TRUYỀN THÔNG VỀ HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI, VĂN HÓA VIỆT CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH ĐỐI NGOẠI VTC10 NETVIET - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐẶNG THÚY LAN

TRUYỀN THÔNG VỀ HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI,
VĂN HÓA VIỆT CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH ĐỐI NGOẠI VTC10 - NETVIET

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐẶNG THÚY LAN

TRUYỀN THÔNG VỀ HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI,
VĂN HÓA VIỆT CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH ĐỐI NGOẠI VTC10 - NETVIET

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60320101

Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Thị Kiên


MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.....................................................................................3
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.............................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................6
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài...................................................................7
7. Cấu trúc của luận văn............................................................................................8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN VỀ
TRUYỀN THÔNG VỀ HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI, VĂN HÓA
VIỆT CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI TRÊN KÊNH TRUYỀN
HÌNH ĐỐI NGOẠI.................................................................................................9
1.1. Về một số thuật ngữ được sử dụng..................................................................9
1.1.1. Hình ảnh đất nước, con người, văn hoá Việt...................................................9
1.1.2. Người Việt Nam ở nước ngoài, kênh truyền hình đối ngoại...........................14
1.1.3. Truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt........................15
1.2. Nhu cầu tiếp nhận thông tin về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt
của người Việt Nam ở nước ngoài........................................................................17
1.2.1. Đặc điểm của người Việt Nam ở nước ngoài.................................................17
1.2.2. Nhu cầu thông tin của người Việt Nam ở nước ngoài....................................19
1.3. Yêu cầu truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt cho
người Việt Nam ở nước ngoài trên truyền hình đối ngoại..................................20
1.3.1. Căn cứ đề xuất yêu cầu..................................................................................20
1.3.2. Một số yêu cầu trong truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa
Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài trên truyền hình đối ngoại..........................25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ HÌNH ẢNH ĐẤT
NƯỚC, CON NGƯỜI, VĂN HÓA VIỆT TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH ĐỐI
NGOẠI VTC10 – NETVIET................................................................................33



3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về hình ảnh đất nước,
con người, văn hóa Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài trên kênh truyền
hình đối ngoại........................................................................................................69
3.2.1. Tăng cường yếu tố hấp dẫn và phong phú trong nội dung thông tin..............69
3.2.2. Mở rộng phạm vi phản ánh............................................................................70
3.2.3. Tiếp tục đa dạng hóa về chủ đề, đề tài...........................................................71
3.2.4. Chú trọng hơn về sử dụng ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh..........................72
3.2.5. Khai thác tối đa lợi thế của người dẫn chương trình.....................................73
3.3. Một số đề xuất đối với cơ quan báo chí.........................................................73
3.3.1. Đối với cơ quan lãnh đạo báo chí và Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC................73
3.3.2. Đối với kênh VTC10 – NetViet.......................................................................77
3.3.3. Đối với phóng viên, biên tập viên..................................................................82
KẾT LUẬN............................................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................89
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. BTV: Biên tập viên
2. CNH-HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
3. KTV: Kỹ thuật viên
4. NVNONN: Người Việt Nam ở nước ngoài
5. QP: Quay phim
6. THKTS: Truyền hình Kỹ thuật số
7. UBNNVNVNONN: Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
8. VN: Việt Nam


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2.2.1: Bảng khảo sát số lượng thể loại sử dụng trong 3 chương trình Góc

– NetViet, Hệ phát thanh đối ngoại VOV5, Tạp chí Quê hương,..
Là một trong những kênh thông tin riêng dành cho NVNONN, các chương
trình phát sóng trên kênh truyền hình VTC10 – NetViet đã làm khá tốt chức năng

