TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
......
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC –
THỰC TIỄN TẠI TỈNH CÀ MAU
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Phan Trung Hiền
Tô Văn Cƣng
Bộ môn: Luật Hành chính
MSSV: 5115874
Lớp: Luật Hành chính K37
Cần Thơ, tháng 11/2014
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 2
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................... 2
5. Kết cấu của luận văn .......................................................................................... 3
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN TỘC ........................................................... 4
1.1. Một số khái niệm ............................................................................................. 4
1.1.1. Khái niệm dân tộc ..................................................................................... 4
1.1.2. Khái niệm công tác dân tộc....................................................................... 5
1.1.3. Khái niệm quản lý Nhà nước về dân tộc .................................................. 5
1.2. Đặc điểm của quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc ................................... 7
1.3. Cộng đồng dân tộc Việt Nam và truyền thống đoàn kết dân tộc ................ 8
1.3.1. Cộng đồng dân tộc Việt Nam .................................................................... 8
1.3.2. Truyền thống đoàn kết dân tộc ................................................................. 9
1.4. Nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc ....................................... 10
1.5. Một số hành vi nghiêm cấm trong công tác dân tộc ................................... 10
1.6. Phƣơng pháp quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc ................................. 11
1.6.1. Quản lý bằng pháp luật ........................................................................... 12
1.6.2. Quản lý bằng chính sách, chương trình ................................................ 13
1.6.3. Quản lý bằng tổ chức bộ máy Nhà nước ............................................... 14
1.6.4. Quản lý bằng đầu tư tài chính ................................................................ 15
1.6.5. Quản lý bằng công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá ............................ 16
1.6.6. Quản lý bằng công tác tuyên truyền của Nhà nước .............................. 16
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN TỘC .............. 18
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về quản lý Nhà nƣớc đối
CÔNG TÁC DÂN TỘC .......................................................................... 39
3.1. Tình hình dân tộc thiểu số tại tỉnh Cà Mau ................................................ 39
3.2. Tình hình quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc ....................................... 40
3.2.1. Về kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo ................................................. 40
3.2.2. Về giáo dục, y tế, văn hóa – xã hội ......................................................... 42
3.2.3 Về xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và đội ngũ cán bộ .................... 44
3.2.4. Về công tác bảo vệ an ninh quốc phòng ................................................ 45
3.3. Những ƣu điểm và hạn chế đối với việc quản lý nhà nƣớc về công tác dân
tộc tại tỉnh Cà Mau ................................................................................................... 45
3.3.1. Những ưu điểm trong quản lý Nhà nước về công tác dân tộc .............. 45
3.3.2. Những hạn chế trong quản lý Nhà nước về công tác dân tộc .............. 47
3.4. Nguyên nhân của hạn chế ............................................................................. 48
3.5. Những giải pháp đối với công tác dân tộc tỉnh Cà Mau ............................ 50
3.5.1. Phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo ................... 50
3.5.2. Phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân
lực...................................................................................................................... 51
3.5.3. Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ......................................................... 53
3.5.4. Xây dựng quốc phòng an ninh nhân dân .............................................. 53
3.6. Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về công
tác dân tộc .................................................................................................................. 54
KẾT LUẬN .............................................................................................. 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
PHẦN MỞ ĐẦU
Nhà nước về công tác dân tộc trong cả nước nói chung và ở tỉnh Cà Mau nói riêng đã đạt
được nhiều thành tựu nhất định, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại như: một bộ
phận cán bộ, đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với vấn đề
dân tộc còn hạn chế, chưa có sự đồng bộ giữa các cấp, các ngành, việc giải quyết vấn đề
liên quan đến dân tộc còn kéo dài. Công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 1
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
làm công tác dân tộc chưa được quan tâm đúng mức, tạo ra những sơ hở cho kẻ xấu lợi
dụng. Từ những điểm yếu đó Tỉnh Ủy đã tăng cường chỉ đạo về quản lý Nhà nước đối
với công tác dân tộc, nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của các dân tộc thiểu số
trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Mặt khác nhằm thực hiện tốt các
chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, chống lại
các âm mưu thủ đoạn của kẻ thù nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài: “Quản lý Nhà nƣớc về
công tác dân tộc - Thực tiễn tại thành phố Cà Mau” làm luận văn tốt nghiệp cử nhân
Luật của mình. Hy vọng đề tài này sẽ góp sức vào một vấn đề mang tính lý luận và thực
tiễn cấp bách không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với việc quản lý Nhà nước về công
tác dân tộc trên địa bàn thành phố Cà Mau, do kiến thức còn hạn chế nên bài viết không
tránh khỏi những sai sót mong quý thầy cô thông cảm.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khái quát những vấn đề chung về dân tộc, về quản lý Nhà nước
đối với công tác dân tộc và phân tích việc quản lý Nhà nước đối với công tác dân tộc trên
địa bàn thành phố Cà Mau trong thời gian qua, đồng thời đưa ra những ưu, khuyết cũng
như làm rõ nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý Nhà nước về công tác dân tộc.
