(Luận văn thạc sĩ) Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THANH HUYỀN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ YẾN

HÀ NỘI - 2 01 9


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Trương Thanh Huyền


MỤC LỤC

x a đ i, giảm ngh o ở mức độ rộng kh , là yếu tố chủ chốt và bền vững tạo
ra việc làm và thu nhậ cho lao động ngoài khu vực nhà nước. Khu vực này
c n được cho là động lực th c đ y cạnh tranh và môi trư ng kinh doanh bởi
đây là khu vực nhạy b n, năng động và s n sàng đ i mới so với các doanh
nghiệ lớn h n và đ

hát triển n định. Các doanh nghiệ này c thể chuyển

đ i c cấu của một nền kinh tế thông ua đ i mới, cung cấ các đ u vào trung
gian và dịch vụ, cho h

chuyên môn h a mạnh h n trong sản xuất. Trong

chu i giá trị toàn c u, doanh nghiệ nhỏ và vừa c thể tận dụng thị trư ng
ngách mà doanh nghiệ lớn bỏ ua, họ c ng c thể b t tay với các doanh
nghiệ nhỏ khác trong chu i để tái chuyên môn h a, triển khai sản xuất năng
suất h n và tiêu thụ hiệu uả h n.
Ở Việt Nam, trong những năm ua, nh

chủ trư ng đ ng đ n của

Đảng, chính sách thông thoáng của Nhà nước, nên số lượng các doanh nghiệ
nhỏ và vừa ở Việt Nam đ hình thành và phát triển rất nhanh. Theo báo cáo
của Hiệp hội doanh nghiệ nhỏ và vừa, hiện cả nước có khoảng 2 nghìn
doanh nghiệ nhỏ và vừa, chiếm 97% số doanh nghiệ đang hoạt động thực
tế, với t ng số vốn đăng ký khoảng 130 tỷ USD, chiếm 1/3 t ng số vốn đăng
ký của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệ này đ và đang c đ ng g

to


đất nước, tạo việc làm cho một số lượng đông đảo ngư i lao đông. Tuy nhiên,
doanh nghiệp nhỏ và vừa c ng gặp nhiều kh khăn như: thiếu vốn, thiếu mặt
bằng sản xuất; trình độ công nghệ thấp; tiếp cận thông tin còn yếu. Những
kh khăn này xuất phát từ địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Nam vẫn còn thấp, khả năng cạnh tranh với những doanh nghiệp lớn, doanh
nghiệ nước ngoài còn hạn chế.
Chính vì vậy, việc nâng cao địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Việt Nam hiện nay là vô cùng c n thiết nhằm tạo ra hành lang pháp lý
thiết thực để có những chính sách h trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển,
cạnh tranh công bằng với những doanh nghiệp lớn, t ng công ty. Xuất phát từ
lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm g n đây, DNNVV đang là mục tiêu trọng tâm của
các chính sách phát triển kinh tế ở những quốc gia đang hát triển, trong đ
có Việt Nam. M i quốc gia đều có một tiêu chí xác định DNNVV riêng
nhưng chủ yếu là dựa vào tiêu chí lao động, doanh thu và vốn đ u tư. Th i
gian g n đây, Chính hủ nhiều nước đ thông ua các chính sách và chư ng
trình h trợ trên các hư ng diện khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi và
2


th c đ y sự phát triển DNNVV. Trong đ , tậ trung vào các chính sách như:
tín dụng ưu đ i, bảo lãnh tín dụng, h trợ DNNVV huy động vốn trên thị
trư ng tài chính, miễn giảm thuế th c đ y đ u tư, h trợ đ i mới khoa học
công nghệ…. - “Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh
nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” của tác giả hư ng Ly. Qua bài viết
này, tác giả nêu kinh nghiệm của một số quốc gia Châu Á như Trung Quốc,
Nhật Bản, Singapore trong việc xây dựng chính sách h trợ cho doanh nghiệp
vừa và nhỏ;



