Xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - Pdf 60

1

1

LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Quý Thầy/Cô tại Trường
Đại học Thương mại, và Quý Thầy/Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học khóa
2017-2019.
Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học - PGS.TS. Lê Thị
Kim Nhung. Cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong quá
trình nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn các anh chị đồng nghiệp công tác tại Công ty Quản lý
nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Quân đội đã giúp đỡ tôi trong quá trình
thu thập dữ liệu, cung cấp tài liệu cần thiết cho luận văn, cũng như có những ý kiến
đóng góp quý báu trong quá trình nghiên cứu.
Quá trình thực hiện luận văn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự
góp ý của Quý Thầy/Cô để bản thân có thể khắc phục những hạn chế và hoàn chỉnh
luận văn, đóng góp tích cực cho ngành.
Trân trọng cảm ơn!

1


2

2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


: Chi nhánh Ngân hàng TMCP Quân đội
: Công ty mua bán nợ thuộc Bộ Tài Chính
: Doanh nghiệp nhà nước
: Dự phòng rủi ro
: Hội sở chính NHTMCP Quân đội
: Hội đồng quản trị
: Khách hàng cá nhân
: Khách hàng doanh nghiệp
: Kết quả hoạt động kinh doanh
: Ngân hàng TMCP Quân đội
: Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản NH Quân đội
: Ngân hàng Nhà nước
: Ngân hàng thương mại
: Nợ quá hạn
: Tổ chức tín dụng
: Tài sản đảm bảo
: Thương mại cổ phẩn
: Trung tâm Quản lý thu hồi nợ
: Xử lý nợ


3

3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG BIỂU:

SƠ ĐỒ:


pháp, kiến nghị để giải toả những khó khăn, tạo đà phát triển cho công ty trong thời
gian tới, và những kinh nghiệm tổ chức công ty quản lý nợ và khai thác tài sản tại

4


5
một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ tính chất đặc biệt quan trọng của công tác xử lí nợ xấu trong hoạt
động của các ngân hàng thương mại nói chung nhằm đảm bảo hoạt động công khai,
minh bạch, hiệu quả trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, thời gian qua đã có một số
tác giả tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến nợ xấu,
nguyên nhân gây ra nợ xấu đồng thời đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng
cao chất lượng tín dụng NHTM hay một số giải pháp nâng cao khả năng thu nợ tại
NHTM. Cụ thể:
Nguyễn Ngọc Vinh (2012), “Vai trò của thẩm định giá trong hạn chế phát sinh
nợ xấu của Ngân hàng”, Tạp chí Ngân hàng, số 22, tr.21-24. Theo nghiên cứu của
tác giả, nợ xấu của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với những bất cập trong
công tác thẩm định hiện nay. Từ những phân tích và đánh giá trên, tác giả đề xuất
một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ trong công tác thẩm định
giá hướng tới việc hạn chế phát sinh nợ xấu, góp phần ổn định hoạt động tín dụng
trong hệ thống ngân hàng;
Nguyễn Thị Mùi (2012),“Thành lập AMC có phải là giải pháp tối ưu”, Tạp
chí Thị trường tài chính tiền tệ, số 15 (360), tr.20. Theo quan điểm của tác giả, hoạt
động xử lý nợ qua Công ty mua bán nợ trực thuộc NHNN hay qua Công ty mua bán
nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) của Bộ tài chính không phải là
giải pháp tối ưu cho các NHTM hiện nay. Tác giả cho rằng xử lý nợ xấu không chỉ
là trách nhiệm đơn lẻ của các NH, doanh nghiệp mà cần có sự tham gia của Nhà
nước. Để xử lý nợ xấu của NHTM hiện nay cần phải huy động sự tham gia của

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: hoạt động kinh doanh, trong đó đặc biệt
nghiên cứu hoạt động xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân
hàng thương mại cổ phần Quân đội trong vòng 3 năm từ năm 2016 đến năm 2018.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp so sánh,
phân tích, tổng hợp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó, luận văn sử dụng
phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn bao gồm: phân tích,
thống kê, đối chiếu, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, quy nạp. Trong đó phân tích, thống

