(Luận văn thạc sĩ) Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------

HOÀNG THỊ QUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

\

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------

HOÀNG THỊ QUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG TRỊ

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số

: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

2.3. Đánh giá chung về hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị .......................................................................................... 43
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG TRỊ .................................................................................................. 52
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực
tiễn tỉnh Quảng Trị .......................................................................................... 52
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển từ thực
tiễn tỉnh Quảng trị ........................................................................................... 55
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Viết tắt

Nội dung

1

ASEAN

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

2

HĐND


Văn hóa thể thao du lịch


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020 (theo
ngành đào tạo) ................................................................................................. 27
Bảng 1.2. Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020 (theo vị
trí làm việc và theo ngành nghề) ..................................................................... 28
Bảng 2.1. Tổng hợp nguồn vốn bố trí cho hoạt động lập quy hoạch và xây
dựng kết cấu hạ tầng về du lịch tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2018 .... 38
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch của tỉnh Quảng Trị........................ 39
Bảng 2.3. Công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động di lịch trên địa bàn
tỉnh Quảng Trị từ năm 2014 - 2018 ................................................................ 42
Bảng 2.4. Dự báo khách du lịch đến Quảng Trị giai đoạn 2020-2025 ........... 46


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc,
thay đổi diện mạo và từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong nền kinh
tế quốc dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, xóa đói giảm
nghèo và cải thiện đời sống cho người dân. Du lịch không chỉ mang lại nguồn
thu nhập lớn cho nền kinh tế, tạo việc làm, phát triển các ngành dịch vụ, cơ sở
vật chất hạ tầng, mà còn thúc đẩy hòa bình, giao lưu văn hóa giữa các nước
trên thế giới. Ở Việt Nam du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng đã và
đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Với bờ biển dài 3260
km cùng hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ và hàng trăm bãi tắm cát trắng trải dài từ
Bắc vào Nam, Việt Nam có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển ngành
du lịch biển.

dọc bờ biển có nhiều vũng kín thuận lợi cho phát triển cảng, xây dựng khu
sửa chữa, neo đậu tàu thuyền và nhiều bãi tắm đẹp, danh lam thắng cảnh là
điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển du lịch sinh thái biển. Cấp ủy
đảng quan tâm lãnh đạo về mọi mặt, chính quyền tạo thuận lợi về cơ chế,
chính sách để phát triển du lịch biển là điểm sáng cơ bản trong bức tranh tổng
thể của du lịch tỉnh Quảng Trị.
Trong những năm qua, du lịch biển Quảng Trị đã đạt được nhiều kết quả
đáng khích lệ. Lượng khách du lịch đến biển Quảng Trị ngày càng tăng, nhiều
dự án đầu tư phát triển du lịch được triển khai xây dựng. Cùng với sự phát
triển chung của du lịch tỉnh, du lịch biển Quảng Trị đã chuyển biến ngày một
mạnh mẽ với những bước tiến quan trọng cả về lượng và chất. Tuy nhiên
trong quá trình phát triển, bên cạnh những thành quả đã đạt được, du lịch biển
Quảng Trị vẫn còn nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục sớm. Đó là hệ
2


thống văn bản, cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, cơ sở vật chất phục vụ du
lịch biển còn thiếu, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn và đơn điệu, chất lượng
phục vụ du lịch chưa cao. Một số yếu tố đã xuất hiện có ảnh hưởng đến sự
phát triển bền vững của du lịch biển Quảng Trị và qua đó tác động đến việc
thực hiện quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị chưa đạt được những
mục tiêu đã đề ra. Nhận thức được vấn đề đó tác giả xin chọn đề tài “Quản lý
Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị” làm đề tài luận văn
Thạc sĩ của mình với mong muốn hoàn thiện quy định pháp luật và công tác
quản lý Nhà nước về du lịch biển nhằm mục đích đưa du lịch biển Việt Nam
nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng ngày càng phát triển và trở thành
“ngành kinh tế mũi nhọn” của đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý nhà nước về du lịch biển là một trong những nội dung quan
trọng và là chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đến nay đã có