- Bộ Kế hoạch và Đ u tư (Cục Phát triển doanh nghiệp) (2014). Sách
trắng về doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2014 đ chỉ rõ các nội dung, hoạt
động c n thiết đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Tác giả Võ Đức Toàn với luận án tiến sĩ kinh tế: “Tín dụng đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa
bàn TP Hồ Chí Minh”.
- Đề tài cấp bộ: “Môi trường pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” (H.
2000) do PGS.TS Phan Thị M làm chủ nhiệm. Thông qua việc nghiên cứu
những vấn đề lý luận liên uan đến môi trư ng pháp lý cho hoạt động của
doanh nghiệp vừa và nhỏ; đánh giá thực trạng môi trư ng pháp lý cho hoạt
động của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, đề tài đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện môi trư ng pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp vừa và
nhỏ đá ứng yêu c u hội nhập khu vực và thế giới.
- Tác giả Phạm Văn H ng với luận án tiến sĩ: “Phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” (H. 2 7). Luận án
giới hạn nghiên cứu sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình hội
nhập quốc tế và từ năm 1987 đến khi có Luật doanh nghiệ ra đ i. Do vậy,
kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp thêm thông tin tham khảo cho đề
tài trong quá trình triển khai thực hiện.
Có thể nói, với các mức độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trình
nghiên cứu trên đ đề cậ đến một số vấn đề lớn như nhu c u h trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa, kiến nghị xây dựng chính sách h trợ doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật đối với doanh nghiệp
nhỏ và vừa còn rất thưa v ng, nếu c , c ng chưa đ y đủ, toàn diện. Đặc biệt,
những áp lực đặt ra đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khi Việt Nam ra nhập
các t chức, hiệ định thư ng mại thế giới như T chưa được nghiên cứu
nhiều hoặc mới bước đ u triển khai nghiên cứu. Vì vậy, việc nghiên cứu và

Mác – Lênin và tư tưởng H Chí Minh, các uan điểm của Đảng và Nhà nước
về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện trong các Nghị
quyết của Đảng, của Chính phủ, các luật và các văn bản dưới luật liên quan
đến doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- hư ng há nghiên cứu:
hư ng há kết hợp lý luận với thực tiễn: hư ng há này được sử
dụng ph n lớn ở chư ng I và Chư ng II của Đề tài. Trên c sở phân tích
những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của

NNVVđề tài nghiên cứu thực

tiễn các uy định về địa vị pháp lý của DNNVV ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.

5


- hư ng há

hân tích, t ng hợ , so sánh: Các hư ng há này

được thực hiện ở các nội dung nghiên cứu của đề tài.
- hư ng há lịch sử: hư ng há này được đề tài áp dụng phân tích
những vấn đề lý luận về DNNVV; về sự uy định về địa vị pháp lý của
DNNVV ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Về mặt lý luận
Luận văn đ nghiên cứu một cách khái quát một số vấn đề lý luận về
địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay như: khái
niệm, đặc điểm về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa; phân tích

7


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Trên hư ng diện lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp vì
suy cho cùng tiếp cận doanh nghiệp ở g c độ nào thì sẽ có khái niệm doanh
nghiệp ở g c độ đ . Theo M.Francois Peroux, “doanh nghiệp là một đơn vị tổ
chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm
giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm
bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được
khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”.
Còn theo quan điểm phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người
sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có
những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có
lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không
vượt qua được.”
Thực chất thì doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại
hình doanh nghiệp, trong đ công ty là một loại hình doanh nghiệp và nó rất
ph biến. Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công ty
xuất hiện muộn h n, vào khoảng giữa thế kỷ 19. Trước đ , các hoạt động
kinh doanh thực hiện dưới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân.
C ng kể từ thế kỷ 19 và đặc biệt trong nửa đ u thế kỷ 20, công ty là loại hình
kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất. Nhiều nước trên thế giới hiện nay, thay
vì thiết lập luật doanh nghiệp, đ thiên về quy định t chức và hoạt động của
các loại hình công ty.


NNVV được hiểu khác

nhau, việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào loại tiêu chí sử dụng và giới hạn
của từng tiêu chí. Trên thế giới, việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính
tư ng đối, bởi nó chịu sự tác động của trình độ phát triển kinh tế, tính chất
ngành nghề, điều kiện phát triển ở m i quốc gia hay mục đích hân loại
doanh nghiệp trong từng th i kỳ.

