VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TIẾN TRUNG
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG
Ở VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TIẾN TRUNG
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG
Ở VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.NGUYỄN THỦY LAN
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG
TÀI SẢN CÔNG TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CÔNG LẬP ................................................................................................................ 6
1.1. Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp .................................................................. 6
1.2. Quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập .... 12
1.3. Nội dung quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp khoa học công
nghệ công lập ...................................................................................................... 18
1.4. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến quản lý tài sản công trong các đơn vị
sự nghiệp khoa học công nghệ công lập ............................................................. 23
1.5. Một số kinh nghiệm quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp của một số
nước và bài học kinh nghiệm.............................................................................. 25
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG Ở
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM .............................................. 35
2.1. Giới thiệu về Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam ................................ 35
2.2. Thực trạng công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông nghiệp
Việt Nam............................................................................................................. 39
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa
học Nông nghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua ......................................... 55
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam. ................................................................................................ 57
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ..... 62
3.1. Yêu cầu đặt ra đối với hoàn thiện công tác quản lý tài sản công ở Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam ...................................................................... 62
3.2. Thuận lợi và khó khăn đối với đổi mới công tác hoàn thiện công tác
quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam ......................... 64
sau đó Chính phủ đã ban hành nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 quy
định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công nhằm từng bước đưa
hoạt động quản lý, sử dụng tài sản công đi vào nề nếp, đảm bảo tính kỷ cương, công
khai chuẩn hóa theo chế độ và tiêu chuẩn cụ thể.
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam là đơn vị sự nghiệp khoa học công
nghệ công lập trong lĩnh vực nông nghiệp, thời gian qua công tác quản lý tài sản công
đã có nhiều cố gắng. Từ xây dựng và áp dụng các nguyên tắc, định mức phân bổ giao
dự toán kinh phí được thực hiện với mục tiêu đầu tư trọng tâm trọng điểm, không dàn
trải đến thực hiện mua sắm tài sản công minh bạch, tiết kiệm, sử dụng tài sản công cơ
bản đúng mục đích… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản
lý tài sản công của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn
chế cần khắc phục như: quá trình quản lý và sử dụng còn chưa chặt chẽ, chưa có hệ
thống cơ sở dữ liệu và phần mềm theo dõi tài sản công một cách hệ thống, tổ chức bộ
máy quản lý tài sản công mỏng, không đồng đều về trình độ…Chính vì vậy, đề tài
“Quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam” có tính cấp thiết
1
nhằm nghiên cứu nội dung, các biện pháp quản lý góp phần đề xuất một số giải pháp
nhằm tăng cường hoạt động quản lý tài sản công tại đơn vị.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về tài sản công nói chung, quản lý tài sản công trong các cơ quan
của nhà nước nói riêng đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài đề cập đến khá
nhiều. Có thể kể đến một số công trình có liên quan đến lĩnh vực này như:
“Managing Government Property Assets: International Experiences” (Quản
lý tài sản Chính phủ: những kinh nghiệm quốc tế) [29] của các tác giả Conway
Francisand, Charles Undelan, George Peteson, Olga Kaganova và James McKellar
đã chỉ ra (i) Những hạn chế trong cơ chế quản lý tài sản công ở khu vực hành chính
và cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam. Các
tác giả cũng chỉ ra những mặt còn tồn tại của cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực
hành chính sự nghiệp thời gian qua và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Một số tác giả như Trần Văn Giao “Góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản
công trong các đơn vị sự nghiệp” [13]; La Văn Thịnh “Sử dụng công cụ kế toán nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự
nghiệp công lập ở Việt Nam” [21] đã khái quát và chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa đơn
vị sự nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, kinh phí hoạt động
và hoạt động quản lý, sử dụng tài sản công. Với hệ thống số liệu phong phú, các tác giả
đã đánh giá tình hình quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt
Nam từ năm 1995 đến năm 2010, từ đó đề ra những giải pháp nhằm khai thác có hiệu
quả, tiết kiệm tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp.
Tác giả Nguyễn Văn Xa “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý tài sản công
giai đoạn 2001-2010” [28] trên cơ sở nghiên cứu cơ chế quản lý tài sản công từ
năm 1995-2000, tác giả đã đề xuất các giải pháp tổng thể để đổi mới cơ chế quản lý
tài sản công giai đoạn 2001-2010. Có thể nói ở nước ngoài đã có nhiều công trình
nghiên cứu về quản lý tài sản công đã xuất hiện từ sớm và khá bài bản, đảm bảo cơ
sở lý thuyết cho quá trình tổ chức quản lý tài sản công. Ở trong nước, với những
mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả tiếp cận vấn đề quản lý tài sản công
hoặc ở tầm vĩ mô chung cho cả đất nước, hoặc khái quát chung cho khu vực hành
chính sự nghiệp nên chưa phân tích cụ thể mối quan hệ giữa quản lý tài sản công
3
với các nội dung khác của các đơn vị sự nghiệp công lập. Chính vì thế quản lý tài
sản công tại các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập vẫn cần tiếp tục
được nghiên cứu để làm sáng tỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu
đã có để làm rõ cơ sở lý luận của nội dung và quy trình thực hiện quản lý tài sản
công nói chung, quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ
công lập nói riêng.
