1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu do Tổng cục thống kê công bố, hiện nay phần lớn doanh
nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa. Nếu phân loại theo quy
mô lao động, trong số hơn 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước tính
đến tháng 4/2014 chỉ 2% doanh nghiệp có quy mô lớn, 2% là doanh nghiệp quy
mô vừa còn 96% là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, còn nếu tính cả các hộ cá
thể thì tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 99,9% (Vũ Tiến Lộc, 2014). Trong
khoảng 10 năm trở lại đây, số lượng các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa có tốc
độ tăng trung bình hàng năm rất lớn (doanh nghiệp siêu nhỏ tăng 24,7% trong khi
doanh nghiệp nhỏ là 20,41%) (Sách trắng DNNVV 2011). Đến năm 2012, theo số
liệu từ VCCI, các DNNVV sử dụng 50% lực lượng lao động của nền kinh tế và
đóng góp khoảng 40% GDP hàng năm. Trên phạm vi toàn thế giới, theo thống kê
của OECD, DNNVV chiếm khoảng từ 96% - 99% trong tổng số doanh nghiệp.
Như vậy, có thể thấy các doanh nghiệp này ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế, khối DNNVV đóng góp không nhỏ trong việc huy động nguồn
lực cho đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực kinh tế, giải quyết
việc làm, xóa đói giảm nghèo, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển.
Mặc dù chiếm một tỷ trọng rất lớn và có vị trí hết sức quan trọng đối với sự
phát triển của nền kinh tế nhưng công tác kế toán tại DNNVV hiện nay nhìn chung
vẫn chưa được chú trọng. Nội dung tổ chức công tác kế toán chưa được gắn kết
thành một hệ thống theo một trình tự khoa học mà được thực hiện một cách tùy
tiện theo mục tiêu do chủ doanh nghiệp hoặc ban giám đốc đề ra nhằm để đối phó
với cơ quan quản lý mà chủ yếu là cơ quan thuế chứ chưa thực sự mang lại thông
tin kế toán hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Sở dĩ có tình hình trên là do nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân nổi bật là do các quy định pháp lý
về kế toán cho DNNVV chưa được nghiên cứu ban hành một cách riêng biệt, có hệ
thống và phù hợp với thực tế hoạt động của DNNVV ở Việt Nam hiện nay. Có thể
kế toán tại các DNNVV trong thời gian gần đây để chỉ ra sự cần thiết phải có khung
pháp lý về kế toán áp dụng riêng cho DNNVV ở Việt Nam.
3
2. Khảo sát nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng khác nhau kết hợp với
những đánh giá của các đối tượng sử dụng thông tin về nội dung và chất lượng
thông tin kế toán do DNNVV cung cấp để định hướng xác lập khung pháp lý về kế
toán dành riêng cho các doanh nghiệp này, đảm bảo cung cấp thông tin đầu ra thích
hợp với nhu cầu của các đối tượng sử dụng.
3. Nghiên cứu khung pháp lý về kế toán cho DNNVV ở một số quốc gia để từ đó
tham khảo cho việc nhận định và xác lập một cách tổng thể khung pháp lý về kế
toán hoàn chỉnh, phù hợp với DNNVV ở Việt Nam. Nội dung khung pháp lý được
xác lập mang tính tổng quát, làm cơ sở cho việc thực hiện nghiên cứu sâu từng vấn
đề có liên quan thông qua các nghiên cứu tiếp theo.
4. Nhận diện mô hình các nhân tố tác động đến việc áp dụng các văn bản pháp lý
vào thực tiễn và làm rõ mức độ tác động của các nhân tố này, từ đó đề xuất các giải
pháp góp phần đưa các văn bản này áp dụng vào thực tiễn một cách nhanh chóng và
hiệu quả.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận án đặt ra một số câu hỏi
nghiên cứu cần phải giải quyết:
- Hiện tại việc tổ chức thực hiện công tác kế toán ở DNNVV dựa trên những quy
định pháp lý nào? Những quy định pháp lý này có những hạn chế gì? Và với việc
vận dụng các quy định pháp lý này, nội dung và chất lượng thông tin kế toán do
DNNVV cung cấp được các đối tượng sử dụng đánh giá như thế nào?
- Có cần thiết ban hành riêng khung pháp lý về kế toán cho DNNVV không? Nếu
cần phải ban hành riêng thì khung pháp lý này phải được xây dựng trên cơ sở nào?