6


7
kê, so sánh và chứng minh được xác định là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu
của luận văn:
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận văn để
thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp thống kê được sử dụng ở cả ba chương của luận văn để tổng hợp,
xử lí các tài liệu, số liệu…mà tác giả thu thập được trong quá trình nghiên cứu, phục vụ
cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp so sánh được sử dụng ở cả ba (03) chương của luận văn để đối
chiếu tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty qua các năm.
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm tại
chương một, các nhận định về thực trạng công tác xử lí nợ xấu tại Công ty Quản lí nợ
và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội tại chương hai và yêu
cầu, đề xuất các phương án xây dựng, hoàn thiện và tăng cường hiệu quả của công tác
xử lí nợ xấu của Công ty tại chương ba của luận văn.
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra những

nguy cơ rủi ro lớn. Khi đó, để củng cố lại hệ thống ngân hàng, các công ty quản lý
nợ và khai thác tài sản sẽ mua, tiếp quản các khoản nợ khó đòi đó và tìm cách xử lý
chúng một cách “thông minh” và hiệu quả nhất. Hoạt động của công ty này sẽ luôn
hướng tới việc làm sao để tối đa hoá được giá trị của các khoản nợ tồn đọng được
giao và giảm thiểu chi phí cho quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng và các doanh
nghiệp. Khác với các loại hình công ty khác, ở hầu hết các nước, công ty quản lý nợ
và khai thác tài sản không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Hơn nữa, đối tượng của
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là các khoản nợ khó đòi tồn đọng với ít tài
sản đảm bảo có giá trị, thậm chí có giá trị bằng 0 hoặc tài sản không đủ giấy tờ,
không còn đối tượng để thu nợ... nên hầu như công ty cũng không thể tạo ra lợi
nhuận được.

8


9
Chức năng: Như khái niệm đã trình bày rõ, hai chức năng cơ bản nhất của
công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là xử lý nợ tồn đọng khó đòi và tối đa hoá
khả năng thu hồi các khoản nợ đó.
Việc xử lý nợ khó đòi từ hệ thống ngân hàng được thực hiện theo những
phương thức và các cách khác nhau, tuỳ thuộc vào “tình trạng” của khoản nợ.
Vì nợ phải xử lý là những khoản nợ tồn đọng khó đòi, với rất nhiều khó khăn
và vướng mắc trong việc thu hồi nợ từ khách nợ hay từ việc xử lý tài sản đảm bảo,
nên khả năng thu hồi toàn bộ giá trị món vay gần như là không thể. Để có thể tối đa
hóa được giá trị thu hồi của khoản vay và các nguồn lực từ khoản vay, công ty quản
lý nợ và khai thác tài sản phải rất linh hoạt và chủ động trong việc xử lý số nợ tồn
đọng. Một số biện pháp công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thường sử dụng là:
xử lý tài sản thế chấp hay cho thuê, sửa chữa, đầu tư để tăng giá trị tài sản trước khi
đem bán, chuyển nợ thành vốn cổ phần...
Quyền lực hoạt động: Để giải quyết các khoản nợ tồn đọng, công ty quản lý

Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ra đời trước tiên nhằm phục vụ nhu
cầu quản lý nợ và khai thác tài sản của các NHTM, làm lành mạnh và minh bạch
tình hình tài chính, đảm bảo kết quả kinh doanh an toàn và bền vững của Ngân
hàng. Công ty có đầy đủ chức năng của một công ty xử lý nợ bao gồm: tiếp nhận,
quản lý các khoản nợ tồn đọng và tài sản đảm bảo nợ vay liên quan đến các khoản
nợ để xử lý, thu hồi nhanh nhất; Hoàn thiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ
theo quy định của pháp luật trình các cơ quan có thẩm quyền cho phép Ngân hàng
xóa nợ cho khách hàng; Chủ động bán các tài sản đảm bảo nợ vay thuộc quyền định
đoạt của Ngân hàng Thương mại theo giá thị trường; Cơ cấu lại nợ tồn đọng, xử lý
tài sản đảm bảo nợ vay…Nội dung hoạt động của Công ty được quy định cụ thể tại
Điều 10 Quyết định 1390/2001/QĐ – NHNN ngày 07 tháng 11 năm 2001 của
Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của
công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại. Theo đó,
các nguồn nợ thuộc nội dung xử lí của MBAMC được chuyển giao từ MB; cùng với
các khoản nợ khác do MBAMC tự doanh từ các tổ chức tín dụng khác theo quy
định của pháp luật.