gồm có 03 chương:
Chương 1. Khái quát chung về quản lý Nhà nước đối với công tác dân tộc
Trong chương này, người viết nêu một số khái niệm về quản lý Nhà nước đối với
công tác dân tộc như: khái niệm dân tộc, công tác dân tộc, quản lý Nhà nước về công tác
dân tộc. Nêu đặc điểm của quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, cộng đồng các dân tộc
cũng như nêu lên truyền thống quý báo, vô giá của dân tộc đó là truyền thống đoàn kết
dân tộc. Cũng trong chương này, người viết sẽ nêu lên nhiệm vụ quản lý Nhà nước về
công tác dân tộc và những hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc. Từ đó, người
viết tạo cơ sở lý luận để thuận lợi cho việc nghiên cứu những chương sau.
Chương 2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý Nhà nước đối
với công tác dân tộc
Người viết đã đi sâu nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về quản lý Nhà nước đối với công tác dân tộc. Chủ yếu là các văn bản như: Hiến
pháp năm 2013, Nghị định 05/2011/NĐ-CP, Nghị định 84/2012/ NĐ-CP… Trong
chương này, người viết sẽ tái hiện lại lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về
công tác dân tộc qua các giai đoạn. Nêu những chủ thể có thẩm quyền quản lý Nhà nước
về công tác dân tộc, giúp mọi người nắm được nội dung cũng như các chính sách quản lý
Nhà nước về dân tộc.
Chương 3. Thực tiễn tại thành phố Cà Mau và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
hệ thống pháp luật đối với công tác dân tộc
Người viết nêu lên tình hình quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, từ đó thấy
được những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế trong quản lý Nhà nước về công
tác dân tộc. Đặc biệt, trong chương này, người viết sẽ nêu thực tiễn tại thành phố Cà Mau
về công tác dân tộc để giúp cho người đọc có thể tiếp cận được vấn đề quản lý Nhà nước
về công tác dân tộc một cách dễ dàng hơn. Nêu những ưu điểm cũng như những hạn chế
trong quản lý Nhà nước về công tác dân tộc.
Người viết sẽ nêu ra một số nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý Nhà
nước về công tác dân tộc để nêu lên những phương hướng cũng như giải pháp đối với
việc quản lý Nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Cà Mau nói riêng và những
kiến nghị về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong cả nước nói chung. Để từ đó sẽ đạt
tộc người, được hình thành trong lịch sử ổn định, họ có ngôn ngữ riêng và những nét văn
hóa đặc thù, nhưng cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất định, các thành viên của tộc người
này có chung vận mệnh lịch sử cũng như lợi ích về chính trị, kinh tế và chung nền văn
hóa mang bản sắc tộc người. Với cách hiểu này, thì đất nước Việt Nam gồm 54 dân tộc
hay 54 tộc người. Ví dụ như có thể nói dân tộc Kinh, dân tộc Khmer, dân tộc Hoa.
Với nghĩa hẹp, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa rộng, dân tộc là
toàn bộ nhân dân của quốc gia đó. Mặc dù dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Nhưng trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập đến khái niệm dân tộc theo nghĩa
hẹp, tức là dân tộc đồng nghĩa với tộc người hay có thể gọi là dân tộc trong một quốc gia
đa dân tộc.