Luận văn phân tích đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về du lịch
biển ở thành phố Đà Nẵng, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch biển trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng nhằm thúc đẩy ngành du lịch biển của thành phố phát triển nhanh và
bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay.
Các công trình nghiên cứu nêu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích,
đánh giá tình hình quản lý nhà nước về du lịch. Mỗi công trình có sự nhìn
nhận từ các khía cạnh khác nhau đã góp phần hệ thống hóa lý luận, phản ánh
một bức tranh thực tế về công tác quản lý nhà nước về du lịch nói chung và
du lịch biển nói riêng -là nguồn tư liệu quý để đề tài tham khảo và kế thừa.
Tuy nhiên lại chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ toàn
diện và sâu sắc đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn
tỉnh Quảng Trị. Vì vậy tác giả chọn đề tài này làm công trình nghiên cứu của
4


mình nhằm góp phần làm rõ, bổ sung vào những khuyết điểm đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển ở tỉnh
Quảng Trị nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ một cách hệ thống về lý luận về pháp luật công tác quản lí
nhà nước trong lĩnh vực du lịch biển trong giai đoạn hiện nay.
Phân tích những kết quả, những tồn tại bất cập và những thách thức đặt
ra đối với du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại
tỉnh Quảng Trị.
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của tỉnh Quảng Trị trở

chung và tỉnh Quảng trị nói riêng. Bên cạnh đó, luận văn còn dùng các
phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đề tài kế thừa có chọn lọc những kết
quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật quản lý nhà nước
về du lịch biển cơ sở các phân tích, bình luận để thể hiện góc nhìn mới, trực
diện các vấn đề từ đó để có cái nhìn tổng quan.
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ
vấn đề, tác giả sẽ tiến hành so sánh số liệu từ các năm để rút ra các đánh giá,
nhận xét.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản
quản lý nhà nước về du lịch biển hiện nay.
6


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu đánh giá việc quản lý nhà nước về du lịch biển của
tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay, qua đó thấy được những hạn chế
vướng mắc và từ đó luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về du lịch biển nhằm phát triển hơn nữa ngành du
lịch biển của tỉnh trong những năm tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về
du lịch biển
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch biển trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

nhân dân các nước. Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận
8


bằng nhiều góc độ khác nhau:
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization)- một tổ
chức thuộc Liên Hiệp Quốc “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của
những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm
hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như
mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục
nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại
trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”. Du lịch cũng là một dạng
nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. Du lịch
được xem như là một chuyến đi của con người, với nhiều mục đích cụ thể
riêng biệt đến một nơi khác mà không phải để định cư và có sự trở về sau
chuyến đi. [29, tr 15]
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là “Đi một
vòng”[33, tr 158 ]. Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ La tinh thành Turnur
và sau đó thành Tour trong tiếng Pháp với nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo
chơi.
Theo Robert Langquar (1980), từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên được sử
dụng trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá, nhiều nước
đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch
là một từ gốc Hán - Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm. Ngày nay, du lịch
đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở mọi quốc gia.
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đã nêu khái niệm du lịch như
sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá
tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.

của quy luật kinh tế. Yêu cầu đặt ra đối với công tác QLNN là phải đảm bảo
10


môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động
du lịch phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích. Thực
hiện kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch đảm bảo phát triển du lịch bền vững,
phát triển một cách trật tự, ổn định, kỹ cương và uốn nắn những hiện tượng,
hành vi vi phạm pháp luật.
Từ đó có thể hiểu: Quản lý nhà nước về du lịch biển là sự tác động có tổ
chức và bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động của nhà kinh doanh du
lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan nhằm đảm bảo tài nguyên
biển được bảo tồn, du lịch biển phát triển theo đúng định hướng, chiến lược,
tạo nên sự phát triển bền vững và có hiệu quả trong toàn ngành du lịch và
trong nền kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về du lịch biển
Thứ nhất, quản lý Nhà nước về du lịch biển là hoạt động mang tính tổ
chức và điều chỉnh.
Tính tổ chức và điều chỉnh được thể hiện ở việc các cơ quản quản lý nhà
nước về du lịch biển ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng các
đối tượng quản lý là du lịch biển phát triển và theo một thể thống nhất. Việc
phát triển du lịch biển phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật để buộc hoạt
động của nhà kinh doanh du lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan
phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng
trong xã hội.
Thứ hai, quản lý Nhà nước về du lịch biển phải mang tính khoa học, tính
kế hoạch.
Du lịch biển, đảo được xây dựng và phát triển trên cơ sở khai thác tài
nguyên du lịch tự nhiên là ven biển, nước biển, cát biển,... và các hòn đảo tự
nhiên trên cơ sở khai thác và phát triển cùng với du lịch nhân văn. Hoạt động