Và nội dung khung pháp lý về kế toán cho DNNVV bao gồm những quy định và
văn bản pháp lý nào?
- Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc áp dụng khung pháp lý về kế toán
vào điều kiện thực tế tại DNNVV Việt Nam và cần có những tác động như thế nào
hiểu hoặc dễ gây hiểu lầm, xác định tính phù hợp của nội dung các câu hỏi, phát
hiện những sai sót của bản nháp và bước đầu kiểm tra thang đo, từ đó cho ra sản
phẩm là bảng khảo sát hoàn chỉnh.
5
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận án để phân
tích, đánh giá về thực tiễn tổ chức công tác kế toán tại DNNVV Việt Nam, nội
dung và chất lượng thông tin kế toán các doanh nghiệp này cung cấp. Bên cạnh đó,
phương pháp này cũng giúp phân tích ý kiến của các đối tượng khảo sát về định
hướng xác lập khung pháp lý về kế toán cho DNNVV ở Việt Nam và kiểm định
mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dung các văn bản pháp lý về kế toán
vào các doanh nghiệp này.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua các giai đoạn: thiết kế mẫu
nghiên cứu, thu thập thông tin từ mẫu khảo sát, phân tích dữ liệu bằng phần mềm
xử lý SPSS 20 thông qua các bước thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá và
phân tích hồi quy. Trước hết, phân tích thống kê mô tả giúp luận án đưa ra các
nhận định về thực tiễn tổ chức công tác kế toán tại DNNVV và chất lượng thông
tin kế toán các doanh nghiệp này cung cấp. Bên cạnh đó, luận án còn dùng
Independent Sample T-test để kiểm định sự khác biệt trong nhận định giữa các
nhóm đối tượng. Trong quá trình phân tích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến
việc vận dụng các văn bản pháp lý tại các DNNVV Việt Nam, tác giả đã thực hiện
kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha, loại bỏ các biến có hệ số
tương quan biến tổng nhỏ; sử dụng công cụ phân tích nhân tố khám phá (EFA -
Exploratory factor analysis) trên SPSS 20 và loại bỏ các biến có thông số nhỏ bằng
cách kiểm tra các hệ số tải nhân tố (Factor loading) và các phương sai trích được;
đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên cứu qua hệ số KMO (Kaiser-Meyer-
Olkin). Bước tiếp theo là kiểm định Cronbach Alpha (CRA) đối với các thang đo.
Đây là phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ của tập hợp các biến quan sát.
Sau đó, tác giả tiếp tục chạy mô hình hồi quy để đánh giá mức độ phù hợp của mô
hình và xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dung các văn bản pháp lý
Kết cấu của luận án ngoài phần mở đầu giới thiệu bối cảnh nghiên cứu,
mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, tóm tắt phương pháp nghiên cứu cũng
như những đóng góp mới của luận án; phần nội dung chính của luận án được trình
bày thành 5 chương. Nội dung cơ bản của từng chương như sau:
7
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến
luận án, các nghiên cứu về khung pháp lý về kế toán cho doanh nghiệp nói chung
và DNNVV nói riêng được thực hiện ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế
giới, từ đó rút ra nhận xét về các nghiên cứu đã công bố và xác định vấn đề cần
tiếp tục nghiên cứu.
Chương 2: Trình bày một số vấn đề chung về DNNVV và khung pháp lý
về kế toán áp dụng cho DNNVV, đồng thời giới thiệu các lý thuyết nền làm cơ sở
cho nghiên cứu. Cũng trong chương này, luận án giới thiệu tóm tắt nội dung chuẩn
mực kế toán quốc tế áp dụng cho DNNVV và giới thiệu khung pháp lý về kế toán
cho DNNVV ở một số quốc gia đại diện cho các khu vực địa lý và các trường phái
kế toán khác nhau như: Mỹ, Pháp, Romania, Singapore, Trung Quốc, từ đó rút ra
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Chương 3: Xây dựng khung phân tích của luận án, trình bày từng bước
trong quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu luận án.
Chương 4: Trình bày kết quả khảo sát về công tác kế toán của DNNVV
trên địa bàn TP.HCM, đánh giá của các đối tượng sử dụng thông tin về chất lượng
thông tin kế toán DNNVV cung cấp cũng như các nhân tố tác động đến việc vận
dụng các văn bản pháp lý vào thực tiễn công tác kế toán tại các doanh nghiệp này.
Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát, chương này đưa ra một số giải pháp để định
hướng xác lập khung pháp lý về kế toán dành riêng cho DNNVV ở Việt Nam và
các giải pháp hỗ trợ để tăng cường tính khả thi cho các văn bản này khi áp dụng
thực tiễn.
Chương 5: Phần kết luận nêu ra những kết quả mà luận án đã đạt được
cũng như những hạn chế của luận án và các định hướng nghiên cứu tiếp theo.
thống kê của tác giả, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này theo
các khía cạnh khác nhau như nghiên cứu quá trình ban hành và vận dụng khung
pháp lý về kế toán hay vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế ở các quốc gia.
Như chúng ta đã biết, hoạt động kế toán tại các quốc gia trên thế giới (ngoại trừ
các quốc gia mang đậm nét đặc trưng của trường phái kế toán Châu Âu lục địa như
Pháp, Trung Quốc,…) thì nhìn chung đều dựa trên nền tảng pháp lý là hệ thống
chuẩn mực kế toán. Do vậy nghiên cứu về khung pháp lý kế toán thực chất là
9
nghiên cứu về sự ra đời, các yếu tố tác động đến sự ra đời chuẩn mực kế toán cũng
như quá trình vận dụng các chuẩn mực này vào thực tiễn. Nội dung nghiên cứu
liên quan đến vấn đề này khá đa dạng, do vậy luận án sắp xếp kết quả các nghiên
cứu theo từng nhóm vấn đề có liên quan như sau.
Các nghiên cứu liên quan đến quá trình hình thành, soạn thảo và ban hành
chuẩn mực kế toán
Một trong những mảng đề tài mà các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều đó
là bàn về quá trình hình thành và ban hành khung pháp lý về kế toán. Liên quan
đến vấn đề này, Katherine Schipper (1994) cho rằng, các nhà nghiên cứu kế toán
có đóng góp đáng kể trong quá trình hình thành các chuẩn mực kế toán. Theo tác
giả, các nghiên cứu về kết quả thông tin kế toán được sử dụng như thế nào, chi phí
để tạo ra thông tin, nghiên cứu về sự lựa chọn chính sách kế toán,…có ý nghĩa hết
sức quan trọng và tác động tích cực đến quá trình hình thành chuẩn mực. Vì thế,
các nhà lập quy ở các quốc gia cần quan tâm đến vấn đề này trong quá trình ban
hành các văn bản pháp lý về kế toán. Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng
đó là những ảnh hưởng chính trị trong quá trình ban hành chuẩn mực. Roland
Konigsgruber (2010) chỉ rõ những ảnh hưởng chính trị trong quá trình ban hành
chuẩn mực ở Mỹ và cộng đồng Châu Âu (EU) đại diện cho hai trường phái kế toán
là Anglo-Saxon và Châu Âu lục địa thông qua việc so sánh quy trình ban hành
chuẩn mực kế toán ở Mỹ và EU, phân tích thủ tục làm việc qua từng khâu, vai trò
của các bộ phận và sự can thiệp của các cơ quan có liên quan. Kết quả nghiên cứu
thuẫn với nhau nhưng ít ra họ sẽ xem xét và giải thích tại sao các ý kiến này không
được đưa vào chuẩn mực (Sylvain Durocher & Anne Fortin, 2011) và điều này hết
sức có ý nghĩa trong việc đảm bảo các chuẩn mực được ban hành mang tính khả
thi cao khi áp dụng vào thực tiễn.
Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế vào
từng quốc gia.
