LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng tại tỉnh
Bắc Kạn” là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tôi tại
trường Học viện Hành chính Quốc gia.
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Học viên
Nông Thị Diệu
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô hiện đang công
tác tại Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong
thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thúy đã quan tâm, giúp
đỡ tận tình, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn.
Cảm ơn Ban Nội chính Tỉnh ủy, cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy,
Thanh tra tỉnh, các cơ quan khối nội chính tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong nghiên cứu thực tiễn. Tôi cũng xin cảm ơn các bạn bè, đồng
nghiệp và gia đình đã đóng góp những ý kiến, những kinh nghiệm quý báu để
tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện bản luận văn, tuy nhiên do
trình độ còn hạn chế của bản thân nên luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
ii
2.2. Thực trạng công tác phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Bắc Kạn ................ 50
iii
2.2.1. Thực trạng về tham nhũng tại tỉnh Bắc Kạn .............................................. 50
2.2.2. Công tác phòng và chống tham nhũng tại Bắc Kạn ................................... 54
2.2.3. Quản lý nhà nước về PCTN của tỉnh Bắc Kạn .......................................... 60
2.3. Đánh giá thực trạng công tác phòng chống tham nhũng tại tỉnh Bắc Kạn ....... 72
2.3.1. Ưu điểm ...................................................................................................... 72
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................................ 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2....................................................................................... 76
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI QLNN VỀ CÔNG TÁC
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TẠI TỈNH BẮC KẠN TRONG THỜI
GIAN TỚI ............................................................................................................ 78
3.1. Định hướng công tác PCTN của tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới ............... 78
3.2. Giải pháp về công tác quản lý nhà nước về PCTN tại tỉnh Bắc Kạn............ 79
3.2.1. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đảm bảo công tác PCTN có
hiệu lực, hiệu quả ................................................................................................. 79
3.2.2. Chú trọng công tác tuyên truyền, quán triệt các văn bản liên quan đến
công tác PCTN tại tỉnh Bắc Kạn .......................................................................... 80
3.2.3. Nâng cao việc thực hiện công tác công khai, minh bạch và kiểm soát
việc kê khai tài sản, thu nhập ............................................................................... 82
3.2.4. Tăng cường kiểm tra, giám sát và thanh tra nhằm phát hiện tham nhũng
trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Bắc Kạn ..................................... 84
3.2.5. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ
quan đơn vị có chức năng PCTN Tỉnh Bắc Kạn.................................................. 88
3.2.6. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, cấp ủy
các cấp, và tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác phòng chống tham nhũng tại
tỉnh Bắc Kạn ......................................................................................................... 91
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình tham nhũng tại tỉnh Bắc Kạn ............................................. 48
Bảng 2.2. Kết quả thực hiện kê khai, công khai việc kê khai tài sản ................. 57
Bảng 2.3: Tổng hợp điểm công tác phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Bắc Kạn
giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018…………………………………………..60
Bảng 2.4. Kết quả công tác tuyên truyền các nội dung về PCTN………………64
Bảng 2.5. Kết quả thanh tra, kiểm tra công tác PCTN từ năm 2015-2017 ……..69
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tham nhũng là hiện tượng phổ biến mang tính toàn cầu. Phản ứng đối
với tham nhũng mang tính xã hội rộng lớn ở khắp mọi nơi, mọi quốc gia, dân
tộc và nhân loại. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ
chính trị, giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển hoặc kém phát triển.
Tham nhũng nảy sinh, tồn tại và hoành hành do sự hư hỏng, biến chất không
chỉ của những người có chức quyền mà còn của cả những người được giao
thực hiện những công vụ bình thường đã làm biến dạng quyền hạn và công vụ
được giao phó. Trong những năm gần đây tình trạng tham nhũng ở trên thế
giới diễn ra đang ở mức báo động khi số nước có nạn tham nhũng nghiêm
trọng đã tăng lên, tệ tham nhũng là nguyên nhân chính của nghèo đói cũng
như là rào cản trong việc chống đói nghèo trên thế giới. Theo nghiên cứu của
Ngân hàng Thế giới World Bank, hàng năm trên thế giới có khoảng 1.000 tỷ
USD bị tham nhũng; chỉ riêng Châu Phi hàng năm có khoảng 150 tỷ USD đã
bị mất hay thất thoát do tham nhũng. Liên Hiệp Quốc đề ra mục tiêu chấm dứt
công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra đã phát hiện xử lý nhiều vụ việc tham ô,
tham nhũng gây thất thoát tiền và tài sản Nhà nước, có những vụ lên đến hàng
tỷ đồng.