9


Mặc dù nhiều ngư i đ ng ý rằng thị trư ng DNNVV có quy mô và t m
quan trọng đáng kể, tuy nhiên vẫn còn t n tại nhiều định nghĩa và cách hân
loại khác nhau về thị trư ng này.
Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ
vào quy mô có thể chia DNNVV thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ
(micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Các tiêu chí để phân loại
DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài
sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệ . Ngoài ra World Bank c n đưa
thêm tiêu chí về uy mô vay trung bình để phân loại DNNVV (Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank
Quy mô công ty Nhân viên

Tài sản

Doanh

thu


< $10,000

Nhỏ

< $100,000

Vừa

< $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến)
Nguồn: Tổng hợp từ World Bank
Ngoài ra, tại m i quốc gia có nền kinh khác nhau, theo từng giai đoạn

phát triển kinh tế thì quan niệm về

NNVV c ng khác nhau. Chẳng hạn tại

các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những doanh nghiệp
có số lượng nhân viên dưới 2

ngư i và doanh thu hàng năm là nhỏ h n

triệu euro. Còn tại Châu Mỹ, cụ thể là nước Mỹ thì DNNVV là những doanh
nghiệp có số lượng ngư i lao động dưới

ngư i (cho ph n lớn hoạt động

sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với
đa số các ngành không liên quan tới sản xuất (dao động tới mức tối đa là 3 .
triệu đô la). Tại Châu Á, các DNNVV tại HongKong được phân loại theo



(đối với đa

số các ngành không liên
quan tới sản xuất, mức tối
đa là 3 , triệu đô la)

Canada

< 250

< 50 triệu CAD

Mexico

< 500 trong hoạt động sản xuất
< 50 trong hoạt động dịch vụ

Châu Phi
Nam Phi

< 200

< 50 triệu ZAR

Châu Á
Thái Lan

< 200 (ngành sử dụng nhiều lao < 200 triệu Bạt
động)

Từ các tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank và ở một số quốc
gia trên thế giới, chúng ta thấy rằng DNNVV là những doanh nghiệp có quy
mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh
tế của m i quốc gia thì việc áp dụng các tiêu chí để xác định DNNVV có khác
nhau. Tuy nhiên, ph n lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đ dựa chủ
yếu vào các tiêu chí sau: Số lượng lao động thư ng xuyên; Số lượng vốn góp;
oanh thu hàng năm; Đặc điểm ngành nghề kinh doanh. Đây là các tiêu chí
c bản để xác định DNNVV tại m i quốc gia và c ng là những tiêu chí có
tính định hướng để đề tài làm rõ các tiêu chí cụ thể khi xác định DNNVV ở
Việt Nam.
Luật h trợ DNNVV mới được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ IV,
Quốc hội khoá XIV. Theo đ , doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệ đá
ứng tiêu chí t ng ngu n vốn hoặc số lao động bình uân năm, được chia thành
3 cấp siêu nhỏ, nhỏ và vừa như sau:

12


Bảng 1.3: Tiêu chí phân loại DNNVV
Quy mô

Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Ngành
Số
lao
kinh tế
động bình
quân năm

dưới 50 tỷ
đ ng

ngư i Từ 20 tỷ
2. Xây dựng 1
đ ng trở

công trở xuống
xuống
nghiệp
ngư i Từ 10 tỷ
3. Thương mại 1
trở xuống
đ ng trở
và dịch vụ
xuống

Số
lao
động bình
quân năm
Từ trên 10
ngư i đến
dưới 200
ngư i
Từ trên 10
ngư i đến
dưới 200
ngư i
Từ trên 10

- Về vốn đăng ký: hụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp.
- Về số lượng lao động trung bình hàng năm: hụ thuộc vào quy mô và
loại hình doanh nghiệp.
1.1.1.3. Khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Từ điển Tiếng Việt địa vị là “vị trí, ch xứng đáng với vai trò tác
dụng c được”, há lý là “căn cứ, c sở của pháp luật”. Địa vị của một cá
nhân là vị trí của cá nhân đ trong những vai trò xã hội của mình, thể hiện
năng lực trình độ, vai trò của cá nhân đ trong mối tư ng uan với các cá
nhân khác trong xã hội. Địa vị này có thể do cá nhân đ tạo lập nên hoặc do

13


thừa hưởng từ cá nhân khác. Điều này hoàn toàn khác so với địa vị pháp lý
của một chủ thể trong quan hệ pháp luật. Địa vị pháp lý của một cá nhân
không thể do cá nhân đ tự xác lập mà phải dựa trên những uy định của pháp
luật. Khi ở trong các tình trạng pháp lý khác nhau các chủ thể trong quan hệ
pháp luật c địa vị pháp lý khác nhau. Trong khoa học há lý, “địa vị pháp
lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối liên hệ với những chủ thể khác trên
c sở uy định của pháp luật” thể hiện thành một t ng thể các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của chủ thể; ua đ xác lậ c ng như giới hạn khả năng của chủ
thể đối với các hoạt động của mình trong phạm vi các quyền và nghĩa vụ đ .
Địa vị pháp lý của một chủ thể giúp phân biệt được chủ thể pháp luật này với
chủ thể pháp luật khác, đ ng th i c ng c thể xem xét vị trí và t m quan trọng
của chủ thể đ trong các mối quan hệ pháp luật. Chính vì vậy n m vững địa vị
pháp lý của một chủ thể trong quan hệ pháp luật là một điều rất c n thiết
không chỉ đối với chính chủ thể đ mà c n c ý nghĩa với các chủ thể khác.
C như vậy các chủ thể trong quan hệ pháp luật mới không xâm phạm đến
quyền lợi và thực hiện ch ng lấn nghĩa vụ của nhau.
Điều 7, Luật H trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2 17 đưa ra tiêu chí xác