10


11
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là một định chế đặc biệt và công cụ
hữu ích để hỗ trợ và phục hồi nền kinh tế do bị ảnh hưởng của nợ và tái thiết lại hệ
thống ngân hàng.
1.1.3. Mô hình Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
Có 2 mô hình Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản:
- Công ty do nhà nước góp vốn
- Công ty do tư nhân góp vốn : một số thì hoạt động độc lập, một số khác là
công ty con của các ngân hàng hoặc đơn vị hoạt động trực thuộc ngân hàng.
Ưu nhược điểm của Công ty do nhà nước góp vốn

lý nợ và khai thác tài sản của mình ở các mức giá giả tạo cao hơn. Hậu quả là, do
giá chuyển đổi cao sẽ ít hoặc không phản ánh các khoản thua lỗ của ngân hàng.
1.2. Xử lý nợ xấu qua Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của Ngân
hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm nợ xấu
1.2.1.1. Khái niệm
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi
ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra
khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản
nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ
của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn),
nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ xấu theo định nghĩa
của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và
(ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại.
Qua định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu
là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ
như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng.
1.2.1.2. Phân loại nợ xấu
Nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi.
a. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.

12


13
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao



14
hàng ít bị biến động, do vậy mà việc dự báo về tình hình tài chính, kinh doanh của
khách hàng cũng thuận lợi hơn. Ngược lại, chính sách kinh tế vĩ mô không ổn định
thì ngân hàng rất khó có thể phân tích, dự báo chính xác hoạt động kinh doanh, tài
chính của khách hàng trong tương lai cũng như khó có thể lường trước được những
rủi ro khách hàng phải đối mặt, do vậy mà ngân hàng không thể đánh giá đúng khả
năng trả năng trả nợ của khách hàng trong tương lai, khi đó chất lượng tín dụng của
ngân hàng không đạt yêu cầu.
Chính sách của chính phủ ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp,
qua đó tác động đến hoạt động của ngân hàng trên các phương diện sau:
Chính sách thuế: chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của doanh
nghiệp. Khi chính phủ có những thay đổi về chính sách thuế, hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp sẽ bị tác động và có thể ảnh hưởng đến nguồn thu của doanh
nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến nguồn trả nợ ngân hàng.
Chính sách xuất - nhập khẩu vật tư thiết bị: khi có bất kỳ sự thay đổi nào về
chính sách xuất nhập khẩu vật tư thiết bị sẽ ảnh hưởng tức thời và trực tiếp đến chi
phí và doanh thu của doanh nghiệp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động
sản xuất kinh doanh và làm giảm doanh thu, từ đó gây khó khăn cho việc trả nợ ngân
hàng và vì vậy rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên.
Chính sách chung về các yếu tố đầu vào: chính sách này cũng gây tác động
trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp, có thể đẩy doanh nghiệp vào khó khăn và
dẫn đến mất khả năng trả nợ ngân hàng.
- Môi trường kinh tế xã hội.
Môi trường kinh tế xã hội trong nước biến động chịu ảnh hưởng của những
biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới mức độ rủi ro trong kinh
doanh Ngân hàng.
Sự thay đổi các mối quan hệ quốc tế, các quan hệ ngoại giao của chính phủ

thường là tỷ lệ nợ xấu cao, tồn đọng lâu trong các ngân hàng. Ở một số nước hệ
thống pháp luật vừa thiếu, vừa yếu chính là rào cản lớn nhất đối với ngân hàng
trong việc xử lý nợ tồn đọng và làm gia tăng nợ xấu.
- Thể chế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ
thống các thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao
dịch, trao đổi trên thị trường.