- Phương pháp thống kê tỷ lệ và so sánh đối chứng: Luận văn sử dụng số liệu
thứ cấp của Viện Khoa học Nông nghiệp từ năm 2014-2018, kết hợp với phân tích
tỷ lệ và so sánh đối chứng nhằm đánh giá thực trạng, rút ra những mặt đã làm được,
những mặt còn hạn chế, làm rõ các nguyên nhân chủ quan, khách quan.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở khung lý thuyết và phân tích
thực trạng, luận văn làm rõ bối cảnh tác động đến quản lý tài sản công tại Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam để đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về lý luận
Luận văn góp phần bổ sung căn cứ về lý luận quản lý tài sản công nói chung.
6.2. Về thực tiễn
Thông qua nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý tài sản công tại Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này tại đơn vị.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận
văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý sử dụng tài sản công tại đơn
vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản công ở
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
sản nhân tạo khác được pháp luật quy định là tài sản của Nhà nước. Điều 197 Bộ
6
luật Dân sự (năm 2015) và Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (năm 2013) đã quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,
nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà
nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Cũng liên quan đến tài sản Nhà nước, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
(năm 2013) định nghĩa: Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ NSNN hoặc do pháp
luật quy định thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm: trụ sở làm việc, quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm
việc; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và
ngoài nước cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định [18].
Từ các nghiên cứu trên, tài sản công được hiểu là: Tài sản công là tài sản
thuộc sở hữu Nhà nước, bao gồm tài sản hình thành từ nguồn vốn NSNN hoặc có
nguồn gốc từ NSNN; Tài sản được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài
trợ, đóng góp, tặng cho Nhà nước; Các tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà
nước thông qua quốc hữu hóa hoặc quy định bằng pháp luật như: đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên
thiên nhiên khác; Tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; Tài sản kết cấu hạ
tầng thuộc các ngành, lĩnh vực kết cấu hạ tầng thuộc sở hữu Nhà nước, được Nhà
nước giao cho tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng.
Các tài sản công chịu sự kiểm tra giám sát của Nhà nước trong quá trình
quản lý sử dụng theo đúng các quy định hiện hành.
1.1.2. Đơn vị sự nghiệp công lập và tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập
Sự nghiệp: Là chỉ những hoạt động có lợi ích chung và lâu dài cho xã hội. Vì
vậy, khi nói đến hoạt động sự nghiệp là nói đến quá trình tổ chức thực hiện những hoạt
nhìn thấy được. Tài sản vô hình là các tài sản tồn tại dưới dạng không nhìn thấy,
nhưng cũng có thể đem lại lợi ích cho người sở hữu nó (chẳng hạn như bằng phát
minh sáng chế, bản quyền tác giả...).
- Căn cứ theo cấp quản lý, tài sản công trong đơn vị sự nghiệp gồm: Tài sản
công do Chính phủ quản lý (gồm tài sản công do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và cơ quan khác ở Trung ương quản lý); Tài sản công do các đơn vị sự
nghiệp thuộc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý; Tài sản công do các
đơn vị sự nghiệp thuộc cấp quận, huyện, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) quản lý; Tài
8
sản công do các đơn vị sự nghiệp thuộc cấp xã, phường, thị trấn quản lý.
- Căn cứ cách thức hình thành: có thể chia thành tài sản công được nhà nước
trực tiếp đầu tư tạo nên và tài sản công được gián tiếp sở hữu. Tài sản công được
nhà nước đầu tư tạo nên chủ yếu là các tài sản được hình thành từ NSNN và các
nguồn lực tài chính có nguồn gốc NSNN. Tài sản công được gián tiếp sở hữu trong
các đơn vị sự nghiệp là các tài sản có được không qua các kênh đầu tư của nhà nước
(chẳng hạn các tài sản được tài trợ, biếu tặng, thu phạt).
- Căn cứ vào công dụng của tài sản khi khai thác, sử dụng, có thể chia tài
sản trong đơn vị sự nghiệp thành các loại sau:
+ Nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn
liền với đất đai.
+ Phương tiện vận tải: xe ô tô phục vụ công tác (bao gồm xe ô tô phục vụ chức
danh, xe ô tô dùng chung và xe ô tô chuyên dùng) và các phương tiện vận tải khác.
+ Máy móc, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác.