NNVV đ ng vai tr rất quan trọng trong nền kinh tế

quốc dân. NNVV là n i tạo ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhậ cho ngư i
lao động, gi

huy động các ngu n lực xã hội cho đ u tư hát triển, x a đ i

giảm ngh o…Hàng năm các
sử dụng tới 1

NNVV đ tạo ra trên một triệu lao động mới;

lao động xã hội và đ ng g

h n4

cho đất nước.

Không chỉ riêng VN, nhiều quốc gia trên thế giới kể cả các quốc gia phát
triển, vai trò của DNNVV vẫn được đánh giá rất cao. Số lượng các DNNVV
chiếm đa số tuyệt đối trong t ng c cấu các doanh nghiệ , thông thư ng tỷ lệ
này từ 90%- 98%.
Chính vì vậy, việc xây dựng các

uy định về địa vị pháp lý của

DNNVV phải xuất phát từ vị trí và vai trò của DNNVV trong nền kinh tế để
có những uy định trong luật c ng như các biện pháp t chức thực hiện nhằm
có những chính sách h trợ DNNVV thiết thực để các DNNVV phát triển,
đ ng g

chung vào sự phát triển

kinh tế của đất nước.
- Địa vị pháp lý của DNNVV có mối quan hệ chặt chẽ với hội nhập kinh
tế quốc tế.
Với chủ trư ng “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, trong những
năm ua tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đ tiến lên một t m cao
mới trên tất cả các lĩnh vực. Tiến trình hội nhập quốc tế đ c những tác động
to lớn, nhiều mặt đến thế và lực của Việt Nam trong phát triển kinh tế, tạo
thêm việc làm và nâng cao thu nhậ cho ngư i dân; tạo sức

và điều kiện để

hoàn thiện thể chế kinh tế; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh
nghiệp và sản ph m. Bình quân đ u ngư i tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái
của Việt Nam năm 1988 chỉ đạt 86 USD - mức thấp nhất thế giới, nhưng đ
tăng g n như liên tục ua các năm sau đ và đến năm 2 1 đ đạt 2.200 USD,
năm 2 17 đạt 2.38 US

và năm 2 18 đạt 2.580 USD. Nếu như tăng trưởng

GDP bình quân th i kỳ 1986 - 1990 chỉ đạt 4,4 /năm thì bình uân th i kỳ
1991 - 2 11 đạt 7,34 /năm. Đặc biệt, sau khi gia nhập T chức Thư ng mại
thế giới (WTO), Việt Nam đ duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2
tốc độ tăng trưởng

7,

đạt 8,46% (mức cao nhất trong v ng 11 năm trước


Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, các DNNVV có vai trò ở những khía cạnh
sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo công ăn việc làm cho người lao
động, góp phần giảm thất nghiệp.
o các NNVV tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực
của nền kinh tế với đa dạng các sản h m nên c thể đảm bảo c hội việc làm
cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều cùng miền khác nhau. Mặt khác, do đặc
điểm sản xuất kinh doanh không yêu c u trình độ cao nên c thể sử dụng
được cả lao động ở các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa kinh tế chưa hát triển.
Đặc biệt khi nền kinh tế r i vào tình trạng suy thoái, trong khi các doanh
nghiệ

lớn thư ng

hải sa thải nhân công để c t giảm chi

hí thì các

NNVV, với tính chất linh hoạt và năng động của mình, c thể thích ứng
nhanh với sự biến động của thị trư ng, c thể đứng vững mà không hải c t
giảm nhân công, hoặc c thể nhanh ch ng thu h t lại lực lượng lao động khi
nền kinh tế đi vào chu kỳ hục h i.
Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong việc ổn
định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

17


Ở h u hết các nền kinh tế, các


không tận dụng hết ngu n tài nguyên uốc gia, làm giảm hiệu uả hoạt động
của nền kinh tế. Trong khi đ , với uy mô vốn đ u tư nhỏ, bộ máy t chức
gọn nhẹ, dễ khởi sự, các NNVV c thể tham gia vào nhiều thị trư ng nhằm
khai thác tiềm năng và thế mạnh về đất đai, tài nguyên và lao động của từng
vùng, đặc biệt là các ngành nông – lâm – hải sản và ngành công nghiệ chế
biến.