đa tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương, đảm bảo việc phát triển du lịch biển
12


đi đúng hướng,; hạn chế những mặt tiêu cực trong việc phát triển du lịch biển
mang lại như tình trạng ô nhiễm môi trường, phức tạp trong an ninh trật
tự,...Du lịch biển đóng góp rất nhiều cho một đất nước, một địa phương như
tăng thu ngân sách, tạo ra nguồn ngoại tệ lớn góp phần tăng trưởng kinh tế,
tuy nhiên nó cũng có những tác động tiêu cực. Bên cạnh đó, việc định hướng
phát triển du lịch dài hạn góp phần đầu tư và kêu gọi đầu tư một cách bài bản,
có trọng tâm, trọng điểm. Sự quản lý của nhà nước sẽ giúp cho các doanh
nghiệp hoạt động trong khuôn khổ cho phép, xóa bỏ dần các hành vi kinh
doanh thiếu văn minh, cạnh tranh không lành mạnh hoặc đơn thuần chạy theo
lợi nhuận phá hoại môi trường sinh thái, môi trường xã hội gây ra những ảnh
hưởng tiêu cực đối với xã hội.
Thứ hai, trong quá trình đầu tư, phát triển các loại hình dịch vụ du lịch
biển, các doanh nghiệp thường sẽ gặp các khó khăn, vướng mắc về thủ tục
hành chính, về đăng kí,...cơ quan quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong
việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của
doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho các doanh nghiệp được phát
triển hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh nhiệm vụ hoạch định kế hoạch
phát triển, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các doanh nghiệp.
Thứ ba, việc quản lý Nhà nước bằng các chiến lược, chương trình phát
triển hợp lý vừa tạo nên những bước tiến trong lĩnh vực du lịch biển, vừa bảo
vệ lợi ích chính đáng của khách du lịch trong nước và quốc tế và các nhà đầu
tư, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch biển. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa sản
phẩm du lịch biển là định hướng phát triển chung của toàn ngành sẽ mang đến
cơ hội cạnh tranh, thu hút khách du lịch quốc tế đến với Du lịch biển Việt
Nam. Với đặc điểm về sự giao lưu quốc tế rộng rãi thông qua việc thu hút,
đáp ứng thị trường khách du lịch quốc tế đông đảo, phát triển du lịch đi đôi

càng được hoàn thiện để phát huy hết chức năng quản lý của mình.
14


+ Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương bao gồm:
Tổng cục du lịch cùng các vụ chức năng; Các bộ ngành như: Bộ Tài chính,
Ngân hàng nhà nước, Bộ Kế hoạch đầu tư...
Từ ngày Luật Du lịch 2017 chính thức có hiệu lực thi hành, Chính phủ
thống nhất quản lý nhà nước về du lịch. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là
cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. Tổng
cục Du lịch (tiếng Anh: Vietnam National Administration of Tourism) là một
cơ quan trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, (trước năm 2007 trực
thuộc Chính phủ Việt Nam) có nhiệm vụ quản lý ngành du lịch ở Việt Nam.
Tổng cục du lịch được thành lập đã góp phần vào công tác chỉ đạo, phối hợp
thực hiện kế hoạch, quy hoạch phát triển du lịch.
+ Ở địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch biển là Uỷ ban
nhân dân các cấp, trực tiếp là Sở văn hóa- Thể thao và Du lịch.
Cơ quan QLNN về du lịch ở địa phương là Sở Du lịch (Hiện nay, Sở Du
lịch đã được đổi tên thành Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch). Sở Văn hóa –
thể thao và Du lịch được ra đời theo Quyết định số 171/TTg ngày 17 tháng 4
năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch là cơ
quan giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động du lịch trên
phạm vi tỉnh, thành phố; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Tổng cục Du lịch.
Đối với hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển thì Sở Văn hóa - Thể
thao và Du lịch thực hiện chức năng, nhiệm vụ sau:
- Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt
- Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu
tài nguyên du lịch của tỉnh theo quy chế của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du