1.1.4. Đặc điểm tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập
- Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành từ ngân
sách nhà nước hoặc có nguồn gốc ngân sách nhà nước:
Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm tài sản được xác lập
sở hữu Nhà nước và bàn giao cho đơn vị sự nghiệp quản lý, sử dụng (đất đai, tài sản
được bàn giao từ chế độ cũ), tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ NSNN cấp.
Ngoài ra, do đặc điểm hoạt động và cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp
công lập thì nguồn hình thành tài sản công có được còn do: tài trợ, viện trợ của các
tổ chức, cá nhân; nguồn thu tại các đơn vị sự nghiệp; nguồn vốn vay của các quỹ hỗ
trợ phát triển hay các ngân hàng; các nguồn quỹ của đơn vị sự nghiệp được trích lập
theo quy định của pháp luật (quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp)... Những tài sản
này tuy Nhà nước không đầu tư trực tiếp nhưng trước khi giao các đơn vị sự nghiệp
công lập sử dụng thì đều phải làm thủ tục xác lập quyền sở hữu nhà nước, giá trị các
tài sản đó đều được ghi thu hoặc ghi thu, ghi chi cho NSNN.
- Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập được quản lý và sử dụng theo
đúng quy định của pháp luật: Tài sản công nói chung và tài sản công trong đơn vị
sự nghiệp công lập hầu hết được đầu tư từ NSNN hoặc có nguồn gốc NSNN, có
nguồn gốc hình thành từ tiền thuế mà người trả thuế đã nộp, do đó nó phải được
quản lý và sử dụng theo pháp luật.
- Quyền sử dụng tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập có sự tách rời
khỏi quyền sở hữu: Quyền sở hữu của một tài sản bao gồm quyền chiếm hữu (là
10
quyền nắm giữ, quản lý tài sản), quyền sử dụng (là quyền khai thác công dụng,
hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản) và quyền định đoạt (là quyền chuyển giao quyền sở
hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó) của chủ sở hữu theo quy định của pháp
luật. Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước, là một loại
hình thức sở hữu đặc biệt (ở nước ta hiện nay sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu
trong quản lý và sử dụng: Dưới góc độ quản lý nhà nước, tài sản công trong đơn vị
sự nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, nhưng tài sản đó thường được giao cho cá nhân
quản lý hoặc sử dụng. Điều này dễ dẫn tới tình trạng “bi kịch của đất công” của
quyền tài sản công (theo nghiên cứu của Garrett Hardin chỉ hiện tượng các tài sản
dùng chung được phép sử dụng tự do dẫn tới việc khai thác bừa bài, kiệt quệ, lãng
phí các tài sản công [30]).
- Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp là nền tảng vật chất quan trọng cho
việc đảm bảo các lợi ích công, đồng thời là nguồn lực thiết yếu để đảm bảo sự tồn
tại, phát triển của các nhà nước:
Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp giúp nhà nước cung cấp các dịch vụ
công đáp ứng nhu cầu, lợi ích của quần chúng nhân dân, góp phần tạo ra một xã hội
công bằng, ổn định. Sử dụng tài sản công vào giáo dục, văn hóa, khoa học kĩ thuật
giúp con người phát triển, duy trì những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội, làm
cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Tài sản công còn được Nhà nước sử dụng để cung
cấp các sản phẩm, dịch vụ có tác dụng điều tiết khoảng cách phân hóa giàu và
nghèo trong xã hội, góp phần đảm bảo sự công bằng của xã hội, ...
1.2. Quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập
1.2.1. Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập
Đơn vị khoa học công nghệ công lập: Là tổ chức có chức năng chủ yếu là
nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công
nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập:
- Là một đơn vị khoa học công nghệ thống nhất, đồng bộ và được phân bố
hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển khoa học công nghệ và phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
- Gắn kết công tác tổ chức khoa học công nghệ với cơ sở đào tạo và tổ chức
ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
đầu tư, mua sắm tài sản công; điều tiết, bố trí sử dụng tài sản công theo các quy
định về tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước ban hành; kiểm tra, giám sát việc sử
dụng tài sản công. Đối tượng của quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp khoa
học công nghệ công lập là những tài sản được Nhà nước giao cho các đơn vị này sử
13
dụng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao.
Như vậy có thể đưa ra khái niệm: Quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp
khoa học công nghệ công lập là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền của bộ
máy quản lý đối với các tài sản công được đầu tư từ NSNN hoặc có nguồn gốc từ
NSNN nhằm đảm bảo các tài sản công này được sử dụng một cách hiệu quả, tiết
kiệm, thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao cho các đơn vị.