1
Xem thêm: Khóa luận quản lý Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Thái ở huyện Con Cuông
– Nghệ An, trang 4, [truy cập ngày 21/8/2014].
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 4
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
1.1.2. Khái niệm công tác dân tộc
Công tác dân tộc được xác định là có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển bền
vững của đất nước trong giai đoạn mới. Do đó phải cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm
của toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình
mới hiện nay.
Coi việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là
Khoản 1 Điều 4, Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc thì khái niệm công tác dân tộc.
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 5
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối
ngoại của Nhà nước”3.
Bên cạnh đó, còn có khái niệm “Quản lý Nhà nước là quản lý xã hội mang tính
quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội”4
“Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc là quá trình tác động, điều chỉnh thường
xuyên của Nhà nước bằng quyền lực của Nhà nước đối với tất cả các hoạt động trên các
lĩnh vực đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm hướng tới các mục tiêu
phát triển bền vững.”5
Quản lý Nhà nước về dân tộc là một nội dung cơ bản và vô cùng quan trọng trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quản lý Nhà nước nói chung, là nội dung đã
được quan tâm, thực hiện trong quá trình lịch sử của nước ta. Trước đây, các triều đại
phong kiến ở Việt Nam đã đặt ra việc quản lý Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số
bằng chính sách Ky Mi (ràng buộc) và Nhu Viễn (mềm mỏng) đối với những vùng xa xôi
hẻo lánh.
Như vậy các triều đại phong kiến Việt Nam trong việc quản lý Nhà nước của
mình, họ đã có những chính sách, biện pháp thể hiện sự quan tâm rất lớn đến những vùng
xa xôi hẻo lánh của đất nước, họ đã có những chính sách, biện pháp hợp lý và đúng đắn.
Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ: chúng có nhiều chính sách nhằm quản lý đồng bào
các dân tộc thiểu số như: đặt quan cai trị, phân chia bản đồ hành chính…
Thời kỳ Mỹ - Ngụy: chính quyền miền Nam đã lập ra Hội đồng các sắc tộc và Bộ
- Là hoạt động đặt dưới sự điều hành chỉ huy của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền trong lĩnh vực dân tộc, mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính
mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước;
- Được điều chỉnh dựa vào các công cụ của pháp luật để buộc đối tượng chịu sự
quản lý của Nhà nước về công tác dân tộc phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan
nhằm đạt được sự cân bằng xã hội;
- Đối tượng để Nhà nước quản lý là các đồng bào dân tộc thiểu số trên lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc mang tính kế hoạch, đòi hỏi Nhà nước
phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình đối với các đồng bào dân tộc thiểu số. Phải
có những chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước;
- Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc mang tính liên tục và ổn định, các quyết
định của Nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh.
- Mục đích của công tác dân tộc: tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân
tộc thiểu số phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân.
Tất cả chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa dân
tộc là một nội dung rất quan trọng và thật sự cần thiết trong việc quản lý Nhà nước về
công tác dân tộc: bản sắc văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng với những giá trị đặc
trưng mang tính bền vững và trù tượng. Song suy cho cùng bản sắc văn hóa chính là cốt
lõi làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, giúp nước ta vững vàng hội nhập mà không bị hòa
tan.
“Nước ta là một quốc gia có nền văn hóa thống nhất mà đa dạng, mỗi dân tộc có
những giá trị và sắc thái riêng biệt, bản sắc văn hóa Việt Nam được thể hiện dưới nhiều
hình thức cụ thể như sau: lễ hội, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, kiến trúc, lối sống,
tiếng nói, chữ viết, tâm lý, tình cảm… Và đặc biệt bản sắc văn hóa ấy còn lấp lánh dưới
những sắc thái vô cùng phong phú như lòng yêu nước, lòng nhân ái.”6
Chính vì vậy, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải đồng thời
với việc bảo vệ và làm giàu thêm các nhân tố biểu hiện các sắc thái làm nên bản sắc ấy.
Sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta trong thời kỳ đổi mới phải hướng
Cả nước hiện có 54 dân tộc anh em. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn
sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thuở ban đầu, có những dân tộc từ nơi
khác lần lược di cư đến nước ta. Nước ta là một đất nước có vị trí giao lưu hết sức thuận
lợi, vì nhiều nguyên nhân mà các dân tộc ở các nước xung quanh đã di cư rồi định cư trên
lãnh thổ Việt Nam.7
Tỷ lệ dân số giữa các dân tộc ở nước ta là không đồng đều, có những dân tộc có
dân số trên 1 triệu người điển hình như các dân tộc: Khmer, Thái, Tày… nhưng cũng có
những dân tộc dân số chỉ có vài trăm người như: Brâu, Rơ-măm… Nhưng cũng có dân
tộc chỉ có vài chăm người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu… Trong đó, nhiều nhất là “dân tộc
kinh chiếm 86,2% dân số cả nước, các dân tộc khác chỉ chiếm 13,8% dân số cả nước” 8.
Tuy có sự trên lệch, nhưng các dân tộc luôn quý trọng, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau,
cùng nhau chung tay xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong mọi hoàn cảnh.
Dân tộc thiểu số bằng cách dựa vào quan điểm mà Gs. Francesco Capotorti (đặc
phái viên của LHQ) đã đưa ra vào năm 1977: “Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho
một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ
7
TS, Phan Trung Hiền, Lâm Bá Khánh Toàn, Võ Nguyễn Nam Trung, tài liệu hướng dẫn học tập môn Luật hành
chính 3, trang 8.
8
Khái quát chung về cán bộ công chức người dân tộc thiểu số, [truy cập ngày 27-8-2014].
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 8
SVTH: Tô Văn Cƣng
trình phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước thì truyền thống
đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng được củng cố và phát triển. Sức mạnh của khối đại
đoàn kết dân tộc đã trở thành nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi.
9
Hội Luân 14-9-2013: Khái niệm về dân tộc thiểu số và dân tộc bản địa,
o/index.php?option=com_content&view=article&id=922:hoikuna&catid=45:quandiemxah
oi&Itemid=61, [truy cập ngày 22-9-2014].
10
Danh Thanh Hoàng: Luận văn quản lý Nhà nước về công tác dân tộc – Thực tiễn tại thành phố Cần Thơ, trang 1516.
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 9
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
Tuy nhiên, bên cạnh sự đoàn kết, tương trợ cũng như sự giúp đỡ giữa các dân tộc
thì một số nơi còn xảy ra những mâu thuẫn cũng như những biểu hiện thành kiến dân tộc
hoặc mặc cảm dân tộc do sự phát triển không đồng đều. Lợi dụng tình hình đó, các thế
lực thù địch đã thực hiện các chính sách công kích nhằm chia rẽ dân tộc. Vì vậy, chúng ta
cần tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã
từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Nâng cao tinh thần cảnh giác nhằm đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù
địch có ý đồ chia rẽ dân tộc.
1.4. Nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc
Nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác dân tộc ở nước ta được thể hiện qua
Trang 10
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
kết dân tộc. Theo Điều 87 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội phá hoại chính
sách đoàn kết thì: người nào có một trong những hành vi sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 15 năm phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07
năm: “gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với
chính quyền nhân dân, với các tầng lớp xã hội; gây thù hằng, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm
phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; gây chia rẽ người theo tôn
giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân,
với các tổ chức xã hội; phá hoại việc thực hiện các chính sách đoàn kết quốc tế.”12
- Nghiêm cấm việc lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc
chống lại đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước: các thế lực thù địch lợi dụng các
phương tiện thông tin đại chúng, tình báo, lợi dụng các vấn đề dân tộc để kích động, bạo
loạn lật đỗ, chúng tập trung chống phá những tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng
từ đó gây khủng hoảng về chính trị, đánh vào tổ chức, nội bộ của ta. Kích động các vấn
đề về dân chủ nhân quyền, bôi xấu chế độ, chúng phủ nhận thành tựu đổi mới của dân tộc
ta.
- Nghiêm cấm các hành vi lợi dụng việc thực hiện các chính sách dân tộc, quản lý
Nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của
công dân.
- Nghiêm cấm các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.
