VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HẰNG
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
XÃ TAM HIỆP, HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HẰNG
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
XÃ TAM HIỆP, HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRƯƠNG XUÂN CỪ
Hà Nội, 2019
tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội ................................36
2.4. Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ tại
các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội .....................................43
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
trong giáo dục trẻ ở các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội.....53
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM
NON XÃ TAM HIỆP, HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI............56
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp ...............................................................56
3.2. Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ tại
các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội .....................................57
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp ..................................................................68
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ....................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................78
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH
Ban giám hiệu CBQL
Cán bộ quản lý CBQLGD
Cán bộ
quản lý giáo dục
CBQL, GV, NV
LQCC
Làm quen chữ cái
LQVH
Làm quen văn học
NXB
Nhà xuất bản
PPDH
Phương pháp dạy học
QLGD
Quản lý giáo dục
TBDH
Thiết bị dạy học
THCS
Trung học cơ sở
UBND
Bảng 2.6. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động
giao duc trẻ ơ các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà
Nội................48
Bảng 2.7. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc quản lý ứng dụng CNTT trong
giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội ........50
Bảng 2.8: Thực trạng quản lý các điều kiện ứng dụng CNTT trong hoạt động
giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội ........53
Bảng 2.9: Đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố tới quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ (%)...........53
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp ............................71
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp ...............................72
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay, công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng ở
nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có nghiên cứu khoa học, công nghệ và giáo dục.
Trong giáo dục, công nghệ thông tin là một công cụ hiệu quả để hỗ trợ đổi mới
phương pháp dạy và học và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nâng cao hiệu
quả và chất lượng giáo dục.
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động giáo dục góp phần thực hiện
đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp giáo dục mầm non nói riêng, mà
GDMN là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực
CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảng dạy. Đặc biệt đối với trẻ mầm non,
quá trình lĩnh hội kiến thức của trẻ là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
trẻ luôn bị hấp dẫn bơi những gì mới lạ. Dạy trẻ mầm non không thể thiếu đồ dùng
trực quan. Chính vì vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý
giáo dục và làm đồ dùng dạy học, soạn giảng giáo án có vai trò tác dụng to lớn trong
việc nâng cao chất lượng quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Với việc
chuẩn bị kho học liệu điện tử, đánh máy giáo án, soạn giáo án điện tử, quản lý hồ sơ,
sớm, nhất là ở các nước tư bản phát triển. Từ những năm 1984, 1985 tổ chức
National Sofware - Cordination Unit (NSCU) được thành lập, cung cấp chương
trình giáo dục máy tính cho các trường trung học. Các môn học đã có phần mềm dạy
học bao gồm: nông nghiệp, nghệ thuật, thương mại, giáo dục kinh tế, tiếng Anh, địa
lý, sức khỏe, lịch sử, kinh tế gia đình, nghệ thuật công nghiệp, toán, âm nhạc, tôn
giáo, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, giáo dục đặc biệt…
Công nghệ thông tin là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học, kỹ
thuật hiện nay. Việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và
đào tạo đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu: Đề án “Tin học cho mọi
người” của nước Pháp năm 1970; Chương trình MEP “Chương trình giáo dục vi điện
tử” của nước Anh năm 1980; các chương trình và phần mềm các môn học cho
trường trung học được cung cấp bởi NSCU - Australia, năm 1984; đề án CLASS
“Máy tính và các nghiên cứu ở trường học” - Ấn Độ, 1985; Hội thảo về “Xây dựng
phần mềm tin học”, các nước châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại Malaysia năm
1985.
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu, một số tài liệu tiêu biểu như “Công nghệ dạy
học” (Instructional Technology for Teaching and Learning) đã mô tả việc xây dựng
kế hoạch tiến hành các hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật theo
hướng phát huy vai trò tích cực của người học; đề xuất các biện pháp sử dụng
phương tiện kỹ thuật phù hợp với những yêu cầu và hình thức dạy học cụ thể; đồng
thời, nhấn mạnh vai trò của phương tiện kỹ thuật nói chung, đặc biệt là công nghệ
thông tin như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động dạy học. Cuốn “Dạy
học với công nghệ: Tạo lớp học - học sinh làm trung tâm” của Judith H. Sandholtz
(1997), cuốn sách đã trình bày về dự án ACOT, nhằm triển khai các hướng ứng
dụng công nghệ máy tính trong giảng dạy theo hướng người học là trung tâm và
những ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục hiện đại; cuốn sách “Học với công
Ở Việt Nam, vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ngành giáo dục đã nhận
thấy sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo.