1


đáp ứng nhu cầu thông tin của kiều bào; đồng thời tôn vinh nền văn hóa, lịch sử, đất
nước, con người Việt Nam tới với thế giới, mà đặc biệt là cộng đồng NVNONN.
Chương trình Góc cuộc sống phát sóng vào 19h15 tối Chủ nhật hàng tuần,
thời lượng 15 phút/ 1 số được ra đời vào năm 2009 nhằm mục đích giới thiệu những
giá trị truyền thống mang tính bản sắc văn hóa của Việt Nam. Trong khi đó, chương
trình Văn hóa dân tộc phát sóng vào 21h00 tối thứ Ba hàng tuần, có thời lượng 30
phút/ 1 số, ra đời vào năm 2010 nhằm mục đích tăng cường tinh thần đoàn kết dân
tộc, truyền thống lịch sử, niềm tự hào dân tộc và nâng cao nhận thức giữ gìn, tôn vinh
văn hóa Việt. Chương trình Phim tài liệu phát sóng vào 22h00 tối thứ Ba và thứ Năm
hàng tuần, có thời lượng 30 phút/ 1 số, ra đời vào năm 2008 nhằm mục đích đưa lại
cái nhìn toàn cảnh cho kiều bào xa quê cũng như khán giả nước ngoài những đặc
trưng về kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, giáo dục Việt Nam; đồng thời đề cập đến
những chính sách phát triển và hợp tác kinh tế Việt Nam thời kỳ hội nhập.
Các chương trình đã phản ánh được nhiều nội dung khác nhau về đất nước,
con người và văn hóa Việt Nam; phần nào khơi dậy tình yêu quê hương, lòng tự hào
dân tộc đối với mỗi khán giả. Từ đó giúp nâng cao ý thức của người dân Việt Nam
nói chung, NVNONN nói riêng trong việc giữ gìn và phát huy tiềm năng du lịch và
văn hóa quốc gia. Cũng qua các chương trình này mà bạn bè quốc tế cũng hiểu sâu
sắc hơn về Việt Nam thông qua các phong tục tập quán, lễ hội, thắng cảnh và bản
sắc văn hóa của các vùng miền trên đất nước Việt Nam.
Bên cạnh những thành công đạt được, các chương trình trên vẫn có những
hạn chế trong việc truyền thông như nội dung thông tin chưa được phong phú; phạm
vi phản ánh khá hẹp; hình ảnh của đất nước, con người, văn hóa Việt Nam chưa

Trọng Đăng Đàn – NXB Chính trị quốc gia, năm 2005; “Truyền thông đại chúng
trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Phạm Minh
Sơn và TS. Nguyễn Thị Quế, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội, năm 2009; “50
năm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (1959 – 2009)” của Ủy ban
nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (UBNNVNVNONN), Bộ Ngoại giao
xuất bản; Luận văn “Kênh VTV4, báo trực tuyến và công chúng người Việt Nam ở
nước ngoài”(2011) của tác giả Lý Thị Hải Yến đã nghiên cứu một cách toàn diện và
sâu sắc về nhu cầu tiếp nhận công chúng NVNONN (cụ thể ở Hàn Quốc, Nga, Mỹ),
chỉ ra sự quan tâm của công chúng với các vấn đề trong nước để truyền tải, đồng
thời luận văn cũng đã đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông tới đối
tượng NVNONN.

3


- Nhóm nghiên cứu về đường lối, chủ trương, chính sách cuả Đảng và Nhà
nước về công tác đối với NVNONN, đã có một số đề tài, đề án như: Đề tài cấp bộ
về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới giai đoạn từ
nay đến 2020 vì sự nghiệp phát triển đất nước năm 2007 của Ủy ban nhà nước về
người Việt Nam ở nước ngoài; Cuốn sách “Báo chí và ngoại giao” do TS. Dương
Văn Quảng biên soạn – NXB Thế giới (2002); Bài viết của Nguyên Thứ trưởng
Ngoại giao, chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về NVNONN Nguyễn Thanh Sơn về “Kết
quả 6 năm triển khai Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác đối với
NVNONN” đã đánh giá những kết quả đạt được trên cả ba lĩnh vực: thông tin tuyên
truyền, xây dựng chính sách và vận động cộng đồng. Trong đó, Thứ trưởng Nguyễn
Thanh Sơn đã nhấn mạnh về vai trò quảng bá văn hóa Việt Nam và gìn giữ bản sắc
văn hóa dân tộc trong cộng đồng NVNONN là việc vô cùng quan trọng, đặc biệt là
trong giai đoạn toàn cầu hóa thông tin hiện nay.
- Nhóm nghiên cứu về Ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh quốc gia,
gồm có một số công trình nghiên cứu: Luận văn “Quảng bá văn hóa Việt Nam cho

