SKKN: DẠY HỌC TÍCH CỰC GẮN KIẾN THỨC SGK VỚI THỰC TIỄN
THÔNG QUA HỆ THỐNG CÂU HỎI LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP THỰC TIỄN
MÔN HOÁ HỌC PHẦN PHI KIM - NHÓM VIIA - HALOGEN
PHẦN I - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục môn hoá học trường THPT cần cung cấp cho học sinh hệ
thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống.
Nội dung chủ yếu bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những ứng dụng
và tác hại của những chất trong đời sống, sản xuất và môi trường. Những nội dung
này góp phần giúp học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể tiếp
tục học lên đồng thời có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá học
trong đời sống và sản xuất, mặt khác góp phần phát triển tư duy sáng tạo, năng lực
giải quyết vấn đề cho học sinh.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục thì định hướng xây dựng chương trình hoá
học THPT theo hướng:
- Nội dung hoá học gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội, cộng đồng.
- Nội dung hoá học gắn liền với thực hành, thí nghiệm.
- Bài tập hoá học phải có nội dung thiết thực.
Bài tập là mục đích, là nội dung và cũng là phương pháp dạy học hiệu quả.
Nó cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và còn mang lại
niềm vui của sự phát hiện, của sự tìm ra đáp số.
Trong chương trình sách giáo khoa hoá học THPT ở Việt Nam, số lượng các
bài tập thực tiễn còn ít (khoảng 17,5%). Vì vậy qua thực tế giảng dạy, tôi thấy học
sinh có thể giải thành thạo các bài tập hoá học định tính, định lượng về cấu tạo chất,
về sự biến đổi các chất rất phức tạp nhưng khi cần phải dùng kiến thức hoá học để
giải quyết một tình huống cụ thể trong thực tiễn thì lại rất lúng túng. Ví dụ như bài
tập“ Vì sao có câu nói: sau mỗi trận mưa, lúa như được bón thêm một lần đạm.”.
Chính vì những lí do trên tôi đã xây dựng và lựa chọn hệ thống câu hỏi lý thuyết và
bài tập thực tiễn môn hoá học trung học phổ thông (phần phi kim - Nhóm VIIA -
Halogen) cho đối tượng học sinh lớp 10 thực hiện trong giờ ngoại khoá.
pháp dạy học. Phương pháp này được coi là một trong những phương pháp quan
trọng nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy hoá học.
Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung của việc dạy và học hoá học. Bài tập
cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và còn mang lại niềm
vui sướng của sự phát hiện, của sự tìm ra đáp số.
Bài tập hoá học có chức năng dạy học, chức năng giáo dục, chức năng kiểm
tra, chức năng phát triển…..Những chức năng này đều hướng tới việc thực hiện các
mục đích dạy học. Tuy nhiên trong thực tế các chức năng này không tách rời với
nhau.
Giảng dạy làm sao để học sinh có thể giải quyết các bài tập? Học sinh phải
học tập như thế nào để giải quyết được các bài tập? Bài tập hoá học là phương tiện
3
cơ bản để học sinh tập vận dụng các kiến thức hoá học vào thực tế đời sống, sản
xuất và nghiên cứu khoa học.
Thông qua bài tập hoá học, học sinh thêm hiểu kiến thức đã học; hình thành,
phát triển và hoàn thiên các kĩ năng, năng lực của bản thân; học sinh được bồi
dưỡng thêm về tình cảm, thái độ.
Bài tập hoá học thực tiễn cũng có đầy đủ các vai trò, chức năng của một bài tập hoá
học.
3.1. Về kiến thức.
- Thông qua giải bài tập thực tiễn, học sinh hiểu kĩ hơn các khái niệm, tính chất hoá
học; củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hoá kiến thức; mở rộng
sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khối lượng kiến
thức của học sinh.
- Giúp học sinh thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống, ngành sản xuất hoá
học, những vấn đề mang tính thời sự trong nước và quốc tế.
- Giúp học sinh bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải và cải tạo thực tiễn
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.
3.2. Về kĩ năng.
-Rèn luyện và phát triển cho học sinh năng lực nhận thức, năng lực thích ứng, năng
Obitan nguyên tử Clo Mô hình phân tử Clo Khí Clo
1.Tại sao trong công nghiệp người ta dùng phương pháp điện phân dung dịch
natriclorua bão hoà chứ không dùng phản ứng oxi hoá khử giữa các chất để điều
chế clo?
2. Để diệt chuột ở ngoài đồng người ta có thể cho khí clo qua những ống mềm vào hang
chuột. Hai tính chất nào của clo cho phép sử dụng clo như vậy?
3. Thổi khí clo đi qua dung dịch natricacbonat người ta thấy có khí cacbonđioxit bay ra.
Hãy giải thích hiện tượng và viết phương trình phản ứng.
5
4. Trong thí nghiệm ở hình bên người ta dẫn khí clo mới điều chế từ manganđioxit
rắn và dung dịch axit clohiđric đậm đặc vào
ống hình trụ A có đặt một miếng giấy màu.
