Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Nội dung
Trang bìa
Mục lục
Phần mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Mục đích nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu;
Phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Cơ sở lý luận
Thực trạng nghiên cứu
Thuận lợi – khó khăn
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
Mục đích của việc giáo dục ngôn ngữ này là nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao
tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà
chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh
của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới.
Chương trình môn tiếng Việt mà chúng ta đang thực hiện giảng dạy đã xác định rõ
mục tiêu của môn tiếng Việt bậc tiểu học là:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc,
viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đối với lớp Bốn mục tiêu nói trên được cụ thể hóa thành những yêu cầu về kiến
thức và kĩ năng đối với học sinh trong phân môn tập đọc như sau:
- Biết cách đọc các loại văn bản hành chính, khoa học, báo chí, văn học phù hợp
với thể loại và nội dung văn bản, thể hiện được tình cảm, thái độ của tác giả, giọng điệu
nhân vật…
- Đối với học sinh cấp tiểu học việc rèn đọc giúp các em học và sử dụng đọc trong
tất cả các môn học, là cơ sở, phương tiện để học các môn học khác.
- Vấn đề luyện đọc đối với học sinh người Kinh dễ dàng và thuận lợi, vì khi sinh ra
các em đã biết sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong quá trình giao tiếp, nên các em tiếp thu dễ
dàng hơn. Còn đối với học sinh đồng bào, đặc biệt là đông bào Ê đê việc rèn đọc là công
việc khó khăn. Sở dĩ khi vào tiểu học các em mới làm quen với môn tiếng Việt, làm quen
với một ngôn ngữ mới. Đến lớp Bốn, chỉ mới sau ba năm làm quen, tập đọc ở mức sơ
giản, thì lớp Bốn các em luyện đọc mức cao hơn, văn bản dài hơn, tốc độ nhanh hơn. Vì
thể đòi hỏi các em học sinh khối lớp 4 phải có sự tập trung cao về các yếu tố như: sức
khỏe, tinh thần…tốt hơn lớp Ba, nhưng đặc điểm học sinh vùng đồng bào dân tộc sức
khỏe các em chẳng phát triển hơn lớp Ba là mấy, vì các em ít được gia đình chăm sóc về
a. Khách thể:
- Về giáo viên:
Trong những năm giảng dạy lớp Bốn, bản thân đã đúc rút một số kinh nghiệm của
mình trong quá trình hướng dẫn luyện đọc cho học sinh đọc yếu lớp Bốn vùng đồng bào
dân tộc.
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
3
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
- Về học sinh:
+ Học sinh lớp 4B, năm học 2012-2013, trường tiểu học Tô Hiệu.
+ Số học sinh yếu 8/20 học sinh cả lớp.
- Về độ tuổi: trong số 8 em đọc yếu có:
5 em học đúng tuổi (sinh năm 2003)
3 em lớn hơn 1 tuổi (sinh năm 2002)
I.5. Phạm vi nghiên cứu:
Lớp 4B năm học 2012- 2013.
Môn: Tập đọc.
Phần: Rèn đọc đúng cho học sinh đọc yếu vùng đồng bào dân tộc.
I.6. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp trò chuyện.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thống kê.
* Đề tài nghiên cứu theo hướng đổi mới nhằm phát huy tính tự giác, tích cực của học sinh.
Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn giúp các em tự tìm tòi sáng tạo trong quá trình
văn bản cụ thể, nội dung của văn bản để thể hiện cho chính xác cách đọc.
c. Kĩ năng:
Tập đọc lớp Bốn rèn cho học sinh kĩ năng: biết cách đọc các loại văn bản: hành
chính, khoa học, báo chí,văn học phù hợp với thể loại và nội dung văn bản; thể hiện tình
cảm, thái độ của tác giả, giọng điệu của nhân vật.
- Đọc thầm tốc độ nhanh hơn lớp Ba…
- Muốn đạt được kĩ năng trên đòi hỏi người hướng dẫn, giảng dạy phải luôn quan
tâm đến tất cả học sinh, đặc biệt là học sinh đọc yếu.
II.2. Thực trạng:
a. Thực trạng:
- Chất lượng, hiệu quả giáo dục ngôn ngữ hiện nay của học sinh ở vùng đồng bào
dân tộc vẫn còn thấp. Đặc biệt, chất lượng bài kiểm tra, bài thi môn Tiếng Việt ở
Tiểu học đều rất thấp, học sinh không đủ vốn từ vựng để hiểu các môn học khác.
Nguyên nhân của tình trạng trên là năng lực ngôn ngữ, kiến thức tiếng Việt của các
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
5
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
em còn hạn chế, việc dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu
số vẫn chưa mang lại hiệu quả mong đợi. Là những người làm công tác giáo dục,
chúng ta hãy suy ngẫm về kết quả giáo dục này!