Bên cạnh chủ đề về quá trình nghiên cứu, soạn thảo và ban hành chuẩn
mực, trong những thập niên gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế và xu
hướng hội tụ kế toán quốc tế, chuẩn mực kế toán quốc tế đang ngày càng được áp
dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia thuộc nhiều khu vực trên thế giới. Vì thế rất nhiều
công trình đã công bố liên quan đến mảng đề tài này nghiên cứu vấn đề áp dụng
11
chuẩn mực kế toán quốc tế vào các quốc gia. Một số nghiên cứu được thực hiện ở
phạm vi rộng, như nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực
kế toán quốc tế ở các nước đang phát triển (Daniel Zeghal & Karim Mhedhbi,
2006), hay nghiên cứu ở phạm vi hẹp khi đề cập đến các vấn đề nảy sinh xung
quanh việc áp dụng bộ chuẩn mực này ở từng quốc gia cụ thể như Australia
(Wayne Lonergan, 2003), Ireland (Fennell David, 2005), Trung Quốc (Songlan
Peng, 2005),…Nhìn chung, kết quả của các nghiên cứu này cho thấy hệ thống kế
toán, quy định pháp lý của mỗi quốc gia tồn tại nhiều điểm khác biệt so với chuẩn
mực kế toán quốc tế và viêc tiếp cận để áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế vào
từng quốc gia là một thách thức không nhỏ, đặc biệt là đối với các nước đang phát
triển. Theo đó, việc áp dụng IFRS ngoài thuận lợi là triển vọng về bộ chuẩn mực
được chấp nhận trên toàn thế giới thì còn nhiều bất lợi như những khó khăn khi áp
dụng bộ chuẩn mực mới này, giảm vai trò của cơ quan ban hành chuẩn mực kế
toán quốc gia, dẫn đến cơ quan này đánh mất khả năng thiết lập chuẩn mực kế toán
độc lập, chuyển giao quyền kiểm soát việc ban hành chuẩn mực cho IASB (Wayne
Lonergan, 2003). Hay trường hợp Trung Quốc cũng gặp những khó khăn tương tự
trong quá trình hòa hợp và hội tụ với kế toán quốc tế (Songlan Peng, 2005); Bên
công trình nghiên cứu có liên quan đến văn bản pháp lý về kế toán cho DNNVV đã
công bố trên thế giới, trong đó tập trung vào các nghiên cứu về việc ban hành quy
định pháp lý, việc vận dụng các văn bản pháp lý về kế toán ở các DNNVV và tác
động của việc vận dụng này cũng như vấn đề sử dụng thông tin kế toán DNNVV
cung cấp. Các nghiên cứu này nhìn chung đều đi theo xu thế hội tụ kế toán quốc tế
nói chung và tiến trình hội tụ ở các quốc gia nói riêng. Từ kết quả nghiên cứu, có
thể thấy các quốc gia trên thế giới dù thuộc khu vực địa lý nào, theo trường phái kế
toán nào đều có xu hướng hội tụ với kế toán quốc tế, tuy nhiên mức độ hội tụ khác
nhau giữa các quốc gia, có quốc gia hoàn toàn áp dụng chuẩn mực quốc tế như
Hàn Quốc, Malaysia, Philippine, Singapore…có quốc gia lại dựa trên cơ sở chuẩn
mực quốc tế để xây dựng riêng khung pháp lý về kế toán phù hợp với cách thức
quản lý và đặc điểm của doanh nghiệp tại quốc gia mình, như Trung Quốc, Nhật
Bản, Việt Nam (Venus Ibarra & Martha G.S, 2011).
Các nghiên cứu về lợi ích mang lại và thách thức đặt ra khi vận dụng chuẩn mực
kế toán quốc tế cho DNNVV vào từng quốc gia.
13
Trong mảng nghiên cứu rộng lớn về xu thế hội tụ kế toán quốc tế nói chung
và tiến trình hội tụ kế toán ở các quốc gia nói riêng, vấn đề nghiên cứu được đề cập
nhiều nhất có lẽ là các vấn đề nảy sinh khi đưa chuẩn mực kế toán quốc tế cho
DNNVV vào áp dụng ở từng quốc gia. Theo đó, IFRS for SMEs mang lại nhiều lợi
ích cho cả bản thân doanh nghiệp áp dụng và cho người sử dụng thông tin kế toán.
