Bài giảng:THÔNG KHÍ NHÂN TẠO KHÔNG XÂM NHẬP - Pdf 60

THÔNG KHÍ NHÂN TẠO KHÔNG XÂM NHẬP
Thông khí nhân tạo không xâm nhập là phương pháp thông khí cho bệnh nhân mà
không cần phải đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản. Trước kia người ta thường dùng
phổi thép hoặc các hệ thống tương tự để thông khí cho bệnh nhân với áp lực âm. Trong
những năm gần đây phương pháp thông khí nhân tạo không xâm áp lực dương ngày càng
được sử dụng rộng rãi cho các bệnh nhân suy hô hấp cấp và để cai thở máy cho các bệnh
nhân phải thở máy kéo dài đã đem lại những kết quả rất khả quan
CÁC KIỂU THÔNG KHÍ NHÂN TẠO KHÔNG XÂM NHẬP
Thông khí với áp lực đường hô hấp dương liên tục (CPAP) qua Mask
Kiểu thông khí này có tác dụng tốt trong điều trị thiếu oxy máu do phù phổi, viêm
phổi và xẹp phổi, rối loạn hô hấp khi ngủ ở các bệnh nhân có suy hô hấp do bệnh phổi tắc
nghẽn mãn tính (COPD)
Thông khí với áp lực đường hô hấp dương liên tục (CPAP) qua mũi
Kiểu thông khí này có tác dụng tốt trong điều trị cơn ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn
đường hô hấp và các bệnh nhân suy hô hấp mãn tính
Thông khí với 2 ngưỡng áp lực dương liên tục (BIPAP)
BIPAP là sự kết hợp 2 kiểu thở IPAP + EPAP (inspiratory positive airway pressure
plus expiratory positive pressure)
Xu thế hiện nay đang chuyển dần từ CPAP qua mask sang CPAP qua mũi và BIPAP.
MÁY THỞ DÙNG TRONG PHƯƠNG THỨC THỞ KHÔNG XÂM NHẬP
Đặc điểm chung của các máy thở không xâm nhập
- Các máy thở lý tưởng để thông khí qua Mask hoặc qua facepiece có những đặc điểm sau:
• Dễ vận chuyển và chạy êm
• Thông khí kiểu hỗ trợ và điều khiển
• Có bộ nhậy cảm trigger
• Có thể chạy được bằng pin khi mất điện
• Hoạt động được ở áp lực thấp, áp lực cao và báo động áp lực
• Làm ẩm thuận tiện
• Hoạt động đựơc nhờ máy nén khí hoặc ống dẫn khí
• Thở được cho cả các bệnh nhân có độ giãn nở của phổi và lồng ngực thấp hoặc
cao

máu động mạch sau 2 giờ thở máy. Tuy nhiên ở các bệnh nhân cần có áp lực thở vào lớn (>
25 cmH
2
O) để duy trì khí máu ổn định thì nên thở máy thể tích còn các bệnh nhân chỉ cần áp
lực thở vào thấp (< 25 cmH
2
O) thì nên thở máy kiểu áp lực như BIPAP.
Một điều thú vị là khi thở BIPAP có cùng áp lực trung bình như IPAP (áp lực dương
thì thở vào - inspiratory positive airway pressure) thì thay đổi khí máu ở kiểu thở BIPAP tốt
hơn. Tuy vậy không nên đặt EPAP (expiratory positive airway pressure) trong BIPAP cao
hơn 5 cmH
2
O vì sẽ làm tăng thể tích cặn chức năng quá mức. Điều này làm quá tải cơ hô
hấp hoặc làm giảm hiệu lực của IPAP trong BIPAP đặc biệt là ở bệnh nhân có tắc nghẽn
đường hô hấp nặng. Rối loạn huyết động cũng có thể xẩy ra khi thở EPAP do đó lựa chọn
mức EPAP và thời gian thở sao cho không ảnh hưởng đến huyết động là rất cần thiết. Cần
phải hết sức thận trọng khi thở EPAP cho các bệnh nhân có nguy cơ tràn khí .
Lựa chọn máy thở và phương thức thở
- Mỗi loại máy thở thường được thiết kế ưu tiên cho một số loại bệnh lý hô hấp nhất
định. Nếu đơn vị cấp cứu và điều trị tích cực nào đó có nhiều loại bệnh nhân nặng khác nhau
thì có thể cần nhiều loại máy thở hơn. Tuy nhiên khi dùng nhiều loại máy thở thì cũng có
những khó khăn nhất định là cần nhiều thời gian đào tạo để nhân viên y tế làm quyen với
máy và cũng cần nhiều thiết bị thay thế hơn
- Các máy thở có thể hoạt động theo 2 kiểu thở đó là:
• Kiểm soát hoàn toàn hoặc
• Kiểm soát - hỗ trợ
2
Kiểu kiểm soát thông khí hoàn toàn thường áp dụng cho các bệnh nhân ngừng thở và thở
theo máy hoàn toàn. Kiểu kiểm soát - hỗ trợ thường sử dụng cho các bệnh nhân tỉnh và có
những nhịp tự thở nhưng yếu. Kiểu thở kiểm soát hoàn toàn có ưu điểm là để cho các cơ hô