Tuy nhiên, công tác đấu tranh PCTN của tỉnh vẫn còn một số mặt hạn
chế như: Công tác phổ biến tuyên truyền pháp luật về PCTN của một số cơ
quan, đơn vị, người đứng đầu còn mang tính hình thức, chưa sâu; sự phối hợp
giữa các cơ quan trong PCTN chưa chặt chẽ; đội ngũ công chức làm công tác
PCTN thiếu tính chuyên nghiệp; công tác cải cách thủ tục hành chính và
cải cách tư pháp còn chậm so với mục tiêu xây dựng một nền hành chính
minh bạch, phục vụ; cơ chế dùng người bộc lộ nhiều yếu kém, thiếu động lực
cho tài năng phát triển; sự thiếu gương mẫu của không ít cán bộ lãnh đạo,
quản lý; việc biểu dương, bảo vệ người tố cáo đúng, người đấu tranh tích cực
còn hạn chế; việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo chưa đáp ứng yêu cầu
2
thực tế, có một số vụ việc kéo dài nhiều năm, gây bức xúc trong quần chúng
nhân dân.
Từ những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế đối với công tác
PCTN của tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua, bản thân tôi là cán bộ đang
công tác tại Ban Nội chính Tỉnh ủy Bắc Kạn, qua học tập, nghiên cứu chương
trình đào tạo thạc sĩ quản lý công, trên cơ sở lý luận và thực tiễn tại địa
phương, tôi chọn chủ đề “Quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham
nhũng tại tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài tốt nghiệp thạc sĩ quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Quản lý nhà nước về công tác phòng chống tham nhũng là đề tài thu hút
nhiều sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các nhà lãnh đạo và quản lý,
những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác
nhau.
Cho đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, hội
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: "Nâng cao chất lượng công tác
tham mưu trong phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Bắc Kạn của Ban Nội
chính, giai đoạn 2016-2020" của tác giả Lý Văn Kỳ, Học viện Chính trị khu
vực I, Hà Nội, 2016. Đề tài chủ yếu hướng vào nhiệm vụ tham mưu của người
làm công tác phòng, chống tham nhũng, nhằm góp phần nâng cao năng lực
công tác tham mưu trong lĩnh vực PCTN, nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng, chống tham nhũng góp phần xây dựng Đảng, chính quyền và hệ
thống chính trị ngày càng trong sạch vững mạnh; giữ vững ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội của tỉnh, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: "Phòng chống tham nhũng trong
các cơ quan thực hiện chức năng phòng, chống tham nhũng" do Ths. Tạ Thu
4
Thủy, Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm đề tài,
2015. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm về công tác phòng, chống tham nhũng,
các nguy cơ tham nhũng có thể xảy ra tại các cơ quan thực hiện chức năng
phòng, chống tham nhũng và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật thời gian
qua, Ban chủ nhiệm đề tài đã đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn
thiện các quy định về thẩm quyền và giám sát việc thực hiện thẩm quyền của
các cơ quan thực hiện chức năng phòng, chống tham nhũng; quy định về chế
tài xử lý đối với hành vi tham nhũng trong các cơ quan thực hiện chức năng
phòng, chống tham nhũng; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
việc phát hiện, xử lý các vụ việc tham nhũng…và các giải pháp, kiến nghị về
nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan
thực hiện chức năng phòng, chống tham nhũng…với mong muốn nâng cao
hiệu quả phòng, chống tham nhũng tại các cơ quan này.
2.3. Sách - các bài viết trên báo, tạp chí liên quan đến đề tài
Sách "Ngành Nội chính Đảng - 50 năm xây dựng và trưởng thành
(1966-2016)", Ban Nội chính Trung ương, Hà Nội, 2016. Cuốn sách này đã
Đảng và nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản của địa
phương.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tổng hợp số liệu từ các tài
liệu thu thập được nhằm lọc ra những số liệu cần thiết cho bài viết.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để làm rõ thực trạng
các hoạt động quản lý nhà nước trong công tác PCTN của tỉnh Bắc Kạn.