Trong Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp đỡ nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẻ dân tộc.”13 Để
đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập
quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc. Các dân tộc có trách nhiệm tôn
trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
biện pháp cụ thể, động viên các đồng bào dân tộc phát huy nội lực, ý trí tự lực, tự cường,
tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây
dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.”
Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc có các phương pháp cơ bản như: phương
pháp quản lý bằng pháp luật; quản lý bằng chính sách, chương trình; quản lý bằng tổ
chức bộ máy Nhà nước; quản lý bằng đầu tư tài chính; quản lý bằng công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát của Nhà nước; quản lý bằng biện pháp giáo dục, tuyên truyền của Nhà
nước.
1.6.1. Quản lý bằng pháp luật
Hiến pháp năm 1946, đã khẳng định nguyên tắc bình đẳng “tất cả công dân Việt
Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá.”14
Ngay từ khi Hiến pháp năm 1946 ra đời, tại Điều 8 của Hiến pháp đã đề cập đến
vấn đề hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số: “ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc
dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chống tiến kịp trình độ
chung”15. Tư tưởng đã được phát triển qua các Hiến pháp tiếp theo của nước ta.
Nội dung cơ bản của phương pháp quản lý Nhà nước bằng pháp luật: Pháp luật
phải thật sự là công cụ cơ bản của quản lý Nhà nước về các vấn đề dân tộc, thông qua
việc ban hành các văn bản pháp quy đối với miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu
số để thực hiện đường lối của Đảng ta trong vấn đề dân tộc. Từng bước đưa đời sống
đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa ngày càng tốt hơn,
hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về dân tộc có phạm vi rất rộng, bao gồm toàn
bộ những quan hệ pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội liên quan đến dân tộc
thiểu số. Ngoài những văn bản pháp luật điều chỉnh riêng đối với các dân tộc thiểu số,
các vấn đề pháp luật về dân tộc còn được lồng ghép trong nhiều lĩnh vực như: kinh tế,
văn hóa, giáo dục, y tế…
14
15
- Hệ thống văn bản pháp luật về dân tộc gồm nhiều văn bản có giá trị pháp lý khác
nhau như: Hiến pháp, Luật, Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Chỉ
thị, Thông tư…
- Một số văn bản pháp luật dân tộc được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù
hợp với tình hình thực tế, chủ yếu là các văn bản dưới luật.
1.6.2. Quản lý bằng chính sách, chương trình
Để thực hiện những quan điểm của Đảng ta về công tác dân tộc, Nhà nước phải cụ
thể hóa những mục tiêu, quan điểm ấy bằng chính sách, chương trình cụ thể để thực hiện
những mục tiêu, quan điểm đó.
Hiện nay, đối với miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Nhà nước ta đã
thực hiện nhiều chính sách, chương trình để góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã
hội miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Bên cạnh đó, Nhà nước ta có một số chính sách, chương trình để quản lý Nhà
nước về dân tộc như:
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 13
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
- Phân chia miền núi thành 03 khu vực để thấy được thực chất sự phân hóa của
miền núi, của đồng bào các dân tộc thiểu số để có các chính sách, giải pháp đầu tư, quản
lý cho đúng và hiệu quả.
- Chương trình xây dựng các trung tâm, cụm, xã, thực hiện theo Nghị quyết
35/TTg ngày 13 tháng 01 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình
xây dựng trung tâm cụm, xã miền núi và vùng cao.
- Chương trình trồng 5 triệu ha rừng theo Quyết định 661/1998/QĐ-TTg ngày 29
Trang 14
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
nước, quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban Dân tộc
theo quy định pháp luật.”16
- Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương: Ban Dân tộc là cơ
quan chuyên môn ngang Sở thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, có chức năng tham mưu,
giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân
tộc. Ban Dân tộc được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi có đủ 02
trong 03 tiêu chí sau17:
Thứ nhất, có trên 20.000 (hai mươi nghìn) người dân tộc thiểu số tập trung thành
cộng đồng, làng, bản.
Thứ hai, có trên 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập
trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển.
