ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ THANH NHÀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC
- QUA THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LƯƠNG THANH CƯỜNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Các khuyến nghị khoa học được rút ra từ
quá trình nghiên cứu đề tài, không có sự sao chép từ các công trình
nghiên cứu khác.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Thanh Nhàn
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
1.3.2. Yếu tố chủ quan..................................................................................31
Kết luận Chương 1........................................................................................33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC
DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH......................34
2.1.
Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh tỉnh Quảng Ninh.................................................................34
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh tỉnh
quảng ninh..........................................................................................34
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc, miền núi; công tác định
canh, định cư và vấn đề nhân dân qua lại biên giới tỉnh Quảng
Ninh trong những năm qua.................................................................36
2.2.
Thực tế hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua...............................40
2.2.1. Cơ quan công tác dân tộc thuộc UBND các cấp trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh........................................................................................40
2.2.2.
Hoạt động ban hành văn bản quản lý nhà nước về công tác dân tộc.......44
2.2.3. Thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.............48
2.2.4. Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, chương
trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số...................................................54
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về công tác dân tộc..........................................75
3.2.2. Kiện toàn bộ máy QLNN về công tác dân tộc....................................80
3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác dân tộc..........81
3.2.4. Bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước về công tác
dân tộc................................................................................................83
3.2.5. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong quản lý nhà
nước về công tác dân tộc....................................................................84
3.2.6. Thực hiện tốt việc giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với quản lý
nhà nước về công tác dân tộc.............................................................85
Kết luận Chương 3........................................................................................86
KẾT LUẬN....................................................................................................88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................91
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANQP:
An ninh quốc phòng
CBCCVC: Cán bộ, công chức, viên chức
CQĐP:
Chính quyền địa phương
CSDT:
Chính sách dân tộc
CT 134:
UBND:
Ủy ban nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Kết quả thực hiện di dân các năm 2006-2011..........................38
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ bố trí dân cư các vùng giai đoạn 2006 -2011..................39
Biểu 2.3.
Sơ đồ tổ chức bộ máy và biên chế cơ quan..............................40
Biểu 2.4.
Số liệu đội ngũ CBCCVC là người DTTS...............................57
Biểu số 2.5.
Tỷ lệ CBCCVC là người DTTS cơ quan.................................58
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em, trong đó
có 53 dân tộc thiểu số. Các DTTS ở nước ta chiếm 13,8% dân số cả nước,
sâu, vùng xa, biên giới của tỉnh Quảng Ninh còn nhiều khó khăn.
Việc thực hiện QLNN lĩnh vực công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh tuy có
nhiều cố gắng, song còn có những tồn tại, hạn chế.
Tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn
những nguy cơ khó lường ở lĩnh vực dân tộc, tôn giáo. Một số hoạt động tôn
giáo có những diễn biến phức tạp, có thể tạo nên những yếu tố gây mất ổn
định. Các thế lực thù địch đang ra sức chống phá sự nghiệp cách mạng của
Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước với các chiêu bài “diễn biến hòa bình”,
“tự chuyển hóa”, trên cơ sở lợi dụng các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.
Địa bàn vùng dân tộc, miền núi, biên giới, biển đảo của tỉnh luôn tiềm ẩn
nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu QLNN về công tác dân tộc ở
Quảng Ninh để đưa ra các đề xuất góp phần hoàn thiện QLNN đối với công
tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là rất cần thiết để phát triển kinh tế
-xã hội vùng dân tộc, miền núi, biên giới, biển đảo bền vững.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
“Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản,
lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt
Nam”[23]. Công tác dân tộc là lĩnh vực công tác rộng lớn từ nghiên cứu,
tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định các chủ trương, chính
sách, phát luật về vấn đề dân tộc đến tuyên truyền vận động và tổ chức thực
hiện các chính sách, pháp luật, các chương trình tác động trực tiếp đến các
quan hệ tộc người nhằm phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
2
hội và ANQP các vùng dân tộc, miền núi. Do vị trí quan trọng của vấn đề dân
tộc, công tác dân tộc cùng những đặc thù của lĩnh vực quan hệ tộc người đòi
hỏi sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
các giải pháp quản lý đối với vấn đề tôn giáo hiện nay;
...