Từ khái niệm trên cho ta thấy nội hàm của quản lý tài sản công tại các đơn vị
sự nghiệp khoa học công nghệ công lập gồm những vấn đề sau:
Thứ nhất, về đối tượng quản lý là các tài sản công được Nhà nước giao cho
các đơn vị sự nghiệp quản lý, sử dụng; Thứ hai, chủ thể quản lý là hệ thống các cơ
quan quản lý tài sản công được hình thành tại các đơn vị sự nghiệp được Nhà nước
giao quản lý, sử dụng tài sản công; Thứ ba, công cụ quản lý là hệ thống cơ chế,
chính sách liên quan đến tài sản công được Nhà nước ban hành.
1.2.3. Mục tiêu quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ
công lập
Mỗi một hoạt động quản lý của Nhà nước có thể được thực hiện bằng những
phương thức khác nhau nhưng đều có những mục tiêu được xác định trước, hướng
tới sự phát triển, ổn định và hiệu quả. Tài sản quốc gia cũng vì vậy tồn tại các cách
quản lý sử dụng khác nhau vì mục đích hiệu quả đối với quản lý nhà nước cũng như
chủ thể của tài sản. Với tài sản công, Nhà nước là người đại diện cho mọi thành
viên của cộng đồng, do đó Nhà nước có chủ quyền đối với tài sản quốc gia, đồng
thời là người đại diện chủ sở hữu tài sản công. Để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài
hữu tài sản; trong đó đặc biệt là quyền định đoạt đối với tài sản công bao gồm:
quyền đầu tư xây dựng, mua sắm, điều chuyển, thanh xử lý tài sản (bao gồm cả bán
tài sản)... Quản lý tài sản công phải hướng tới mục tiêu phục vụ thực hiện các nhiệm
vụ của đơn vị sự nghiệp. Nếu nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp tăng lên hoặc có thay
đổi trong yêu cầu về chất lượng dịch vụ thì tài sản công phải thay đổi để đáp ứng.
1.2.4. Các yêu cầu quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp khoa học công
nghệ công lập
Với đặc điểm chung là phong phú về chủng loại, có tính năng, công dụng
khác nhau nên việc quản lý tài sản công phải được tổ chức thực hiện theo những
yêu cầu sau:
15
Thứ nhất, thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý; đồng thời phải
có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù
riêng, đối với ngành, địa phương, tổ chức sử dụng tài sản phục vụ cho các hoạt động
có tính đặc thù riêng:
Thống nhất quản lý trên cơ sở để đảm bảo cơ chế, chính sách, chế độ quản lý
tài sản công phù hợp với đặc điểm tài sản công. Nội dung của thống nhất quản lý là
Chính phủ thống nhất quản lý tài sản công; Quốc hội, Chính phủ quy định cơ chế,
chính sách, chế độ quản lý tài sản áp dụng chung cho mọi tài sản và quy định cơ chế,
chính sách, chế độ quản lý cụ thể đối với những tài sản có giá trị lớn mà hầu hết cơ
quan nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang, các đơn vị công, các tổ chức khác được
Nhà nước giao trực tiếp sử dụng (có thể gọi là những tài sản chủ yếu và được sử dụng
phổ biến). Trên cơ sở cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản công do Quốc hội,
Chính phủ quy định; các Bộ, ngành, địa phương quy định cơ chế, chính sách, chế độ
quản lý đối với những tài sản có tính đặc thù riêng (có thể gọi là những tài sản có tính
đặc thù) và những tài sản phục vụ cho các hoạt động đặc thù của mình.
Thứ hai, thực hiện quản lý và sử dụng tài sản công đúng mục đích đầu tư,
tài sản; về xây dựng và ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản; về nguyên
tắc quản lý tài sản công.
Thứ tư, quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước. Xuất
phát từ việc tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà
nước và mọi chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm
bảo (trừ một số trường hợp cá biệt); do đó, việc quản lý tài sản công phải gắn với
quản lý ngân sách nhà nước. Hay nói một cách khác, quản lý tài sản công là quản lý
ngân sách nhà nước đã được chuyển hoá thành hiện vật - tài sản. Quản lý tài sản
công phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước, có nghĩa là mọi cơ chế, chính sách,
chế độ quản lý tài sản công, định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản công phải phù hợp
với quy định về quản lý ngân sách nhà nước, việc trang bị tài sản công cho các cơ
quan hành chính nhà nước, các tổ chức khác phải phù hợp với khả năng của ngân
sách nhà nước và được lập dự toán, chấp hành dự toán theo quy định của pháp luật
về ngân sách nhà nước.
Thứ năm, tài sản công phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật, giá trị theo
quy định của pháp luật và được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định.
17
Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên
kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị
trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.3. Nội dung quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ
công lập
Có nhiều cách tiếp cận trong quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp
khoa học công nghệ công lập. Luận văn tiếp cận quản lý theo quá trình hình thành;
khai thác, sử dụng và kết thúc tài sản.
1.3.1. Quản lý quá trình hình thành tài sản công
Quản lý quá trình hình thành tài sản công tại đơn vị sự nghiệp khoa học công