- Trong thực tế giảng dạy tại lớp 4B trường tiểu học Tô Hiệu tôi nhận thấy việc dạy
tập đọc đang còn nhiều hạn chế. Khảo sát kết quả đầu năm lớp tôi đảm nhiệm chất lượng
rất thấp và còn hạn chế một số điểm như:
+
Phát âm thiếu dấu, thừa dấu, sai dấu ( trường hợp phổ biến).
8
40%
b. Thuận lợi – khó khăn:
* Thuận lợi : Trường đóng trên địa bàn trung tâm giữa ba buôn nên thuận tiện cho việc
đến trường của học sinh.Các em được trang bị sách vở đầy đủ ( được nhà nước hổ trợ).
Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, lớp Bốn được học 2 buổi / ngày nên có thời gian
dành cho việc luyện đọc.
* Khó khăn: Khác với học sinh người Kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người
dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có số ít các em được trải qua
sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội
thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm
Non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các
em bước vào lớp1. Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như
các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo
dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em. Việc giao tiếp thông
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
6
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
thường với thầy cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những
kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các
em. Đến trường, đến lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ,
tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến
trường. Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các
Như đã nói ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em một môi trường
học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các em ý thức học
tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là điều hiển nhiên.
Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây dựng
bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các em rất
khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với việc kiềm hãm sự phát
triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu
lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường. Học tập lúc này là công việc quá khó
khăn đối với các em.
Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc
không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản
lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không chú trọng tới việc học của con,
em mình. Điều này cho thấy đa số các em không được nằm trên một cái nền học vấn nhất
định nào đó của gia đình. Việc học tập của các em phải nhờ đến sự tận tâm của giáo viên,
nhờ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường. Cho nên ý thức học tập là đặc tính rất cần
được chúng ta xây dựng cho các em.
Hiện nay, xã hội vẫn chưa có sự quan tâm sâu sát đến điều kiện học tập của học sinh dân
tộc thiểu số. Nhà nước ta chỉ chú ý đến cơ sở vật chất của Trường học, chứ chưa chú trọng
đến đời sống của học sinh một cách đúng mức.
c.Nguyên nhân- Hạn chế :
Về giáo viên:
-
Do một số giáo viên chưa giảng dạy nhiệt tình, chưa quan tâm giúp đỡ đến đến các
đối tượng học sinh yếu, chưa vận dụng linh hoạt trong đổi mới phương pháp giảng
dạy. Trong tiết dạy tập đọc chưa tập trung hướng dẫn rèn đọc cho học sinh mà còn
dạy chung chung, hình thức, không đặt tình hình lớp mình vào điều kiện cụ thể. Đa
số giáo viên người Kinh ở nơi khác đến giảng dạy ở các tỉnh Tây Nguyên đều
không biết ngôn ngữ Dân tộc, nếu biết thì cũng chỉ dừng ở mức độ ít nên họ không
thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những tình huống cần thiết trong dạy học
II.3. Giải pháp:
Trước thực trạng nêu trên, trong quá trình đảm nhiệm giảng dạy lớp 4B, trường tiểu
học Tô Hiệu năm học 2012-2013 tôi xác định để học sinh đọc, đọc chính xác một văn bản
giúp các em mạnh dạn, tự tin trong quá trình rèn đọc. Từ đó giúp các em tiếp thu được các
kiến thức của các môn học khác; trong quá trình hướng dẫn học sinh tôi đã sử dụng một
số biện pháp như sau:
a. Rèn phát âm đúng dấu thanh:
- Việc rèn phát âm đúng âm,từ, câu là công việc cơ bản, học sinh dân tộc hay phát
âm thiếu dấu,sai dấu. Vì vậy tôi động viên các em nhận biết dấu; cách phát âm dấu như
thế nào, chẳng hạn trong bài tập đọc đầu tiên chương trình tập đọc lớp 4: “ Dế Mèn bênh
vực kẻ yếu”. Ngay tiêu đề các em đã đọc sai các dấu: “Dế” đọc “Dê”; “Mèn” đọc “Men”;
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
9
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
“vực” đọc “vức”…Trước tình hình đó, tôi yêu cầu các em tự nhẩm lại vần, nêu dấu thanh
đi kèm của các tiếng, tự ghép dấu cho đúng, nếu các em ghép chưa đúng yêu cầu em đọc
chính xác đọc mẫu cho em yếu đọc theo. Sau đó kết hợp đọc cả câu.
- Phân chia chỗ ngồi đầu năm tôi đã chú ý sắp xếp em học khá ngồi cạnh em học
yếu để giúp đỡ em học yếu.