Cũng đã có nhiều các chuyên luận được đăng tải trên các tạp chí
chuyên ngành liên quan đến pháp luật và chính sách đối với các dân tộc thiểu
số, ví dụ như:
- Đầu tư phát triển bền vững vùng dân tộc, miền núi: nhân tố cơ bản,
quyết định làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
(Nguyễn Phương Thảo - Tạp chí Dân tộc số 46 tháng 10/2004);
- Đổi mới việc thực hiện chính sách xã hội ở nước ta hiện nay (PGS.TS
Trần Quang Nhiếp – Tạp chí Dân tộc số 39 tháng 3/2004);
- Luật tục với phát triển nông thôn vùng dân tộc, miền núi (TS. Lưu
Văn An – Tạp chí Dân tộc số 71 tháng 11/2005);
- Chính sách dân tộc của Đảng đối với các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên thực trạng và giải pháp (TS. Nguyễn Văn Nam – tạp chí Dân tộc số
69 tháng 9/2006)
- Giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo góp phần giữ vững ổn định
chính trị trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên (PGS-TS. Lê Văn Đính Đông
Đức- Tạp chí Dân tộc số 134- tháng 3/2012);
- Thực trạng và giải pháp nâng cao nguồn nhân lực vùng dân tộc,
miền núi (Nguyễn Quảng Hải, Trần Phương Liên – Tạp chí Dân tộc số 136,
tháng 4/2012)
....
Đó là những thành quả nghiên cứu lý luận chung đóng góp ở mức độ
khác nhau (trực tiếp, gián tiếp) vào QLNN về công tác dân tộc. Những công
trình nghiên cứu, tài liệu nêu trên là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị, mang
tính lý luận và thực tiễn cao.
4
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến QLNN
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, chủ trương của Đảng và
nhà nước ta về công tác dân tộc.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng một cách linh hoạt
và hợp lý: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp khảo sát thực tế;
phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp; phương pháp phân tích, đối
chiếu; phương pháp so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Về lý luận, Luận văn hệ thống hóa và làm rõ thêm cơ sở lý luận về
công tác dân tộc.
Về thực tiễn, các khuyến nghị của Luận văn hướng đến việc góp phần
hoàn thiện hoạt động lập quy của UBND tỉnh Quảng Ninh về công tác dân
tộc, kết hợp rà soát và hệ thống hóa các văn bản QPPL trong lĩnh vực dân tộc
nhằm loại bỏ các văn bản hết hiệu lực; ban hành các văn bản điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực dân tộc của tỉnh Quảng Ninh cũng
như dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng cao chất lượng
QLNN về dân tộc ở Quảng Ninh trong thời gian tới.
Luận văn cũng còn là tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo Luật
học, Hành chính học.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC
DÂN TỘC
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CÔNG TÁC DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
trị, nhà nước, luật pháp, kinh tế, văn hoá nhưng lại có văn hoá tộc người riêng
của mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống…).
7
Như vậy, dân tộc - quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ
quyền. Trong khi đó, dân tộc - tộc người lại đặc biệt nổi bật ở văn hoá tộc người.
1.1.2. Quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về vấn đề dân tộc
1.1.2.1. Quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin về
vấn đề dân tộc
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét vấn đề dân tộc
trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Sự hình thành và phát
triển dân tộc là một hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp, có căn nguyên sâu xa
từ sự vận động của sản xuất, của kinh tế đồng thời chịu sự tác động chi phối
trực tiếp của nhân tố chính trị, tức là của giai cấp và Nhà nước trong việc tổ
chức nên đời sống xã hội của các cộng đồng người. Mặt khác, dân tộc ra đời
và phát triển còn gắn liền với truyền thống lịch sử và văn hoá (kể cả đời sống
tín ngưỡng, tôn giáo) của từng dân tộc. Bởi lẽ, mỗi cộng đồng dân tộc cũng
như cộng đồng tộc người có lịch sử hình thành và phát triển không giống
nhau, không đồng thời và nhất loạt như nhau.
Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài
người. Dân tộc có các hình thức cộng đồng khác nhau trong lịch sử từ thấp
đến cao, từ thị tộc và bộ lạc đến các bộ tộc và đến khi xuất hiện giai cấp, nhà
nước thì xuất hiện dân tộc.
“Vấn đề dân tộc là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô
sản, một bộ phận của vấn đề chuyên chính vô sản” [40, tr.294].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là Lênin đã xác
định những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của Cương lĩnh dân tộc nhằm giải
quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển và cuộc
Ba Na và các DTTS khác, đều là con cháu VN, đều là anh em ruột thịt. Chúng
ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Trước kia
chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để
9
chia rẽ chúng ta. Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta.
Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “Nha dân tộc
thiểu số” để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Giang sơn và Chính phủ là
giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta
phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta.
Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để
mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”.
Trách nhiệm thực hiện công tác dân tộc là của mọi ngành, mọi cấp, chứ
không phải chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan chuyên trách làm công tác dân
tộc. Cán bộ công tác dân tộc, nhất là những người trực tiếp làm việc ở miền
núi, vùng đồng bào dân tộc phải am hiểu phong tục, tập quán, nắm được tâm
tư nguyện vọng của đồng bào “nghe dân nói và nói dân hiểu”. Bác đã khuyên
nhủ rằng: “Nước ta có nhiều dân tộc, đấy là điều tốt. Thường mỗi dân tộc có
tiếng nói riêng, cán bộ đi làm việc chỗ nào phải học tiếng chỗ ấy”[32, tr.13].
Theo Người, muốn thực hiện tốt CSDT, công tác dân tộc thì phải am
hiểu về miền núi, về con người miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, vì mỗi
DTTS có nếp sống, tâm lý, bản sắc riêng đa dạng và phong phú. Muốn tiến
hành sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác dân tộc nói riêng, thì phải
“nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi”[30, tr.430].
Người đề ra 03 nguyên tắc cơ bản đối với công tác dân tộc ở Việt Nam:
Thứ nhất là, đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển bền
vững là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong lịch sử quan hệ dân tộc và công tác dân tộc ở
Việt Nam. Người chỉ rõ: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ
trọng. Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân
Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”
(Điều 1); “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện:
chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6); “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những
11
quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ
chung” (Điều 8); “Ở các trường học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học
bằng tiếng của mình” (Điều 15); “Số nghị viện của những đô thị lớn và những địa
phương có quốc dân thiểu số sẽ do luật định” (Điều 24).
Bản Hiến pháp năm 2013 lại tiếp tục khẳng định mục đích của Đảng và
Nhà nước đối với CSDT:
“1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất
của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng
nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền
thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để
các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.” (Điều 5).
1.1.3.2. Sự vận dụng quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về vấn đề dân tộc vào thực tiễn công tác dân tộc ở nước ta hiện nay
Trong sự nghiệp đổi mới, tại các đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX,
gần đây là tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá IX và tại
Đại Hội X, XI, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, về đại
đoàn kết dân tộc càng được chú ý và được nêu ra đầy đủ trên mọi phương diện.
núi QĐ 1637. Ngoài ra, còn có các Chương trình trồng 5 triệu ha rừng; nước
sạch và vệ sinh môi trường; y tế cơ sở; Chương trình kiên cố hoá trường lớp
CT 159. Còn rất nhiều chương trình, chính sách khác đã và đang thực hiện trên
địa bàn vùng ĐBKK, vùng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Ngày 7-12-2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1277/QĐ-TTg
phê duyệt Đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của QLNN và phương thức công
tác dân tộc”. Ngày 10-6-2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
13
07/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã
ĐBKK vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010. Đó là sự quan
tâm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc một
cách cụ thể, thiết thực trong thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta [51].
Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, ngày 12/3/2012, Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020. Mục tiêu của
Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 là phát triển kinh tế - xã hội toàn diện,
nhanh, bền vững; đẩy mạnh giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, rút ngắn khoảng
cách phát triển giữa các dân tộc; giảm dần vùng ĐBKK; từng bước hình thành các
khu trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học vùng dân tộc thiểu số; phát triển nguồn
nhân lực vùng dân tộc thiểu số; tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ là người dân tộc thiểu số; củng cố hệ thống chính trị cơ sở; giữ vững khối
đại đoàn kết các dân tộc, đảm bảo ổn định an ninh, quốc phòng.
Để thực hiện các mục tiêu trên, công tác dân tộc cần thực hiện các nhiệm
vụ chủ yếu: Phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là
người dân tộc thiểu số; Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; Phát triển
sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo đồng bào vùng dân tộc thiểu số;
Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số; Phát triển toàn
diện các lĩnh vực văn hóa – xã hội vùng dân tộc thiểu số; Nâng cao chất lượng hệ
chức trực thuộc. Vì vậy, trong thực tiễn quản lý và lý luận khoa học pháp lý
chúng còn được gọi là các cơ quan quản lý nhà nước.[60, tr.28-29].
Trong giới hạn của Luận văn, QLNN được hiểu theo nghĩa hẹp.
1.2.2. Cấu thành quản lý nhà nước về công tác dân tộc
1.2.2.1. Quan niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn hiện nay, “quản lý nhà nước
về công tác dân tộc” được các tác giả sử dụng với nhiều khái niệm như:
“QLNN về vấn đề dân tộc”, “QLNN về dân tộc”, “QLNN về lĩnh vực công
tác dân tộc”, “QLNN ở vùng dân tộc”. Cho đến nay, khái niệm quản lý nhà
15
nước về công tác dân tộc chưa được đưa ra một cách chính thống tại văn bản
QPPL. Nghị định số 60/2008/NĐ-CP ngày 09/5/2008 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc có
nêu: “… thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong
phạm vi cả nước”. Vì thế, Luận văn này sử dụng cụm từ “quản lý nhà nước
về công tác dân tộc”.
QLNN về công tác dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống
QLNN. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là hoạt động của các cơ quan
nhà nước (trong đó trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước), cá
nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, luật và để thi hành Hiến pháp, luật
nhằm tác động đến công tác dân tộc để đạt được mục đích đã được xác định
trước.
Khách thể quản lý nhà nước về công tác dân tộc bao gồm quản lý toàn
bộ các hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra trong đời sống gắn với vùng cư trú
của đồng bào các dân tộc thiểu số để không ngừng nâng cao đời sống kinh tế,
văn hóa của đồng bào.
1.2.2.2. Phương pháp quản lý nhà nước về công tác dân tộc
khẩn cấp; phương pháp kinh tế là cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt
động quản lý nhà nước; phương pháp hành chính là rất cần thiết nên phải
được sử dụng một cách đúng đắn.
QLNN về công tác dân tộc là quản lý một lĩnh vực nhạy cảm, do đó, trong
thực tế không dùng một phương pháp quản lý đơn lẻ, mà trong từng lĩnh vực,
từng vùng lãnh thổ và vùng dân tộc khác nhau có những phương pháp quản lý
phù hợp. Thông thường các cơ quan có chức năng QLNN thường áp dụng tổng
hợp các nhóm phương pháp trên trong QLNN. Do tính đặc thù của công tác dân
tộc nên các cơ quan quản lý thường áp dụng đồng thời các nhóm phương pháp
17
nói trên và một số phương pháp chuyên biệt như: quản lý bằng pháp luật; quản
lý bằng bộ máy tổ chức; quản lý bằng chính sách cụ thể (chương trình mục tiêu,
dự án...); quản lý bằng thanh tra, kiểm tra, tổng kết.
1.2.3. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước
Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; …. N hà nước
thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu
số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước (Điều 5- Hiến pháp 2013).
Quốc hội có quyền quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo
của Nhà nước (khoản 5, Điều 70 Hiến pháp 2013).
Hội đồng Dân tộc ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Ủy
ban của Quốc hội còn có một số nhiệm vụ như: nghiên cứu và kiến nghị với
Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính
sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và
vùng đồng bào dân tộc thiểu số; được mời tham dự phiên họp của Chính phủ