15


16
Thể chế thị trường lạc hậu, hệ thống pháp luật hay thay đổi, kém minh bạch,
hiệu lực thực thi yếu cũng có thể làm cho hệ thống ngân hàng trở nên kém lành
mạnh và gia tăng tỷ lệ nợ xấu.
Xây dựng thể chế thị trường hoàn chỉnh, như việc tăng cường tính công khai
về thông tin, đảm bảo môi trường hoạt động an toàn, hiệu quả giám sát tài chính,
hoàn thiện hệ thống pháp luật là việc làm cần thiết, phải tiến hành song song với
quá trình tự do hoá và hội nhập quốc tế về tài chính tiền tệ nhằm tránh những thất
bại của thị trường, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả. Sự chậm trễ ở các nước
Đông Á trong việc củng cố thể chế thị trường là một bài học quý giá cho Việt Nam.
Thứ ba, nhóm nhân tố phát sinh từ phía khách hàng vay.
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu
kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì,… là các nguyên
nhân gây rủi ro tín dụng.
- Khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ ngân hàng.
Khách hàng yếu kém trong quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính: Trường hợp
người vay có trình độ yếu kém về quản lý, không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có
khả năng tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích
ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh sẽ dẫn tới vốn vay không được sử
dụng hiệu quả. Ngoài ra, việc yếu kém trong quản lý tài chính có thể dẫn tới trường

khi ra quyết định cho vay, đầu tư sẽ chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, các tiêu chuẩn để phục
vụ cho việc ra quyết định, việc kiểm tra, giám sát cũng được đặt ở mức cao hơn. Các
NHTM phải biết lựa sức mình để xác định lợi nhuận hợp lý.
Thứ hai, nguyên nhân quản trị, điều hành hoạt động tín dụng.
- Sự quản lý yếu kém trong hoạt động ngân hàng thể hiện ở một số nội dung
như: chậm điều chỉnh, ban hành mới các cơ chế, chính sách phù hợp; chỉ đạo nghiệp
vụ không sâu sát, kịp thời; không có các chính sách phòng ngừa rủi ro hoặc có
nhưng không hoàn thiện...
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn đi đôi với rủi ro có thể xảy ra. Các
ngân hàng thường đặt mục tiêu lợi nhuận lên quá cao, gia tăng dư nợ tín dụng trong
khi chưa hoàn thiện được các chính sách tín dụng hoặc chính sách tín dụng không
phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ là nguyên nhân dẫn đến phát sinh nợ xấu. Nợ
xấu có thể phát sinh từ tất cả các khâu trong quá trình cấp tín dụng của NHTM bao
gồm: giai đoạn trước khi cho vay, giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản

17


18
vay của khách hàng.
- Cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro không hợp lý.
Nguồn dự phòng rủi ro được trích lập hàng năm của ngân hàng được xác định
là một nguồn quan trọng để bù đắp những mất mát khi không thu hồi được nợ. Quỹ
này được dùng để xử lý các khoản nợ xấu theo danh mục cụ thể khi khoản nợ vay
đó đáp ứng những điều kiện theo quy định của từng quốc gia. Mỗi quốc gia có đặc
thù riêng nên cơ chế trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của từng quốc gia cũng có
sự khác biệt về nguồn trích lập, tỷ lệ trích lập và danh mục trích lập dự phòng rủi ro.
Sự bất hợp lý trong trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng là một
trong các nguyên nhân làm cho nợ xấu không được xử lý dứt điểm. Khối lượng nợ
xấu ngày càng chồng chất khiến tình hình tài chính của ngân hàng ngày càng xấu,