chương trình Góc cuộc sống, Văn hóa dân tộc và Phim tài liệu. Bên cạnh đó, Luận
văn mong muốn chỉ ra những yếu tố quyết định chất lượng chương trình Góc cuộc
sống, Văn hóa dân tộc và Phim tài liệu, nội dung truyền thông, hình thức truyền
thông, những ưu – nhược điểm, nguyên nhân thành công – hạn chế; đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả truyền thông về nội dung
này trên 3 chương trình nói riêng, các chương trình truyền hình đối ngoại nói chung
cũng như đưa ra một vài phát hiện mới để phục vụ cho công tác truyền thông về
hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt tới cộng đồng NVNONN của Kênh
VTC10 – NetViet.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã nêu, tác giả sẽ thực hiện những nhiệm
vụ sau:
- Làm rõ một số thuật ngữ: thông tin, đối ngoại, người Việt Nam ở nước
ngoài; truyền thông, hình ảnh đất nước, hình ảnh con người, hình ảnh văn hóa;
truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt; …
- Làm rõ quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về thông tin đối ngoại.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng và chất lượng truyền thông về
hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt cho NVNONN của 3 chương trình Góc
cuộc sống, Văn hóa dân tộc và Phim tài liệu trên kênh truyền hình đối ngoại VTC10
- NetViet, rút ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân thành công, hạn chế.

5


- Khảo sát hoạt động nghề nghiệp của những người tham gia vào quy trình
sản xuất 3 chương trình trên; tổng kết, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn
nữa chất lượng, hiệu quả truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa
Việt cho NVNONN trên 3 chương trình Góc cuộc sống, Văn hóa dân tộc và Phim
tài liệu nói riêng, trên Kênh truyền hình đối ngoại VTC10 – NETVIET nói chung.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn 15 phóng viên, biên tập viên trực
tiếp sản xuất và biên tập chương trình Góc cuộc sống, Văn hóa dân tộc, và Phim tài
liệu trên kênh truyền hình đối ngoại VTC10 – NetViet để hiểu rõ cách thức họ đang
áp dụng để truyền thông có chất lượng về nội dung được nghiên cứu trong đề tài.
+ Các phương pháp khác: Khảo sát qua mạng dạng survey online, thư điện
tử, gửi 200 phiếu câu hỏi đến tận tay khán giả là kiều bào, thu về 130 phiếu; …
được sử dụng đối với công chúng NVNONN nhằm thu thập những ý kiến nhận xét,
đánh giá, đề xuất, kiến nghị của đối tượng tiếp nhận, bổ sung luận điểm cần thiết
cho việc triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu được áp dụng trong luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về
công tác thông tin đối ngoại; kế thừa những quan điểm lý luận về sản xuất chương
trình truyền hình, tác giả hy vọng luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn tầm quan trọng
trong việc truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam cho
NVNONN trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, đặt ra những yêu cầu cần thiết về
nội dung, hình thức truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt
Nam trên các chương trình truyền hình đối ngoại.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nếu được thực hiện thành công, đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo
cho các nhà quản lý trong việc hoạch định những chính sách thông tin đối ngoại;
cung cấp dữ liệu thực tế; tạo cơ sở cho các nhà lãnh đạo Đài truyền hình Kỹ thuật số
VTC, các phóng viên, biên tập viên trực tiếp sản xuất chương trình xem xét để điều
chỉnh, nâng cao chất lượng ba chương trình Góc cuộc sống, Văn hóa dân tộc và
Phim tài liệu nói riêng; các chương trình truyền hình đối ngoại của VTC10 NetViet nói chung. Ngoài ra, luận văn còn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho
các đồng nghiệp và sinh viên báo chí tại các cơ sở đào tạo báo chí.

7


Cũng trong cuốn sách trên, tác giả nhận xét rằng: “Ở Việt Nam, các vùng đất
khác nhau được cai quản bởi các phìa tạo, và không theo chế độ cha truyền con
nối. Khi có giặc ngoại xâm, các phìa tạo tập hợp lại với nhau để cùng chống
giặc.Sau khi đánh đuổi quân thù ra ngoài bờ cõi, ai lại về nhà nấy. Thế nên ông vua
của Việt Nam chỉ là một vị thủ lĩnh mang tính chất danh nghĩa, không có quyền cai
trị đất đai ngoài vùng của mình. Bởi vậy, đất nước không phải của vua hay của bất
cứ dòng họ nào mà là của chính người dân” [33, tr.97].
Trong thời hiện đại, để được biết đến rộng rãi trên trường quốc tế với những
hình ảnh tích cực, một điều mà quốc gia nào cũng quan tâm là tạo dựng và quảng bá
xúc tiến, giới thiệu hình ảnh đất nước ra nước ngoài. Đây là một nỗ lực định vị
điểm đến cho quốc gia.
Trong thời đại ngày nay, việc tạo dựng hình ảnh quốc gia được các nước cân
nhắc kỹ lưỡng và đầu tư triển khai với sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông tiên
tiến nhất.