2
không đáp ứng với các phương pháp điều trị thông thường
• Chức năng hành não bình thường hoặc gần bình thường
• Có khả năng làm sạch các chất tiết phế quản (phản xạ ho tốt)
• Huyết động ổn định
• Chức năng đường tiêu hoá tốt (không nôn hoặc trào ngược)
• Có khả năng phối hợp với điều trị tốt
Đánh giá ban đầu
Kiểm tra lại xem chọn bệnh nhân đã phù hợp chưa?
• Bệnh nhân có tăng CO
2
không? Các bệnh nhân có CO
2
bình thường hoặc giảm
thường không có chỉ định thông khí nhân tạo không xâm nhập. Các chống chỉ định
3
khác là suy chức năng hành não, hôn mê, phản xạ ho kém không đủ để làm sạch các
chất tiết ở phế quản
• Đã thực hiện đủ các biện pháp điều trị thông thường chưa? Chẳng hạn như liệu pháp
oxy, thuốc giãn phế quản và corticoide. Liệu bệnh nhân có cần phải đặt nội khí quản
không? Chẳng hạn như bệnh nhân bị hen và tăng CO
2
quá nặng hoặc ứ đọng đờm dãi
nhiều mà không giải quyết được bằng lý liệu pháp
• Giải thích cho bệnh nhân và gia đình để cùng phối hợp điều trị
• Chuẩn bị máy thở, kiểm tra các dây nối
• Thở oxygen nếu trước đó bệnh nhân không được thở
• Chọn mask phù hợp với bệnh nhân
• Chuẩn bị đầy đủ phương tiện và sẵn sàng đặt ống nội khí quản thở máy thông
thường nếu thở máy không xâm nhập thất bại

- Đặt thời gian thở vào (TI) khoảng 1s và thời gian thở ra (TE) khoảng 2,5s
- Đặt độ nhạy thấp khoảng 0,5-1cmH
2
O để giảm công hô hấp
- Báo động áp lực cao ở mức 30-40cmH
2
O và áp lực thấp ở mức 8-12cmH
2
O
- Tăng áp lực từ từ khi bệnh nhân quen dần với máy
- Kiểm tra khí máu để điều chỉnh các thông số của máy cho phù hợp
Với các máy thở có chế độ BIPAP
- Đặt các ngưỡng áp lực và tần số thở
- Lúc đầu đặt IPAP từ 10-14 cmH
2
O và EPAP bằng 0
- Tần số thở từ 10-20 nhịp/phút
- Đặt kiểu thở: Mode thở S hoặc ST
4
- Kiểm tra khí máu: Nếu PCO
2
vẫn cao thì tăng dần áp lực thở vào đồng thời
đặt EPAP ở mức thấp từ 3-5cmH
2
O
Làm ẩm
Trong quá trình thở máy không xâm nhập không bắt buộc phải làm ẩm thường
xuyên. Tuy nhiên trong những trường hợp đờm quánh thì làm ẩm không khí và oxygen thở
vào có thể có tác dụng tốt cho bệnh nhân. Nếu có bộ phận làm ẩm và làm nóng khí thở vào
đi cùng với máy thì càng tốt.

Đánh giá khả năng dung nạp
Nếu bệnh nhân chỉ dung nạp máy thở trong một thời gian ngắn ban đầu rồi sau đó
kém dung nạp thì cần kiểm tra lại các thông số của máy xem có phù hợp với bệnh nhân
không? Kiểm tra mask và tình trạng chung của bệnh nhân để quyết định xem bệnh nhân có
cần phải tiếp tục thở máy nữa hay không hoặc phải chuyển sang các phương pháp khác.
Nếu thở máy không xâm nhập bị thất bại thì cần phải xem xét đến chỉ định đặt ống
nội khí quản và thở máy xâm nhập
TAI BIẾN VÀ XỬ TRÍ
Loét gốc mũi và cằm
Nếu thở lâu, kéo dài có thể có biến chứng loét ở gốc mũi và cằm do tỳ đè của mask.
Đề phòng tai biến này bằng cách chọn cỡ mask phù hợp với bênh nhân và đặt gạc bảo vệ.
Nếu không được thì phải chuyển sang thở qua plugs mũi
Viêm mũi, khô mũi và chảy mũi
Xịt ipratropium vào mũi để điều trị chảy mũi. Xịt steroide kéo dài để điều trị viêm
mũi dị ứng và các biểu hiện dai dẳng ở mũi. Các triệu chứng ở mũi có thể nặng hơn nếu có
hở ở miệng (mouth leaks) và sẽ đỡ đi nếu đỡ hở miệng
Hở giữa mask và miệng
Hở giữa mask và miệng có thể xảy ra khi bệnh nhân rãy rụa hoặc trong khi ngủ. Hở
xung quanh mask có thể dẫn đến viêm kết mạc và gây giảm thông khí nghiêm trọng ở những
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status