Du lịch biển đảo là loại hình du lịch được phát triển dựa trên những tiềm
16


năng về biển, diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển đảo hướng tới thỏa
mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm
biển, nghiên cứu…vì vậy, đối tượng quản lý nhà nước về du lịch rất đa dạng,
bao gồm: các cơ sở kinh doanh du lịch; đội ngũ lao động trong ngành du lịch;
kết cấu hạ tầng kĩ thuật; tài nguyên du lịch; du khách, sản phẩm du lịch...
Cơ sở kinh doanh là các tổ chức kinh doanh nhằm mục đích thu lợi
nhuận trong lĩnh vực du lịch của tổ chức, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu về
hàng hóa, dịch vụ du lịch của khách du lịch. Kinh doanh du lịch bao gồm các
ngành nghề: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch,; kinh doanh phát
triển khu du lịch, điểm du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch khác.
Khách du lịch là đối tượng cung ứng của ngành du lịch. Khách du lịch có
thể là một tổ chức, một nhóm người, một cá nhân tham gia vào hoạt động du
lịch với mục đích thỏa mãn nhu cầu vui chơi, tham gia, khám phá và giải trí
của mình. Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
và đây là đối tượng quản lý chủ yếu của du lịch biển.
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách.
Cũng như các ngành kinh doanh dịch vụ khác, sản phẩm của du lịch là sản
phẩm đặc biệt, vừa bao gồm các sản phẩm có tính chất vô hình, không định
lượng được, vừa bao gồm các sản phẩm hiện vật, hữu hình như các sản phẩm
thông thường khác gồm:
Thắng cảnh biển – Di sản Thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long với sự kỳ
bí của hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ;
Các bãi biển phục vụ nghỉ dưỡng ven biển - dải ven biển miền Trung
phục vụ nghỉ dưỡng biển kết hợp với nhiều hoạt động du lịch khác như tham
quan các di sản văn hóa thế giới...;
Thể thao biển với các hoạt động thể thao quốc tế (lặn biển tại Nha Trang,

pháp luật về du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng là điều cần thiết. Cùng
18


với đó để chính sách pháp luật đi vào cuộc sống các cơ quan quản lý nhà nước
về du lịch biển phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Tạo môi
trường pháp lý vững chắc cho hoạt động du lịch. Nhà nước bằng việc tạo lập
các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về du lịch, sử dụng bộ máy này để
hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm
pháp luật...Bên cạnh đó, việc hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa các cơ
quan quản lý nhà nước về du lịch đối với các cấp trong hệ thống quản lý du
lịch của trung ương, tỉnh, huyện cũng phải thực thi một cách có hiệu quả.
Thứ ba, tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về du lịch biển
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những chức năng
trong công tác tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước của ngành Văn hóa, Thể
thao và Du lịch; đây là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật, nhằm
đưa các quy định của pháp luật về lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, đến với
cán bộ và nhân dân. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác này, Ban
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các địa phương rất quan tâm chỉ
đạo thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của ngành. Tăng
cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các chủ cơ sở kinh doanh
dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch trên địa bàn tỉnh. Giúp họ am hiểu và chấp
hành đúng các quy định về từng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh; góp phần
hạn chế các vi phạm pháp luật. Từng bước đổi mới về nội dung, phương thức
tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phù hợp theo từng nhóm đối tượng (cán bộ,
công chức, viên chức, cơ sở kinh doanh dịch vụ và quần chúng nhân dân).
Bên cạnh đó, chất lượng nguồn lực nhân lực hoạt động trong ngành du
lịch là một trong những yếu tố tiên quyết, quyết định thành công của hoạt
động du lịch. Để hoạt động du lịch phát triển, việc tổ chức, đào tạo bồi dưỡng
và hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần có chiến lược,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status