Chuẩn mực này đã giúp khôi phục và xây dựng lòng tin của các đối tượng sử dụng
về nghề nghiệp kế toán, cải thiện khả năng so sánh và tính minh bạch của BCTC
(Fazeena Fazneen Hussain et al, 2012), giúp làm giảm chi phí và thời gian kiểm
toán, thông tin kế toán minh bạch hơn, bảo vệ quyền lợi của các đối tượng sử dụng
thông tin (LJ Stainbank, 2010). Nhiều nhà nghiên cứu, như Hana Bohusova (2011)
khi nghiên cứu về việc áp dụng IFRS for SMEs trên toàn thế giới hay Grosu
Veronica & Bostan Ionel (2010) khi nghiên cứu tác động của việc vận dụng bộ
chuẩn mực này đến hệ thống kế toán Romania cũng đưa ra kết luận tương tự.
những lợi ích từ việc áp dụng bộ chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV là không
thể phủ nhận như đã trình bày ở trên. Kết quả khảo sát từ nhiều nghiên cứu cho
thấy nhìn chung các doanh nghiệp đều ủng hộ việc áp dụng bộ chuẩn mực kế toán
riêng cho DNNVV (Asuman Atik, 2010) bởi vì lợi ích từ việc có được thông tin
kế toán tài chính kịp thời cao hơn chi phí bỏ ra để có được các thông tin đó (C.E.
Anton & A.Trifan, 2011). Tuy nhiên cũng có luồng quan điểm trái chiều cho rằng
IFRS for SMEs hiện nay vẫn phải tiếp tục được rút gọn, đơn giản hóa hơn nữa các
nguyên tắc đo lường và ghi nhận mới phù hợp với đặc điểm của DNNVV (Stefan
Bunea et al, 2012; Ha Van Wyk & J Rossouw, 2009). Theo Gregory Kenneth
Laing (2012), việc tuân thủ theo các yêu cầu của chuẩn mực kế toán sẽ tạo ra gánh
nặng về chi phí cho doanh nghiệp vì các doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt là các công ty
gia đình không có nhu cầu báo cáo tài chính cho mục đích chung theo tinh thần của
IFRS for SMEs. Tác giả này chỉ ra các đối tượng sử dụng thông tin như ngân hàng,
khách hàng, chủ nợ, có những yêu cầu thông tin riêng khác với các thông tin mà
chuẩn mực kế toán buộc doanh nghiệp phải cung cấp. Do đó việc áp dụng IFRS for
SMEs không mang lại lợi ích như mong đợi đối với các doanh nghiệp nhỏ và các
công ty gia đình. Đồng quan điểm, Hana Bohusova (2011) cho rằng việc vận dụng
IFRS for SMEs ở nhiều quốc gia trước hết là sẽ tốn kém chi phí và yêu cầu cần có
15
lộ trình về thời gian do sự khác biệt về nền tảng lý thuyết, các nguyên tắc, phương
pháp ghi nhận giữa IFRS for SMEs với quy định kế toán của từng quốc gia.
Nói tóm lại, mặc dù có những nội dung phức tạp nhất định không thể thích
hợp hoàn toàn với quy định kế toán ở các nước đang phát triển, hay thành ý của
các nhà soạn thảo chuẩn mực không thỏa mãn mong muốn của người sử dụng
thông tin, bất chấp sự khác biệt văn hóa có thể làm giảm sự tổng quát hóa của các
chuẩn mực, thì vẫn tồn tại những tiền đề, cơ sở cho thấy IFRS for SMEs có thể
được chấp nhận trên thế giới (Adela Deaconu et al, 2012).
Các nghiên cứu về vấn đề vận dụng các quy định kế toán ở DNNVV và liên quan
đến thông tin kế toán DNNVV cung cấp.
ích sẽ được nâng lên (Sorin Briciu et al, 2009). Đặc biệt, thực tế tại Việt Nam cho
thấy, đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính khá hạn chế, chủ yếu là cơ quan
thuế và các cơ quan quản lý nhà nước (Dang Duc Son et al, 2006). Kết quả khảo
sát của nhóm tác giả này cũng phản ánh thực trạng là các đối tượng bên ngoài tỏ ra
lo ngại về tính trung thực của thông tin do DNNVV cung cấp. Ngoài ra, bên cạnh
các thông tin tài chính quen thuộc trên báo cáo, thông tin về dòng tiền cũng như
các thông tin mang tính dự báo cũng được xem khá quan trọng nhưng các thông tin
này lại không được cung cấp hoặc được cung cấp một cách sơ sài. Từ đó, nhóm tác
giả đi tới kết luận, BCTC của DNNVV cung cấp theo quy định hiện hành (ở Việt
Nam) không hữu ích cho việc ra quyết định, vì thế nếu các DNNVV muốn tồn tại
và tăng trưởng trong điều kiện nền kinh tế phát triển nhanh chóng thì các doanh
nghiệp này cần nỗ lực hơn nữa mới phần nào đáp ứng nhu cầu của các đối tượng
sử dụng báo cáo thực sự hơn là chỉ tuân thủ đúng theo quy định như hiện nay
(Dang Duc Son et al, 2006).