Đến năm 1985, những kiến thức nhập môn tin học đã được triển khai dạy thí điểm ở
một số địa phương. Từ năm học 1990 - 1991, một số kiến thức tin học đã chính thức
được đưa vào dạy trong chương trình của lớp 10 trung học phổ thông; bắt đầu từ
năm học 1993 - 1994, tin học đã trở thành một môn học có giáo trình riêng. Bên
cạnh đó, công nghệ thông tin được đưa vào nhà trường với tư cách là công cụ hỗ trợ
công tác quản lý như quản lý học sinh, quản lý nhân sự, quản lý thư viện, quản lý
kết quả học tập... CNTT là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng phát triển với tốc độ
rất nhanh.
Bước sang thời kỳ đổi mới, nhận thức được tầm quan trọng của CNTT mang
lại, đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng nhấn mạnh tới việc đẩy mạnh CNTT
như: Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, ngày 30/7/2001
nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong GD&ĐT ở tất cả các cấp
học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công
cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn
học...Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối Internet đến tất
cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục” [2].
Trần Minh Hùng (2012), trong luận án tiến sĩ giáo dục về “Quản lý hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường trung học phổ thông”. Qua
nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng, nguyên nhân ưu điểm
và hạn chế của hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tác giả đề
xuất các biện pháp cơ bản như: Nâng cao nhận thức về ứng dụng công nghệ thông
tin cho
đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông; nâng cao trình độ về ứng dụng công
nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên; tăng cường quản lý việc ứng dụng công nghệ
tập và phát huy được năng lực tư duy, sáng tạo của học sinh.
Nhận thức được vai trò to lớn của công nghệ thông tin trong giáo dục, ngoài
luận án, luận văn còn có rất nhiều các bài báo khoa học nghiên cứu về ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học như: Quách Tuấn Ngọc (1999),
với bài “Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin - xu thế của thời
đại”, đăng trên Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số 8; Lưu Lâm (2002),
với bài viết “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam”,
đăng trên Tạp chí Giáo dục số 20; Lê Hồng Sơn (2002), “Công nghệ thông tin và
truyền thông với giáo dục và đào tạo ở Việt Nam”, đăng tại Tạp chí Giáo dục số 32;
Đỗ Trung Tá (2004), “Ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông để đổi mới giáo
dục đại học ở Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 84; Đào Thái Lai (2006),
“Những yêu cầu đối với người giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động nghề nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Giáo dục số 5; Trần Khánh
(2007), “Tổng quan về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo
dục”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 161.
Trong các luận án, luận văn, các bài báo khoa học, các nhà khoa học, các nhà
quản lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí, tầm quan trọng, ứng dụng
và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục.
Tuy nhiên, việc đưa CNTT vào hoạt động giáo dục trẻ còn khó khăn, bất cập,
có nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết: Trình độ tin học cơ bản của
đội ngũ giáo viên còn hạn chế, nhiều giáo viên còn lúng túng khi thiết kế bài giảng
có ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ. Cho đến nay, ở các trường mầm non nói
chung và các trường mầm non xã Tam Hiệp nói riêng đã áp dụng rất nhiều biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập
đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ tại các trường
mầm non xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chính vì vậy việc
nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục
trẻ để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non xã Tam
Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội là hết sức cần thiết.
- Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về giáo dục
trẻ, ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường; phân tích, phân loại, xác định
các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để
hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.
5.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Phiếu trưng cầu ý kiến gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn đề hoạt động ứng
dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non xã
Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đối tượng khảo sát là giáo viên,
nhân viên, ban giám hiệu.
5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Thu thập những thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của hoạt động quản lý
ứng dụng công nghệ thông tin. Nhóm đối tượng phỏng vấn: Cán bộ quản lý, giáo
viên.
5.4. Phương pháp chuyên gia:
Phương pháp này tiến hành thông qua việc tác động trực tiếp giữa người hỏi
và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
5.5. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học:
Sử dụng thông tin điều tra thống kê từ đó phân tích so sánh các đánh giá của
các đối tượng, từ đó rút ra kết luận.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa được lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt
động giáo dục trẻ tại các trường mầm non bao gồm các khái niệm công cụ, ứng dụng
CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non, quản lý ứng dụng CNTT trong
HĐGD trẻ tại các trường mầm non, các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý ứng dụng
CNTT trong HĐGD trẻ tại các trường mầm non. Những lý luận này góp phần bổ
sung và làm phong phú thêm lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong HĐGD trẻ tại
trường mầm non.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của
con người và xã hội” [6].
Theo Luật CNTT thì: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công
nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và
trao đổi thông tin số”.[18]
Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn: “CNTT là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức khai thác và
sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm năng trong mọi
lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ”. [13, tr.90]
Ngay nay, với sư bung nô của CNTT, các phương tiện truyền thông và
Internet giúp con ngươi có những giải pháp tốt nhất để xư ly thông tin nhanh chóng
và chính xác. Trong giáo dục việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông,
Internet... đã góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học đa dạng, phong phú và đã thực
sự trở thành một phương tiện hỗ trợ có hiệu quả trong việc đổi mới PPDH.
Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công
nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin.
Như vậy, “CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ,
phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ
thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có
hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa… của
con người”.
1.1.2. Trường mầm non
Tại điều 21 và 22, Luật Giáo dục quy định, Giáo dục mầm non thực hiện việc
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu của
giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ,
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp
một. [20]
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí,
năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp
với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho
việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
Nội dung hoạt động giáo dục ở trường mầm non được quy định cụ thể tại
chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành bao gồm nội
dung chương trình giáo dục nhà trẻ và nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo.
Hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo bao gồm: hoạt động chơi; hoạt động học; hoạt động
lao động; hoạt động ngày hội, ngày lễ.
Hoạt động chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Trẻ có thể
chơi với các loại trò chơi cơ bản sau: Trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi ghép
hình, lắp ráp, xây dựng, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò
chơi dân gian, trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại.
Hoạt động học được tổ chức có chủ định theo kế hoạch dưới sự hướng dẫn
trực tiếp của giáo viên. Hoạt động học ở mẫu giáo được tổ chức chủ yếu dưới hình
thức chơi.
Hoạt động lao động đối với lứa tuổi mẫu giáo không nhằm tạo ra sản phẩm
vật chất mà được sử dụng như một phương tiện giáo dục. Hoạt động lao động đối
với trẻ mẫu giáo gồm: lao động tự phục vụ, lao động trực nhật, lao động tập thể.
Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân là các hoạt động nhằm hình thành một số
nền nếp, thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng
thái thoải mái, vui vẻ.
Các hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục: Theo mục đích và nội dung
giáo dục, có các hình thức: Tổ chức hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý
thích của trẻ, tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự kiện quan trọng trong năm liên
quan đến trẻ có ý nghĩa giáo dục và mang lại niềm vui cho trẻ. Theo vị trí không
non
mầm
Tại Điều 4, Luật công nghệ thông tin giải nghĩa từ: Ứng dụng công nghệ
thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh
tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này [21].
Ở trường mầm non, CNTT được ứng dụng trong hoạt động chăm sóc, hoạt
động giáo dục và quản lý. Như vậy có thể hiểu ứng dụng CNTT ở trường mầm non
là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động chăm sóc, hoạt động giáo dục trẻ và quản
lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động đó.
Ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục là phương pháp làm tăng giá trị
lượng tin, trao đổi tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn. Nhờ CNTT để tăng
thêm năng lực biểu đạt nội dung bài giảng, qua đó người dạy có thể hình thành
phương pháp tư duy sáng tạo và tạo hứng thú cho người học. Như vậy, chúng ta có
thể xem ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục là hoạt động giáo dục được diễn ra
có sự hỗ trợ của CNTT. Trong quá trình đó GV sử dụng CNTT để phát triển trí tưởng
tượng của trẻ; tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức mới, kỹ năng
mới, thái độ mới và cuối cùng là dẫn dắt trẻ tới một phương pháp học hiệu quả hơn.
Như vậy, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ tại
trường mầm non là việc sử dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục do
giáo viên tổ chức, hướng dẫn với sự tham gia tích cực của trẻ nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục tại trường mầm non.
1.1.4.2. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục
trẻ tại trường mầm non
Giáo viên ứng dụng CNTT trong khai thác dữ liệu thông qua các công cụ tìm
kiếm trên Internet hoặc tìm kiếm trên các Website thư viện bài giảng. Mạng Internet
Theo F.W.Taylor (1856 - 1915) “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất và rẻ nhất” [4, tr.11-12].
Theo H.Fayol (1841 - 1925), xuất phát từ các loại hình “Hoạt động quản lý”,
Ông đã nhấn mạnh quản lý gồm 5 chức năng cơ bản: “Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp, kiểm tra” [8, tr.31] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang : “Quản lý là sự
tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao
động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [19, tr.14]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong cuốn: “Đại cương
khoa học quản lý: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ
chức - nhằm làm cho tổ chức được vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5,
tr.9]. Cũng theo đó, tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, trong đó chủ thể quản lý sử dụng các
chức năng của quản lí, các biện pháp quản lí tác động vào đối tượng quản lý nhằm
thực hiện mục tiêu nhất định.
Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự
nỗ lực của người khác. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con
người. Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:
Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm làm cho tổ
chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Từ những định nghĩa trên ta có thể khẳng định: Quản lý là quá trình tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng
việc vận dụng các chức năng quản lý (kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra),
các nguyên tắc và các kỹ năng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được