Thứ ba, có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh,
quốc phòng, địa bàn xen canh, xen cư, biên giới, có đông đồng bào dân tộc thiểu số ở
nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại.
Đối với những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng
các tiêu chí nêu trên thì lập Phòng Dân tộc (hoặc bố trí cán bộ, công chức) làm công tác
dân tộc thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Phòng Dân tộc chịu sự chỉ đạo của
Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Đối với cấp huyện thì Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân có trách
nhiệm tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân thực hiện công tác dân tộc.
1.6.4. Quản lý bằng đầu tư tài chính
Trong quá trình quản lý Nhà nước, tài chính là một nội dung mà Nhà nước cần
phải quản lý. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần phải sử dụng tài chính để làm công cụ
quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.6.5. Quản lý bằng công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá
Kiểm soát đối với Nhà nước bao gồm các hoạt động như: thanh tra, kiểm tra, giám
sát… tất cả các hoạt này nhằm mục đích đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành
chính Nhà nước.
Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản pháp luật có liên quan quy định nhân dân
có thể trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức xã hội, Ban thanh tra nhân dân để tiến hành
giám sát và đánh giá về hoạt động thanh tra của các cơ quan quản lý Nhà nước trong một
số lĩnh vực như: xây dựng, quản lý đất đai, tài chính.18
Trong quản lý Nhà nước về công tác dân tộc cũng cần phải sử dụng công cụ thanh
tra, kiểm tra và tổng kết, đánh giá. Bởi vì thực tế cho thấy bên cạnh mặt tích cực trong
đầu tư cho sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
cũng xảy ra nhiều hiện tượng tiêu cực như: tham nhũng, lãng phí tài sản của Nhà nước,
của nhân dân… Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, thanh tra, đó là việc
hết sức cần thiết.
Việc thanh tra, kiểm tra và tổng kết, đánh giá các chính sách, chương trình của
Nhà nước về công tác dân tộc một cách định kỳ, thường xuyên và liên tục sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước đối với việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế
- xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta và trừng trị kẻ phạm tội.
Nói tóm lại, việc quản lý Nhà nước về công tác dân tộc có nhiều phương pháp,
công cụ khác nhau và phương pháp quản lý Nhà nước bằng công tác thanh tra, kiểm tra,
đánh giá là rất quan trọng và cần thiết.
1.6.6. Quản lý bằng công tác tuyên truyền của Nhà nước
Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật có vai trò rất quan trọng, là cầu nối để
Nhà nước đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với
mọi người. Công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật đã góp phần nâng cao nhận thức,
ngăn chặn, làm hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự, an
toàn xã hội ở địa phương.
18
cho các đội Kiên Giang, Trà Vinh, Hậu Giang, Vĩnh Long và huyện Thới Bình, tỉnh Cà
Mau.”20 Qua cuộc thi, nhằm tuyên truyền kiến thức pháp luật cho đồng bào các dân tộc
thiểu số, giúp cho họ hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ của mình, tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Tùy theo đặc điểm của từng địa phương mà lựa chọn hình thức tuyên truyền phù
hợp, đạt hiệu quả cao, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong ý thức chấp hành pháp
luật của đồng bào các dân tộc. Tuyên truyền là một phương pháp quan trọng trong các
phương pháp quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, cần có những hình thức ngày càng
phong phú, đa dạng hơn và đạt hiệu quả ngày càng cao.
19
Bích Liên: Hội thi “tìm hiểu pháp luật dành cho đồng bào dân tộc thiểu số” khu vực Tây Nam Bộ năm 1014,
[truy cập ngày 25/10/2014].
20
Phú Toàn: bế mạc Hội thi tìm hiểu pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số, [truy cập ngày 15/10/2014].
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 17
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN TỘC
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về quản lý Nhà nƣớc đối với công
Sắc lệnh số 58 ngày 3/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ, tập sắc lệnh 1945, Điều 1.
Lời nói đầu, Hiến pháp 1946.
GVHD: Phan Trung Hiền
Trang 18
SVTH: Tô Văn Cƣng
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1954- 1975
Sau năm 1954, bộ máy làm công tác dân tộc được củng cố cả về tổ chức và hình
thức hoạt động. Sự củng cố này phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong giai
đoạn mới.