NNVV c ng chính là chủ thể tác động tích cực nhất vào việc duy trì

và hát triển các ngành nghề truyền thống như mây tre đan, gốm sứ, dệt…Vì
vậy, c thể n i NNVV đ ng vai tr hết sức uan trọng trong công cuộc công
nghiệ h a – hiện đại h a nông thôn g

h n thu hẹ khoảng cách hát triển

giữa thành thị và nông thôn, đ ng th i th c đ y các ngành thư ng mại dịch
vụ, tiểu thư ng hát triển g

h n chuyển dịch c cấu kinh tế.

Thứ tư, doanh nghiệp nhỏ và vừa thúc đẩy nền kinh tế năng động.

18


Một nền kinh tế đặt tỉ lệ uá lớn ngu n lực tài nguyên và lao động vào
các doanh nghiệ lớn thì nền kinh tế sẽ chậm chạ do uy mô lớn dẫn tới bộ
máy uản lý c ng kềnh với các uyết định kinh doanh chậm chạ . Ngược lại,
với một tỉ lệ thích hợ các doanh nghiệ c



19


Tiếp tục tư tưởng của Đại hội VI, Đại hội VII (6-1991) đưa ra uan
điểm rõ ràng h n về việc khuyến khích và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân
phát triển. Văn kiện Đại hội VII khẳng định: “Kinh tế tư nhân được phát triển,
đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà
nước”( ) và “Mọi ngư i được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ
quyền sở hữu và thu nhập hợ

há ”( ). Đại hội VII c ng khẳng định: “Kinh

tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về uy mô và địa bàn hoạt
động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm”(7).
Bước hát triển mới trong uan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của
kinh tế tư nhân thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX (1-2 1), khi Đảng ta
khẳng định kinh tế tư bản tư nhân là thành h n kinh tế có vị trí quan trọng
lâu dàitrong nền kinh tế thị trư ng định hướng XHCN: “Kinh tế tư bản tư
nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những
ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm”(11). Từ ch cho
rằng “Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế
dân sinh do luật há

uy định”(12); đến Đại hội IX, uan điểm của Đảng ta

đ c bước nhìn nhận mới: “Tạo môi trư ng kinh doanh thuận lợi về chính
sách, há lý để kinh tế tư bản tư nhân hát triển trên những hướng ưu tiên
của Nhà nước, kể cả đ u tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp c
ph n, bán c ph n cho ngư i lao động; liên doanh liên kết với nhau với kinh

mạnh việc: “Hoàn thiện c chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi hát
triển mạnh kinh tế tư nhân ở h u hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành
một động lực uan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách h trợ hát
triển doanh nghiệ nhỏ và vừa, doanh nghiệ khởi nghiệ . Khuyến khích hình
thành các tậ đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân g

vốn vào các tậ

đoàn kinh tế nhà nước”(14). Hội nghị Ban Chấ hành Trung ư ng 4 kh a XII
tiế tục xác định rõ việc hát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả
về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực uan trọng trong hát triển
kinh tế.
Có thể thấy, qua các kỳ đại hội, từ khi tiến hành công cuộc đ i mới đến
nay, uan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế tư nhân, hát triển kinh tế
tư nhân đ c những bước chuyển quan trọng. Đặc biệt, Đại hội XII của Đảng
đ c những phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân, hát
triển kinh tế tư nhân, th c đ y các hoạt động để h trợ trực tiếp cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa phát triển. Trong th i gian tới, với các chính sách h trợ,

21


tạo điều kiện cụ thể, kinh tế tư nhân trong đ c các NNVV sẽ tiếp tục phát
triển, góp ph n vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.
1.2.3. Bối cảnh hội nhập quốc tế tác động đến địa vị pháp lý của doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thế giới ngày
nay khi làn sóng toàn c u h a đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Hội nhập kinh
tế quốc tế là quá trình chủ động tham gia, g n kết nền kinh tế quốc gia vào
nền kinh tế thế giới. Nhìn từ g c độ chính sách, đ là việc dỡ bỏ các rào cản



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status