- Gợi ý cách phát âm về dấu, các dấu thanh: huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng mỗi dấu
thanh phát âm khác nhau khi kết hợp trong các tiếng. Ghi nhớ tên các dấu để phát âm cho
đúng, cho chuẩn.
- Động viên các em mạnh dạn trong quá trình luyện phát âm, nếu sai tiếp tục phát
âm lại cho đến khi chuẩn theo sự hướng dẫn của cô.
- Phát âm sai dấu thanh, đọc không dấu là lỗi phổ biến của học sinh người đồng bào
Ê đê.Vì vậy điều chỉnh dấu thanh cho các em khi đọc phải thường xuyên, liên tục trong
học để hướng dẫn trong tiết dạy.Hướng dẫn các em lấy hơi, nhịp thở để đọc các câu có
cụm từ dài.
Các bài tập đọc lớp Bốn hầu hết đều dài, gồm nhiều câu dài chẳng hạn trong bài: “
Trung thu độc lập” có câu sau: “ Anh mừng cho các em vui Tết trung thu độc lập đầu
tiên / và anh mong ước ngày mai đây, những tết trung thu tươi đẹp hơn nữa / sẽ đến với
các em //.
Trong bài: “ Đôi giày ba ta màu xanh” có câu: “ Tôi tưởng tượng nếu mang nó vào /
chắc bước đi sẽ nhẹ và nhanh hơn, tôi sẽ chạy trên những con đường đất mịn trong làng /
trước cái nhìn thèm muốn của các bạn tôi//…
Đối với học sinh yếu cần động viên các em đọc bài ở nhà nhiều để thuần thục văn
bản khi đó luyện ngắt nghỉ hơi mới thuận lợi hơn.
d. Rèn đọc đúng tên riêng nước ngoài:
Những bài tập đọc có tên nước ngoài trong chương trình tập đọc lớp Bốn cũng được
chiếm số lượng rất lớn, có tên riêng đơn giản nhưng cũng có tên dài kèm họ khó đọc.
Trước hết cần hướng dẫn các em xác định cách đọc, cách nhẩm vần ( nhẩm nhanh)
đọc liền mạch các tên, không ngắt nghỉ giữa các tiếng trong một tên.Một số tên riêng
phiên âm dễ đọc nhưng một số tên kèm theo một số phụ âm đứng trước nhiều học sinh
chưa biết cách đọc. Ví dụ: tên Tooc-ti-la, Xi-ôn-cốp-xki, Lu-I Pa-xtơ…
Khi vào bài đọc nước ngoài cần lựa chọn tên riêng nước ngoài hướng dẫn học sinh
luyện đọc trước, cho học sinh đọc tốt đọc mẫu, hướng dẫn bạn yếu đọc theo sửa sai cho
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
11
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
bạn ( theo nhóm đôi).Sau đó cho học sinh yếu đọc trước lớp, giáo viên sửa sai hướng dân
cho đến khi các em đọc chuẩn xác nhất. Luyện đọc lại cũng cho học sinh yếu đọc lại để
xem mức độ ghi nhớ và cách phát âm của các em yếu.
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
- Việc dạy đọc tôi kết hợp với công tác giáo dục ý thức cho học sinh, chẳng hạn như
vì sao cùng học với mình mà các bạn lại đọc tốt còn mình thì không? Câu chuyện “ Có
công mài sắt, có ngày nên kim” khuyên ta điều gì? Một số tấm gương sáng về việc rèn
đọc, viết như: Cao Bá Quát, Nguyễn Hiền…Cần cho các em thấy rằng việc cần cù rèn
luyện sẽ được kết quả xứng đáng, mỗi ngày các em hãy rèn đọc một ít ắt sẽ có ngày đọc
tốt. Ngược lại nếu lười nhát, không chịu rèn luyện thì chẳng có kết quả gì.
- Bên cạnh đó tôi theo dõi sát sao việc luyện đọc ở nhà của học sinh, việc luyện đọc
ở nhà nhiều sẽ giúp các em đến lớp đọc nhanh, giáo viên có thời gian sửa sai những chỗ
còn “hổng” cho các em.Đông thời nắm bắt được em nào có tinh thần tự giác luyện đọc,
em nào chưa để từ đó chấn chỉnh kịp thời.
- Động viên phụ huynh tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe, vệ sinh, tạo thời gian cho
con tham gia học tập.
III. KẾT LUẬN
III.1.Kết luận: Trong những năm gần đây việc chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy
cùng với một số cuộc vận động lớn của ngành Giáo dục; chất lượng giáo dục đã từng
bước được nâng cao; đồng thời việc giảm tải chương trình,việc áp dụng giảng dạy theo
vùng miền, giáo viên tự lên kế hoạch giảng dạy phù hợp với thực tế lớp mình giảng dạy,
…đã làm cho công tác giảng dạy đáp ứng được nhu cầu, kết quả được nâng lên rõ rệt.