Công tác dân tộc ở miền Bắc trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa và kháng
chiến chống Mỹ cứu nước có những điều chỉnh về nội dung hoạt động và bộ máy tổ
chức: “Ngày 29-1-1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị
quyết số 03/NQ-TW Thành lập Tiểu Ban Dân tộc ở Trung ương dưới sự lãnh đạo trực
tiếp của Trung ương”23.
Sau khi thành lập Tiểu ban Dân tộc ở Trung ương, “Ngày 1-2-1955, Thủ tướng
Chính phủ ra nghị định số 447/TTg thành lập Ban Dân tộc, một đơn vị trong Ban Nội
chính Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng Chính phủ.”24
Ở miền Nam, cơ quan làm công tác dân tộc do Trung ương Cục trực tiếp lãnh đạo;
ở các tỉnh miền tây Nam bộ, các Ban Khmer vận của tỉnh và một số huyện được thành
lập; các tỉnh Duyên hải Trung bộ đã tiếp tục cuộc vận động các dân tộc thiểu số xây dựng
căn cứ địa vững chắc nhằm để thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; ở miền
Bắc, đã có sự điều chỉnh hợp lý về nội dung hoạt động cũng như bộ máy tổ chức. Năm
Đề tài: Quản lý Nhà nƣớc về công tác dân tộc – Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
Năm 1979, Ban Dân tộc trung ương và các tỉnh được thành lập với chức năng:
tham mưu, giúp việc cho trung ương Đảng về vấn đề dân tộc ít người. Bên cạnh đó, Ban
Dân tộc trung ương hoạt động đồng thời với Uỷ ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ.
Ở phía Nam, chỉ thị 117/CT/TW của Ban Bí thư về công tác đối với đồng bào
Khmer được ban hành, với chỉ thị này, công tác lãnh đạo ở điạ phương đã có những
chuyển biến tích cực về nhận thức, ở một số nơi đã giải quyết tốt một số vấn đề như: giải
quyết tranh chấp đất đai trong vùng dân tộc Khmer phù hợp với đặc điểm và thực tế ở
từng địa bàn kịp thời và đạt hiệu quả cao.
2.1.4. Giai đoạn từ năm 1986 – 1992
Trong giai đoạn này, đường lối đổi mới đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội của
Đảng ta được triển khai tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, đã đi vào cuộc sống và
từng bước đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, đời sống kinh tế - xã hội của các
dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, một bộ phận người dân còn tình trạng du canh,
du cư; nước ta vẫn còn tình trạng đói nghèo, tỷ lệ mù chữ, thất nghiệp còn chiếm khá cao.
Năm 1987, giải thể Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ; đầu tháng 5/1990, để tăng
cường sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ đối với công tác dân tộc, Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng đã thành lập Văn phòng miền núi và dân tộc do Hội đồng Bộ trưởng trực tiếp
lãnh đạo. “Ngày 14-2-1987 Ủy ban Dân tộc ra quyết định số 22- QĐ/TC sắp xếp lại một
số đơn vị công tác trong cơ quan Ban Dân tộc và Ủy ban Dân tộc. Ngày 15-4-1990, Ban
Dân tộc ban hành văn bản số 63/BDT hướng dẫn tổ chức Ban Dân tộc hoặc bộ phận làm
công tác dân tộc ở các tỉnh”25
Ngày 5/10/1992, Bộ chính trị đã quyết định hợp nhất hai cơ quan Ban Dân tộc
trung ương và cơ quan Văn phòng miền núi và dân tộc để xây dựng thành cơ quan mới là
Uỷ ban Dân tộc và miền núi trực thuộc Chính phủ; Uỷ ban Dân tộc và niền núi làm
nhiệm vụ tham mưu cho Đảng về công tác dân tộc và miền núi.
Trong Điều 5, hiến pháp 1992 cũng được quy định “Nhà nước thực hiện chính
sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng
bào dân tộc thiểu số.”26 Bước vào giai đoạn mở cửa giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội thì
vấn đề dân tộc luôn được quan tâm, bởi các thế lực thù địch từ bên nước ngoài dòm ngó