những vấn đề hết sức cơ bản của lý luận về
quản lý, nó giữ một vai trò quan trọng trong thực tiễn quản lý. Chức năng quản lý
và chu trình quản lý thể hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lý đối với
khách thể quản lý. Vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lý trong một
chu trình là cơ sở đảm bảo cho hiệu quả của toàn bộ hệ thống được quản lý. Việc
thực hiện chu trình quản lý có hiệu quả hay không là nhờ có thông tin. Thông tin

xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ
trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật
của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người. Chất
lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo
dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục”. [3, tr.71]
Từ những định nghĩa trên cho thấy: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, có ý thức phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản
lý ở các cấp lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục tiêu đã
định.
1.2.3. Quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục trực tiếp làm công tác GD&ĐT thế hệ trẻ.
Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt vừa làm quản lý nhà nước lại vừa là một hệ
thống độc lập, tự quản của xã hội.
Trong thời đại hiện nay, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết
chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có
tri thức, có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức lối sống và tác phong nghề nghiệp. Từ
đó cho ta thấy giáo dục nhà trường đóng vai trò chủ yếu tạo ra sức lao động mới cho
xã hội, đặc biệt là đòi hỏi hàm lượng chất xám trong xã hội ngày càng cao.
Theo điều 48 luật giáo dục 2005 “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status