1.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến khung pháp lý về kế toán cho
doanh nghiệp ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu liên quan đến khung pháp lý chi phối công tác kế toán ở doanh
nghiệp nói chung ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến khung pháp lý về kế toán cho các doanh nghiệp nói chung. Nội dung các
nghiên cứu này có thể được phân thành nhóm căn cứ vào vấn đề các tác giả đề cập.
17
Các nghiên cứu về vấn đề hòa hợp giữa quy định kế toán Việt Nam và kế toán
quốc tế.
Những năm gần đây, hòa chung xu thế hòa hợp và hội tụ kế toán quốc tế,
các nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán ở Việt Nam cũng tập trung phản ánh nội
dung này. Vì thế, vấn đề đầu tiên được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đó là
xem xét sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và kế toán quốc tế ở khía cạnh chuẩn
mực hoặc khía cạnh vận dụng trong thực tiễn. Chúng ta biết rằng chuẩn mực kế
văn hoá của người Việt Nam, đặc điểm hệ thống pháp lý…) (Võ Văn Nhị & Lê
Hoàng Phúc, 2011). Trong một chừng mực nào đó, rõ ràng những khác biệt này có
ảnh hưởng đến quá trình hội nhập quốc tế về kế toán của Việt Nam (Võ Văn Nhị &
Lê Hoàng Phúc, 2011). Mặc dù hội tụ kế toán quốc tế là một xu thế tất yếu khách
quan trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế và là hướng đi tích cực trong quá trình
phát triển nhưng hội tụ toàn bộ không phải là vấn đề dễ dàng (Trần Quốc Thịnh,
2014). Về lâu dài, để đạt được mức độ hài hòa cao với hệ thống chuẩn mực kế toán
các nước trong khu vực và thông lệ quốc tế, cần quan tâm đến một số vấn đề cơ
bản như: xây dựng lộ trình cụ thể để tiếp tục nghiên cứu ban hành các chuẩn mực
kế toán còn thiếu; cấu trúc lại khung pháp lý về kế toán theo hướng không quy
định chế độ kế toán cụ thể mà chuẩn mực kế toán trở thành cơ sở để các doanh
nghiệp vận dụng vào công tác kế toán; tăng cường vai trò của các tổ chức nghề
nghiệp và sự phản biện xã hội trong việc xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực (Mai
Ngọc Anh & Trần Thị Kim Chi, 2012).
Các bài viết giới thiệu quy định của kế toán quốc tế về một số vấn đề cụ thể.
Bên cạnh rất nhiều nghiên cứu về quá trình hòa hợp giữa kế toán Việt Nam
với kế toán quốc tế, xuất hiện các bài viết mang tính giới thiệu một số vấn đề cụ
thể trong quy định của kế toán quốc tế, đối chiếu với Việt Nam để từ đó rút ra bài
học kinh nghiệm. Như tác giả Chúc Anh Tú giới thiệu nội dung của chuẩn mực kế
toán quốc tế số 1 về trình bày báo cáo tài chính, những nguyên tắc kế toán cơ bản,
cấu trúc và nội dung của các BCTC (Chúc Anh Tú, 2011). Tác giả Hà Thị Ngọc
Hà thì lại phân tích và so sánh để chỉ ra nội dung chuẩn mực kế toán số 26 theo
quy định hiện hành chưa cụ thể, rõ ràng và thiếu nhiều nội dung so với yêu cầu của
chuẩn mực kế toán quốc tế số 24 – thông tin về các bên liên quan (Hà Thị Ngọc
Hà, 2013). Hay nghiên cứu của Trần Hồng Vân tìm thấy bằng chứng để kết luận
19
rằng đối với cùng một nhóm công ty mẹ - công ty con, thông tin được cung cấp bởi
BCTC hợp nhất lập theo CMKT của Việt Nam và cung cấp bởi BCTC hợp nhất
lập theo IAS/IFRS có sự khác biệt đáng kể (Trần Hồng Vân, 2014). Tác giả Chu
Trinh, 2010); “Nhận diện những khác biệt giữa chuẩn mực hợp nhất kinh doanh
của Việt Nam với quốc tế và định hướng hoàn thiện chuẩn mực hợp nhất kinh
doanh của Việt Nam theo yêu cầu hội tụ quốc tế” (Đoàn Thị Mỹ Duyên,
2012);…và còn rất nhiều đề tài khác nữa. Tuy nhiên ở cấp độ đề tài thạc sĩ, các tác
giả chỉ giải quyết một khía cạnh rất nhỏ, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân
tích, suy luận nên chưa có nhiều đóng góp mới có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
1.2.2. Nghiên cứu liên quan đến khung pháp lý về kế toán cho DNNVV ở Việt
Nam.