động của các bộ phận tác nghiệp. Ở mỗi trình độ công nghệ khác nhau đều phải đòi
hỏi một cơ chế quản lý khác nhau.
Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động tín dụng.
- Chất lượng cán bộ tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc sàng lọc được
các khách hàng tốt, dự án tốt. Cán bộ tín dụng phải tiếp xúc với nhiều khách hàng ở
nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ để đánh giá tốt khách
hàng họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môi trường
mà khách hàng sống. Cán bộ tín dụng phải có khả năng phân tích, dự báo các vấn
đề liên quan đến khách hàng vay. Như vậy, cán bộ tín dụng phải được đào tạo và tự
đào tạo kỹ lưỡng và toàn diện. Khi cán bộ tín dụng cho vay đối với khách hàng mà
họ chưa đủ trình độ để hiểu kỹ lưỡng rủi ro tín dụng luôn rình rập họ. Nguyên nhân
rủi ro từ sự yếu kém của đội ngũ nhân viên ngân hàng có thể từ việc:
Không phân tích đầy đủ khả năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp vai trò của người lãnh đạo rất quan trọng, sự thành bại trong
hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào định hướng và ra quyết định của người lãnh đạo
doanh nghiệp đó. Nếu cho vay mà không đánh giá đúng khả năng của người quản lý
sẽ dễ dẫn đến tổn thất.
Phân tích báo cáo tài chính không chính xác, không biết đánh giá món vay có
hiệu quả thật hay sẽ có nhiều rủi ro. Với doanh nghiệp nào đó đang trong tình trạng
suy thoái mà nhân viên ngân hàng yếu kém trong việc đánh giá phân tích cho vay
thì món vay đó sẽ khó thu hồi được.
Kiến thức về mặt kinh tế xã hội luật pháp của nhân viên ngân hàng hạn chế,

19


20
không nắm vững được quy chế thể lệ tín dụng cũng dẫn đến rủi ro. Khi người đi vay
không lường hết rủi ro mà nhân viên ngân hàng cũng không hiểu biết để tư vấn cho
khách hàng thì khi doanh nghiệp bị thua lỗ sẽ không thể trả nợ ngân hàng.

21
giảm tốc độ chu chuyển vốn làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, thậm chí mất vốn,
giảm doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng. Nếu các khoản nợ xấu vượt quá khả
năng bù đắp của ngân hàng sẽ dẫn đến phá sản ngân hàng và kéo theo sự sụp đổ dây
chuyền của cả hệ thống ngân hàng trong nước.
- Nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng. Hoạt động chủ
yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay. Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro
thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn, không thu hồi được hoặc thu hồi
không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay. Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán
đầy đủ, đúng hạn đối với các khoản tiền gửi và huy động. Sự mất cân đối trên đến
một mức nào đó tất yếu sẽ dẫn tới ngân hàng mất khả năng thanh toán các khoản
đến hạn thanh toán. Như vậy, nợ xấu làm giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng.
- Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao
tức là mức độ rủi ro của các tài sản có cao thì ngân hàng đó thường đứng trước nguy
cơ đánh mất uy tín của mình trên thị trường. Không một khách hàng nào muốn gửi
tiền vào một ngân hàng mà có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu vượt quá mức cho phép, có
chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoát lớn. Thông tin về việc
một ngân hàng có mức độ rủi ro cao, khả năng thanh tóan suy giảm thường được
báo chí đưa tin và lan truyền trong dân chúng rất nhanh, điều này sẽ khiến cho việc
huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn và ảnh hưởng dây chuyền là tất
yếu.
- Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Nợ xấu làm cho doanh thu thấp
(do không thu được lãi vay), dẫn đến lợi nhuận thu được thấp (nằm ngoài dự kiến),
thậm chí là lỗ. Hơn nữa, khi phát sinh nợ xấu, ngân hàng phải thực hiện trích lập đủ
dự phòng rủi ro theo quy định. Như vậy, khi nợ xấu tăng cao, thu nhập của ngân
hàng bị suy giảm trong khi phải tăng số tiền trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản
nợ xấu sẽ khiến cho lợi nhuận còn lại của ngân hàng càng bị suy giảm, thậm chí
không còn lợi nhuận.
- Chi phí phát sinh do nợ xấu tăng lên là rất lớn: chi trả lãi tiền gửi (vì không
thu hồi được nợ để thanh toán); chi phí quản lý, xử lý nợ xấu và các chi phí khác

có biện pháp xử lý sẽ gây thua lỗ cho ngân hàng. Hoạt động huy động vốn cho vay,
đầu tư do vậy bị thu hẹp ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế
đồng thời trực tiếp làm khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và khủng hoảng
kinh tế xã hội.