Trong tiết học học sinh chủ động, tự giác, tích cực học tập.
Bản thân tôi dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường cùng với sự trao
đổi, góp ý kinh nghiệm của tập thể giáo viên nhà trường, sự cố gắng nổ lực của bản thân
với quá trình thực hiện như trên trong suốt quá trình giảng dạy của mình ở năm học 20122013 tôi xin mạnh dạn đánh giá kết quả đạt được như sau:
- Về học sinh:
Khi vận dụng hình thức giảng dạy như trên học sinh lớp tôi hầu hết rất thích thú,
tích cực khi tham gia học môn tập đọc. Luyện đọc sôi nổi, tham gia góp ý, nêu lỗi sai của
bạn một cách hào hứng. Bạn đọc sai không ngại sửa chữa sai sót của mình, mạnh dạn
khắc phục để đọc tốt hơn.
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
Y Thuật Ayun
Y Sy Mlô
Y Khuê Mlô
Y Dương Niê
H Blat Adrơng
Y Quyn Niê
Y Nai Niê
Y Măk Niê
Đầu năm
2
3
4
3
4
3
4
3
Điểm các lần kiểm tra
GKI
CKI
4
5
4
5
5
6,5
4
6
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
những thiếu sót trước đây trong hướng dẫn giảng dạy học sinh luyện đọc, tạo thói quen
làm việc linh động, nhạy bén, tạo dựng tinh thần giảng dạy tốt. Bản thân cũng rút ra một
số kinh nghiệm như:
- Chuẩn bị tiết dạy cần đảm bảo theo hướng khoa học, sáng tạo, bài dạy chuẩn bị kĩ
càng ( dự kiến từ ngữ các em dễ đọc sai, cách sửa sai, các câu dài, câu khó in sẵn cho
phần hướng dẫn ngắt nghỉ…)
- Theo dõi sát sao quá trình luyện đọc cho học sinh sửa sai ngay tại chỗ để học sinh
ghi nhớ.
- Tạo điều kiện cho tất cả học sinh tham gia công việc luyện đọc, tạo không khí thỏa
mái, tinh thần thân thiện là động lực để các em tham gia học sôi nổi và tư nhiên.
- Luôn luôn trau dồi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, lắng nghe và tiếp thu ý kiến
hay của bạn bè đồng nghiệp.Đọc và nghiên cứu kĩ tài liệu, linh động trong việc sử dụng
phương pháp giảng dạy, kết hợp các phương pháp khoa học và hợp lý.
- Nhiệt tình trong công tác, luôn tận tụy với nghề, quan tâm và biết liên hệ vận động
gia đình học sinh để gia đình động viên tạo điều kiện cho con em mình học tập.
- Quan tâm đến việc học tập của học sinh, đặc biệt lại là học sinh Tiểu học dân tộc
thiểu số cũng không có được mấy người trong số tất cả những người đang trên bục giảng
ở vùng khó khăn. Và trước tâm thế đến trường của học sinh như vậy, thiết nghĩ, giảng dạy
cho học sinh ở những vùng khó, chúng ta cần hiểu được những vấn đề về tâm lý của học
sinh, về điều kiện, hoàn cảnh sống của gia đình các em để tìm ra những biện pháp giáo
dục, dạy học các em hiệu quả hơn, đưa các em đến với ánh sáng của tri thức. Giáo viên
cũng cần tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học ngôn ngữ địa phương, thâm nhập đời
sống văn hóa cộng đồng, đặc biệt là hằng năm, các sở Giáo dục - Đào tạo, phòng Giáo
dục cần có chương trình, kế hoạch bồi dưỡng giáo viên người dân tộc dài ngày và thường
xuyên hơn để việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số hiệu quả. Một điều
cuối cùng là, giáo viên cần giúp cho học sinh dân tộc thiểu số hiểu tiếng Việt là ngôn ngữ
Người thực hiện
Dương Thị Cẩm
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
16
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1
2
3
4
5
Tên tài liệu
Sách giáo viên tiếng Việt 4
Sách giáo khoa tiếng Việt 4
Giáo dục phổ thông
Ngôn ngữ số 3
Tâm lý học đại cương
Tác giả
Nhà xuất bản Giáo dục
Nhà xuất bản Giáo dục
Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn đọc cho học sinh yếu lớp 4 vùng dân tộc thiểu số
Gv: Dương Thị Cẩm- Trường tiểu học Tô Hiệu – Năm học 2012 – 2013.
21