Vấn đề kế toán cho DNNVV không chỉ được các nhà nghiên cứu quốc tế
quan tâm mà ngay tại Việt Nam, số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu khoa
học, luận văn, luận án về đề tài này những năm trở lại đây cũng không ngừng tăng
lên. Các nghiên cứu này chủ yếu xoay quanh một số vấn đề như giới thiệu về
chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV, định hướng xây dựng các văn bản pháp
lý kế toán cho DNNVV hay nghiên cứu về việc vận dụng các văn bản pháp quy về
kế toán tại các doanh nghiệp này. Cụ thể như sau:
Các bài viết giới thiệu về chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV
Trước hết, số lượng các bài viết giới thiệu các nội dung liên quan đến
chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV (IFRS for SMEs) chiếm số lượng khá
lớn. Theo đó, mục đích của hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế đối với DNNVV là
đưa ra các quy định để thông tin kế toán có chất lượng, dễ hiểu và có khả năng so
sánh, nhằm giúp các đối tượng tham gia trên thị trường chứng khoán và các đối
tượng khác đưa ra các quyết định chính xác; đưa ra hướng dẫn về sự áp dụng
chuẩn thông tin đối với các DNNVV (Chúc Anh Tú, 2010), nhiều tác giả cũng chỉ
ra sự khác biệt giữa chuẩn mực quốc tế cho DNNVV so với bộ chuẩn mực kế toán
cho doanh nghiệp nói chung. Các quy định của IFRS for SMEs được xây dựng trên
cơ sở bộ chuẩn mực đầy đủ IFRS hiện hành theo hướng đơn giản hóa một số nội
dung phức tạp mà các DNNVV không phát sinh hoặc có phát sinh nhưng ảnh
hưởng thường không trọng yếu. Khác với bộ chuẩn mực đầy đủ xây dựng nhiều
chuẩn mực riêng cho từng vấn đề của kế toán, IFRS for SMEs chỉ xây dựng một
21
cần lưu ý đến đặc thù của doanh nghiệp lớn và DNNVV để xây dựng chuẩn mực
22
phù hợp, đồng thời luôn cân nhắc đến khía cạnh lợi ích và chi phí trong khi thiết
lập các quy định (Trần Đình Khôi Nguyên, 2011b).
Các nghiên cứu về vấn đề vận dụng các quy định pháp lý kế toán ở DNNVV Việt
Nam.
Ngoài các nội dung được đề cập ở trên, vấn đề vận dụng các văn bản pháp
lý kế toán vào thực tiễn cũng được quan tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng
lực kế toán viên là một trong những nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng
chuẩn mực kế toán. Việc tăng cường công tác kiểm tra từ phía cơ quan thuế, hay
yêu cầu BCTC phải được kiểm toán sẽ ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực
kế toán trong các DNNVV (Trần Đình Khôi Nguyên, 2011a). Ở một nghiên cứu
khác, tác giả này đã phác thảo mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế
độ kế toán trong các DNNVV tại Việt Nam bao gồm các nhân tố sau: mức độ phức
tạp của chuẩn mực, tính độc lập về nghề nghiệp, trình độ của kế toán viên, ảnh
hưởng của tổ chức kiểm toán hay vai trò của công tác thanh tra kiểm tra, ảnh
hưởng của thuế đối với công tác kế toán, nhận thức của chủ doanh nghiệp, quy mô
doanh nghiệp, khả năng sinh lời (Trần Đình Khôi Nguyên, 2010).