Nếu đóng khoá K thì miếng giấy màu không
mất màu. Nếu mở khoá K thì giấy mất màu.
Giải thích hiện tượng.
5. Một lượng nhỏ khí clo có thể làm nhiễm
bẩn không khí trong phòng thí nghiệm. Để
loại bỏ lượng khí clo đó có thể dùng khí amôniac. Hãy viết các phương trình phản
ứng xảy ra.
6. Tại sao nước clo có tính tẩy màu, sát trùng và khi để lâu lại mất đi những tính
chất này.
7. Trong các nhà máy cung cấp nước sinh hoạt thì khâu cuối cùng của việc xử lí
nước là khử trùng nước. Một trong các phương pháp khử trùng nước đang được
dùng phổ biến ở nước ta là dùng clo. Lượng clo được bơm vào nước trong bể tiếp
xúc theo tỉ lệ 5 g/m
3
. Nếu với dân số Hà Nội là 3 triệu, mỗi người dùng 200 lít
nước/ ngày, thì các nhà máy cung cấp nước sinh hoạt cần dùng bao nhiêu kg clo
mỗi ngày cho việc xử lí nước?
8. Dùng clo để khử trùng nước sinh hoạt là một phương pháp rẻ tiền và dễ sử dụng.
Canxi hipoclorit phản ứng với nước tạo axit hipoclorơ là một tác nhân hoạt động. Ở
pH bằng 7,0 có 27,5% axit ion hoá thành ion hipoclorit không hoạt động. Phần axit
hipoclorơ còn lại (72,5%) chuyển thành clo dùng làm sạch hồ bơi.Trong hồ bơi,
mức clo được duy trì ở 3ppm hay 4,23.10
-5
M. Cần bao nhiêu Canxi hipoclorit để
thêm vào hồ chứa 80.000 lít nước để clo đạt tiêu chuẩn vệ sinh là 3ppm ở pH bằng
7,0?
12. Nếu mở nút một bình đựng đầy hidroclorua thì thấy khói xuất hiện ở miệng
bình. Giải thích hiện tượng đó.
13. Hình dưới đây mô tả hình ảnh quan sát được khi dẫn khí hiđroclorua đi từ từ
qua bình lọc khí chứa nước (a) và bình chứa axit sunfuric đặc (b). Hãy giải thích vì
sao có sự khác nhau.
b
a
7
14. Hồi đầu thế kỉ 19 người ta sản xuất natrisunfat bằng cách cho axit sunfuric đặc
tác dụng với muối ăn.
Khi đó, xung quanh các nhà máy sản
xuất bằng cách này, dụng cụ của thợ
thủ công rất nhanh hỏng và cây cối
bị chết rất nhiều. Người ta đã cố gắng
cho khí thải thoát ra bằng những ống khói cao tới 300m nhưng tác hại của khí thải
vẫn tiếp diễn , đặc biệt là khi khí hậu ẩm. Hãy giải thích những hiện tượng trên.
15. Công suất của một tháp tổng hợp hiđroclorua là 25,00 tấn hiđroclorua trong một
ngày đêm.
a.Tính khối lượng clo và hidro cần dùng để thu được khối lượng hiđroclorua nói
trên biết rằng khối lượng hidro cần dùng lớn hơn 10% so với khối lượng tính theo lí
2
; 1,224% CaSO
4
; 0,010% CaCl
2
; 0,951% H
2
O.
8
a. Viết các phương trình phản ứng xảy ra khi dùng hỗn hợp A gồm Na
2
CO
3
,
NaOH, BaCl
2
để loại bỏ tạp chất ở mẫu muối trên.
b. Tính lượng khối lượng hỗn hợp A cần dùng để loại bỏ hết các tạp chất có trong 3
tấn muối có thành phần như trên .
c.Tính thành phần phần trăm các chất trong hỗn hợp A.
Giả sử các phản ứng xảy ra hoàn toàn.
18. Trong phòng thí nghiệm có các hoá chất natriclorua, manganđioxit,
natrihidroxit, axit sunfuric đặc ta có thể điều chế được nước Javen hay không? Viết
các phương trình phản ứng.
19. Để điều chế kaliclorat với giá thành hạ người
ta thường làm như sau: Cho khí clo đi qua nước vôi
đun nóng, lấy dung dịch thu được trộn với kaliclorua và làm lạnh. Khi đó kaliclorat
sẽ kết tinh. Hãy viết phương trình các phản ứng xảy ra và giải thích vì sao
kaliclorat kết tinh.
điện phân có chứa một lượng lớn hơi nước gây ăn mòn thiết bị, không thể vận
chuyển và sử dụng được. Vì vậy phải tiến hành sấy khô khí clo ẩm rồi hoá lỏng vận
chuyển tới nơi tiêu thụ. Hãy lựa chọn trong các hoá chất sau, chất nào có thể dùng
để sấy khô khí clo ẩm? Giải thích?
a. CaO rắn. b. H
2
SO
4
đặc c.NaOH rắn
Brom
Obitan nguyên tử Brom Hơi Brom Dung dịch
23. Cho khí clo đi qua dung dịch natribromua ta thấy dung dịch có màu vàng. Tiếp
tục cho khí clo đi qua ta thấy dung dịch mất màu. Lấy vài giọt dung dịch sau thí
nghiệm nhỏ lên giấy quỳ tím thì giấy quỳ hoá đỏ. Hãy giải thích hiện tượng và viết
các phương trình phản ứng.