22


23
Thứ ba, đối với khách hàng vay vốn.
- Giảm tốc độ chu chuyển vốn : trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các hoạt
động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện thông qua ngân hàng
và hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng.
Do vậy, tình trạng NQH dây dưa khó đòi của khách hàng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp
đến quan hệ của khách hàng với ngân hàng, làm giảm tốc độ chu chuyển vốn của
khách hàng.
- Tăng chi phí hoạt động: Lãi suất ngân hàng được quy định cao hơn mức lãi
suất trần. Như vậy nếu một doanh nghiệp phát sinh NQH sẽ làm tăng Chi phí hoạt
động lên và càng làm tăng gánh nặng trả nợ ngân hàng.
- Giảm uy tín: Việc phát sinh NQH sẽ làm khách hàng bị mất uy tín đối với
ngân hàng. Vậy mà trong hoạt động của mình, khách hàng có rất nhiều mối quan hệ
với ngân hàng. NQH phát sinh là vật cản lớn gây ra khó khăn cho khách hàng trong
quan hệ với ngân hàng. Sẽ không có một ngân hàng nào muốn duy trì quan hệ lâu
dài với doanh nghiệp có tỷ lệ nợ quá hạn cao bởi đây chính là tín hiệu nói lên hoạt
động kém hiệu quả doanh nghiệp.
1.2.4. Phương pháp xử lý nợ xấu tại Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
của Ngân hàng thương mại
1.2.4.1. Thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng
Đối với các khoản nợ xấu của những khách hàng mà sau khi phân tích thực
trạng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu Công ty quản lý nợ và khai thác

giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần thiết để
cải thiện tình hình của họ, và sửa chữa sai sót. Trong trường hợp khách hàng không
trả được kỳ trả nợ đầu tiên đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại, Công ty AMC
cần có hành động dứt khoát, yêu cầu khách hàng cần thực hiện những biện pháp cụ
thể để cải thiện tình hình. Nếu khách hàng tiếp tục không có khả năng trả nợ đúng
hạn ở kỳ tiếp theo, Công ty AMC cần thực hiện những biện pháp cứng rắn như xử
lý tài sản đảm bảo...để tận thu hồi nợ vay, giảm tổn thất cho ngân hàng.
Xử lý nợ xấu thông qua biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ thường chỉ hiệu
quả khi khách hàng trung thực trong cung cấp các thông tin về tình hình tài chính và
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại và dự báo đúng khả năng
phục hồi của doanh nghiệp trong tương lai, đồng thời Công ty AMC cũng có những
phân tích, đánh giá đúng về khả năng của doanh nghiệp để thực hiện việc gia hạn nợ,

24


25
điều chỉnh kỳ hạn hợp lý, phù hợp với khả năng và nguồn trả nợ của doanh nghiệp.
1.2.4.2. Xử lý tài sản bảo đảm, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có
khả năng phát triển, chây ì trong việc trả nợ… Công ty AMC chủ động xử lý các tài
sản đảm bảo nợ vay kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền
với đất thuộc quyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau: Tự bán công
khai trên thị trường; Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; Bán cho Công
ty mua bán nợ của Nhà nước. Trong trường hợp khoản vay không được thanh toán
đầy đủ thì Công ty AMC được xử lý tài sản đảm bảo theo nguyên tắc và cơ chế theo
luật định.
Đối với các khoản cho vay có sự bảo lãnh của bên thứ 3: Công ty AMC yêu
cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay. Trường hợp bên bảo
lãnh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay, Công ty AMC chủ động xử lý tài sản bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status