Ngoài ra, mảng đề tài về kế toán cho DNNVV cũng được bản thân tác giả
và các cộng sự đề cập một số vấn đề nhỏ trong các đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về
định hướng để xây dựng khung pháp lý về kế toán cho DNNVV, chuẩn mực kế
toán cho DNNVV hay thông tin kế toán DNNVV cung cấp. Bên cạnh đó, khá
nhiều học viên cao học khai thác một số khía cạnh liên quan để làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn thạc sĩ, cụ thể như: Nguyễn Thị Huyền Trâm (2007) về Tổ chức
công tác kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, Hoàng Phú Tùng
(2009), Một số giải pháp để hoàn thiện kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
hiện nay, Phạm Phú Thắng (2010), Hoàn thiện chế độ kế toán áp dụng cho
DNNVV ở Việt Nam, Vũ Thị Ngọc Thảo (2012), Ứng dụng công nghệ thông tin
vào kế toán và kiểm soát tại các DNNVV Việt Nam, Phạm Trà Lam (2012), Tổ
vào thực tiễn là một khâu hết sức quan trọng để từ đó các văn bản này phát huy tác
dụng, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cho bản thân doanh nghiệp, các đối tượng
sử dụng thông tin nói riêng và toàn xã hội nói chung. Bên cạnh đó, một trong
những chức năng chính của kế toán là cung cấp thông tin và sản phẩm của kế toán
là các báo cáo nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Do đó,
24
việc nghiên cứu để xác định rõ các đối tượng sử dụng thông tin kế toán của
DNNVV và nhu cầu về thông tin của họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá
trình nghiên cứu xác lập khung pháp lý về kế toán cho các doanh nghiệp này.
Chính vì lẽ đó mà các nghiên cứu về mảng đề tài này cũng chiếm số lượng đáng
kể.
Về phương pháp nghiên cứu, nhiều công trình được thực hiện hết sức công
phu như nghiên cứu của như Jill Collis & Robin Jarvis về cách thức chủ doanh
nghiệp – nhà quản lý của các doanh nghiệp nhỏ ở Anh sử dụng thông tin kế toán
có cỡ mẫu lên tới 2288 doanh nghiệp, với cơ sở lý thuyết chặt chẽ, dữ liệu thu thập
được phân tích kỹ nên kết quả nghiên cứu mang tính thuyết phục cao (Jill Collis &
Robin Jarvis, 2000); hay nghiên cứu của nhóm tác giả Daniel Zeghal và Karim
Mhedhbi (2006) về các nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực quốc tế ở
các nước đang phát triển đã khảo sát phạm vi rất rộng ở 64 quốc gia thuộc nhóm
các nước đang phát triển, do đó kết luận đưa ra từ nghiên cứu này rất đáng tin cậy
và có giá trị tham khảo cho nhiều nghiên cứu sau đó. Tuy nhiên, ở một số nghiên
cứu, cơ sở để tác giả đưa ra các nhận định này chỉ dựa trên lập luận, phân tích và
nhận định chủ quan của bản thân nên tính thuyết phục của bài viết chưa cao (như
bài của Wayne Lonergan, 2003). Hay một vài tác giả chủ yếu sử dụng phương
pháp so sánh, phân tích, diễn giải nên tính khách quan và tính thuyết phục của bài
viết còn hạn chế (như bài của Fennell David, 2005).
Mặc dù có những điểm không phù hợp với đặc thù kinh tế xã hội của Việt
Nam, hoặc nhiều nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện môi trường luật pháp
không tương đồng với Việt Nam nhưng qua những nghiên cứu của các tác giả
quan của tác giả (như bài viết của các tác giả Chúc Anh Tú, 2010; Hà Thị Ngọc
Hà, 2013). Từ kết quả nghiên cứu, một số tác giả đưa ra giải pháp chung mang tính
định hướng cho việc hoàn thiện các văn bản pháp lý, chưa đi vào giải pháp cụ thể
mang tính khả thi.
Về phương pháp nghiên cứu, ngoài một vài nghiên cứu sử dụng phương
pháp định lượng, mang lại kết quả nghiên cứu đáng tin cậy, có ý nghĩa cao (như
nghiên cứu của Trần Đình Khôi Nguyên, 2011a); còn đa số các tác giả chỉ sử dụng
phương pháp phân tích, so sánh, diễn giải nên tính đáng tin cậy của kết quả nghiên
cứu còn hạn chế, kết luận đưa ra còn mang tính chủ quan. Một vài nghiên cứu gặp