9


Đối với Việt Nam, một hình ảnh đất nước yêu chuộng hòa bình và vô cùng
xinh đẹp đang được thế giới nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
(NVNONN) nói riêng biết đến một cách rộng rãi hơn chính nhờ những hoạt động
truyền thông đầy mới mẻ, sáng tạo, ý nghĩa trên truyền hình.
Trong lĩnh vực du lịch, Việt Nam được biết đến như một điểm đến hấp dẫn với
hình ảnh đất nước tuyệt đẹp qua phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, nhiều di sản thiên
nhiên và văn hoá đặc sắc, người dân thân thiện hiếu khách, ẩm thực phong phú đa
dạng... Những nỗ lực định vị điểm đến của du lịch Việt Nam đựơc thể hiện thông
qua các “Chương trình hành động du lịch” cấp quốc gia với những khẩu hiệu rõ
ràng, những năm đầu thế kỷ XXI là “Việt Nam - điểm đến của thiên niên kỷ mới”;
sau đó khẩu hiệu đã được cụ thể hơn nhằm làm khác biệt sản phẩm du lịch Việt
Nam với các nước khác trong khu vực và trên thế giới “Việt Nam - điểm đến thân

chính là ở chỗ nó là một động vật có văn hóa”.
Trong quá khứ, hình ảnh con người Việt Nam là hình ảnh anh hùng bất khuất
trong thời chiến tranh.Trong thời kỳ hội nhập, hình ảnh con người Việt Nam là hình
ảnh người Việt Nam hiện đại, năng động, giàu sức trẻ và trí tuệ.
Những tính cách truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, coi trọng
tình nghĩa, cần cù, hiếu học đã tạo nên nét đặc trưng của con người ViệtNam.
Như vậy, hình ảnh con người Việt Nam, hiểu một cách tương đối là hình ảnh
về con người Việt Nam cần cù, thông minh và sáng tạo trong lao động; các danh
nhân văn hóa – lịch sử; các nhà khoa học, văn nghệ sĩ tiêu biểu; hay được thể hiện
qua những tấm gương dựng nước và giữ nước, những tấm gương lao động thời kỳ
đổi mới, những gương mặt trong cuộc sống sinh hoạt đời thường.
1.1.1.3. Hình ảnh văn hóa Việt Nam
Trong các tác phẩm kinh điển, chỉ có vài lần Mác và Ăng-ghen trực tiếp nhắc
đến thuật ngữ văn hóa. Cũng dễ hiểu bởi ở thời các ông, văn hóa học chưa xuất
hiện, còn khái niệm văn hóa thì vẫn chưa hoàn toàn tách khỏi văn minh và thuật
ngữ culture đôi khi vẫn được hiểu là trồng trọt, gieo trồng.
Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về dân tộc học, nói chung được hình
thành từ tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng một số năng
lực và thói quen khác mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội.
Đến đây, cần dừng lại để xác định rõ nội hàm của khái niệm “văn hóa”. Định
nghĩa văn hóa thì có rất nhiều, song tựu trung lại thì văn hóa có hai nghĩa chính.

11


Trong công trình “Được sáng tạo bởi nhân loại”, Iu.V.Brômlây và R.C.Pađôlưi
đã khẳng định: Văn hóa trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là tất cả những
cái đã và đang được tạo ra bởi nhân loại; hoặc trong tác phẩm Tìm về bản sắc văn
hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá

xì gà, là bãi biển trong xanh, là mía đường; nói đến nước Nga, đó là điện Kremlin,
là rượu Vottka, âm nhạc Tchaikovsky; nói đến Tây Ban Nha là những trận đấu bò tót
nẩy lửa. Những hình ảnh về một xứ sở nào đó sẽ được người dân các xứ sở khác
đón nhận, ghi nhận và lưu giữ để trở thành biểu tượng. Khi có một sự tác động nhất
định, biểu tượng đó sẽ hiện diện trong đầu óc con người theo quy luật liên tưởng.
Đối với Việt Nam, hình ảnh văn hóa Việt thể hiện qua những giá trị văn hoá
của ngàn năm văn hiến; là truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước vẻ vang,
bất khuất của dân tộc, là phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, thơ mộng; là lòng nhân hậu
và mến khách của người dân Việt Nam; là sự tinh xảo của các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ; các di sản đựơc thế giới công nhận, những cô gái duyên dáng trong tà áo
dài dân tộc, chiếc nón bài thơ và nụ cười thân thiện trên môi với món phở cuốn
nổi tiếng;…
Tác giả G.V Cu-do-nhet-xốp trong cuốn “Báo chí truyền hình – Tập 1”
cũng đã khẳng định: “Ở mức độ khác nhau, mọi chương trình truyền hình đều đưa
người xem tiếp cận với văn hóa” [1, tr.76].
Như vậy, nói đến hình ảnh văn hóa là nói đến những giá trị văn hóa ngàn năm
như phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, ẩm thực, du lịch, làng
nghề, trò chơi dân gian, dân ca dân vũ,… của nhân dân Việt Nam, trong đó nhấn
mạnh đề cao đến vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Tóm lại, trong luận văn này, tác giả tiếp cận nghiên cứu về hình ảnh đất nước,
con người, văn hóa Việt là tiếp cận đến những con người Việt Nam của quá khứ và
hiện đại; đến lối sống của con người Việt Nam hàng ngày như ăn, mặc, ở, đi lại,..;
đến đất nước Việt Nam đang đổi thay từng ngày về kinh tế - chính trị - xã hội – giáo
dục – khoa học; đến văn hóa Việt Nam thể hiện qua các phong tục tập quán, tôn
giáo, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, dân ca,….mang đậm bản
sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, công tác truyền thông về
hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt ngày nay không chỉ là vì diện mạo của
đất nước Việt Nam mà còn là một trong những động lực quan trọng dẫn dắt sự phát
triển của nền kinh tế, thương mại, du lịch,…


1.1.3. Truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt
Truyền thông là thuật ngữ rất phổ biến trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển với vai trò của thông tin có ý nghĩa to lớn trong một xã hội mở.
Trong bài viết Bàn về cách tiếp cận liên ngành báo chí và thông tin đối ngoại của
tác giả Lê Thanh Bình – Thái Đức Khải ( Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 (84),
3/2011; tr 245-259) khái quát rằng: Truyền thông là một quá trình tập hợp, lựa chọn

15


và chia sẻ những biểu tượng nhằm giúp người tiếp nhận giải thích từ nhận thức của
riêng họ một ý nghĩ tương tự như trong ý nghĩ của nhà truyền thông”.
Nếu hình ảnh đất nước Việt Nam là hình ảnh quốc gia thể hiện qua các lĩnh
vực như chính sách kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, du lịch, bản sắc văn hoá và
tính cách con người Việt Nam thì truyền thông về hình ảnh đất nước Việt Nam
nghĩa là quảng bá về đất nước Việt Nam đang ngày càng phát triển về kinh tế, ổn
định về mặt chính trị - xã hội, giáo dục được nâng cao, quan tâm phát triển du lịch,
bản sắc văn hóa được coi trọng và giữ gìn, con người thân thiện và mến khách.
Nếu hình ảnh con người Việt Nam là hình ảnh về con người Việt Nam cần cù,
thông minh và sáng tạo trong lao động; các danh nhân văn hóa – lịch sử; các nhà
khoa học, văn nghệ sĩ tiêu biểu; hay được thể hiện qua những tấm gương dựng nước
và giữ nước, những tấm gương lao động thời kỳ đổi mới, những gương mặt trong
cuộc sống sinh hoạt đời thường; thì truyền thông về hình ảnh con người Việt Nam là
giới thiệu đến vẻ đẹp giản dị, lòng hiếu khách, sự cần cù, thông minh, sáng tạo của
con người Việt Nam trong lao động hàng ngày; đồng thời giới thiệu về những tấm
gương danh nhân văn hóa – lịch sử, nhà khoa học, anh hùng lao động thời kỳ đổi
mới, gương mặt văn - nghệ sĩ; hay đơn giản là thói quen của con người trong nếp
ăn, nếp ở, cách suy nghĩ, ứng xử và mối quan hệ trong xã hội.
Nếu hình ảnh văn hóa Việt Nam là những giá trị văn hóa ngàn năm như phong
tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, ẩm thực, du lịch, làng nghề, trò chơi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status