24. Một ống nghiệm hình trụ có một ít hơi brom. Muốn hơi thoát ra nhanh cần đặt
ống đứng thẳng hay úp ngược ống treo trên giá? Vì sao?
25. Để điều chế axit clohiđric người ta cho natriclorua tác dụng với axit sunfuric
đặc. Tại sao không dùng phương pháp tương tự để điều chế axit bromhiđric? Người
ta điều chế hiđrobromua bằng cách nào?
26. Brom là nguyên liệu điều chế các hợp chất chứa brom trong y dược, nhiếp ảnh,
chất nhuộm, chất chống nổ cho động cơ đốt trong, thuốc trừ sâu…Để sản xuất
brom từ nguồn nước biển có hàm lượng 84,975g NaBr/m
3
nước biển người ta dùng
phương pháp thổi khí clo vào nước biển. Lượng khí clo cần dùng phải nhiều hơn
10% so với lí thuyết.
10
a.Viết phương trình phản ứng xảy ra?
2
→ N
2
+ NH
4
Br. Các chất khí đo ở đktc.
29. Bình A chứa đầy khí hiđrobromua. Bình B chỉ chứa không khí. Để chuyển
hiđrobromua từ bình A sang bình B có thể làm như thế nào? Vì sao lại có thể làm
như vậy?
30. Hãy giải thích vì sao dung dịch axit bromhiđric để lâu trong không khí lại có
màu vàng nâu?
31. Cho khí clo sục qua dung dịch kali iôtua một thời gian dài sau đó người ta dùng
hồ tinh bột để xác nhận sự có mặt của iot tự do nhưng không thấy màu xanh. Hãy
giải thích hiện tượng trên và viết phương trình phản ứng.
Iod
11
Obitan nguyên tử Iot Hơi Iot Hơi Iot ngưng tụ thành tinh thể
32. Iôt được bán trên thị trường thường có lẫn tạp chất là clo, brom, nước. Để tinh chế
loại iot đó người ta nghiền nó với kali iôtua và vôi sống rồi nung hỗn hợp trong cốc
đậy bằng một bình có chứa nước lạnh. Khi đó iot sẽ bám vào đáy bình. Hãy giải thích
cách làm nói trên. Viết các phương trình phản ứng.
33. Khí hidro thu được bằng phương pháp điện phân dung dịch natriclorua đôi khi
bị lẫn tạp chất là khí clo. Để kiểm tra xem khí hidro có lẫn khí clo hay không
người ta thổi khí đó qua một dung dịch có chứa kali iôtua và hồ tinh bột. Hãy giải
thích vì sao người ta lại làm như vậy?
34. Kali iotua trộn trong muối ăn để làm muối iot là một chất rất dễ bị oxi hoá
thành I
2
rồi bay hơi mất nhất là khi có nước hoặc các chất oxi hoá có trong muối
a.Viết các phương trình phản ứng
b.Tính khối lượng canxi florua cần dùng để điều chế 2,5kg dung dịch axit flohiđric
40%.
38. Trước đây, trong các xưởng chế tạo axit flohiđric,
hầu như các bóng đèn đều biến thành bóng đèn màu
trắng sữa, các cửa sổ kính trong dần biến thành kính
mờ. Em hãy giải thích hiện tượng này và viết phương
trình phản ứng nếu có.
39. Để răng chắc khoẻ và giảm bệnh sâu răng thì hàm lượng flo trong nước cần đạt
là 1,0 – 1,5 mg/l. Hãy tính lượng natriflorua cần phải pha vào trong nước có hàm
lượng flo từ 0,5mg/l lên đến 1mg/l để cung cấp cho 3 triệu người dân Hà Nội, mỗi
người dùng 200 lít nước/ngày. Giả sử natriflorua không bị thất thoát trong quá trình
pha trộn và cung cấp đến người tiêu dùng.
13
Khoáng vật Florit
PHÂ
̀
N III - KẾT LUẬN VA
̀
KHUYÊ
́
N NGHI
̣
Qua quá trình đưa bài tập thực tiễn vào giảng dạy, tôi nhận thấy các em học
sinh rất có hứng thú và hăng hái trong thảo luận nhóm, say mê tìm hiểu tri thức, mạnh
dạn trong việc thể hiện quan điểm, kiến thức của mình trong buổi thảo luận nhóm,
trong khi làm việc hợp tác, sáng tạo trong học tập. Các em được củng cố kiến thức,
hình thành và rèn luyện tất cả các năng lực nhận thức như làm việc độc lập, kĩ năng
làm việc hợp tác theo nhóm, học sinh học tập một cách tự chủ, tích cực. Tư duy và