8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm cơ sở để nghiên cứu sâu hơn về chủ trương, đường lối của Đảng;
chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng; là
tài liệu giúp cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng
trên địa bàn tỉnh tham khảo để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công
tác phòng, chống tham nhũng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
công tác phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Bắc Kạn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với công tác phòng,
chống tham nhũng.
Chương 2: Thực trạng QLNN về công tác phòng, chống tham nhũng tại
tỉnh Bắc Kạn.
Chương 3: Một số giải pháp đối với công tác phòng, chống tham nhũng
tại tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới.
9
Ngân hàng Thế giới (WB) coi tham nhũng là "Sự lạm dụng chức vụ
công để tư lợi". Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) quan niệm "Tham
nhũng là lạm dụng chức vụ công hoặc chức vụ tư để tư lợi".
Theo tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) thì "Tham nhũng là hành vi của
công chức trong khu vực công, dù là chính trị gia hay công chức dân sự,
trong đó họ làm giàu một cách không đúng đắn hay bất hợp pháp cho bản
thân hoặc cho người thân của họ bằng việc lạm dụng quyền lực công đã được
giao cho họ".
Ở Trung Quốc không có một đạo luật riêng về phòng, chống tham
nhũng. Pháp luật hình sự Trung Quốc quy định các tội phạm tham nhũng
cũng khác Việt Nam như: Không chứng minh được nguồn gốc tài sản; Che
giấu các khoản tiền gửi ở ngân hàng…
Ở Vương quốc Anh, khái niệm tham nhũng được dùng để chỉ hành vi
nhận hối lộ của người có chức vụ, quyền hạn (trong cả khu vực công và khu
vực tư). Các hành vi lợi dụng quyền lực, lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi khác
thì bị coi là hành vi gian lận "Gian lận là hành vi lạm dụng quyền lực để báo
cáo gian dối, khai báo không trung thực nhằm có lợi cho bản thân".
Pháp luật Vương quốc Đan Mạch, Ma-lai-xi-a quy định hành vi tham
nhũng chủ yếu là các hành vi hối lộ. Những hành vi mà một số quốc gia khác
coi là tham nhũng thì ở Đan Mạch và Ma-lai-xi-a coi là vi phạm, tội phạm
kinh tế.
Theo Từ điển Luật học Việt Nam năm 2006: "Tham nhũng là hành vi
lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật, gây thiệt
hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng
đắn của các cơ quan, tổ chức".
Ở Việt Nam, theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì "Tham
nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền
hạn đó vì vụ lợi". Vụ lợi được hiểu là: việc người có chức vụ, quyền hạn đã
11
và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; xây dựng và thực hiện các chế
độ, định mức, tiêu chuẩn; thực hiện quy tắc đạo đức, nghề nghiệp; quy tắc
ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
chuyển đổi những vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng của người có chức vụ,
quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát tài sản, thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn; xác định chế độ trách nhiệm của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị do mình quản lý, phụ trách; cải cách hành chính, ứng dụng khoa học,
công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về PCTN
a. Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát
sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra
ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách
có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để
điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn
định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định.
Quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có
thể là một cá nhân hoặc tổ chức.
- Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ
thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội.
- Đối tượng quản lý: tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy
theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý
khác nhau.
13
nhũng của Bộ Chính trị khóa VII đã chỉ rõ. Đấu tranh chống tham nhũng là
một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách
mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay. Nó góp phần nâng cao vai trò lãnh
đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và kiện
toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của
nhân dân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới
kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân,
thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiều chủ
trương, giải pháp nhằm đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng,
trong đó xác định "Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một
nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp thường
xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội".
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị lần thứ ba Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết về Tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đây là
Nghị quyết đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề cập một cách
toàn diện, tập trung về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nghị
quyết Trung ương ba khóa X đã đưa ra những nhận định, đánh giá về công tác
phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của
những thiếu sót, khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đề
ra những mục tiêu, quan điểm chỉ đạo công tác PCTN, lãng phí.
Mục tiêu của công tác PCTN, lãng phí được nêu trong Nghị quyết
Trung ương ba khóa X là: "Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng
phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong
sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính".
15
quốc, phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
Đại hội XII của Đảng khẳng định quyết tâm chính trị cao trong công tác đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí thể hiện qua bốn vấn đề sau: Thứ
nhất, kiên quyết phòng, chống, trị tận gốc căn nguyên của tình trạng tham
nhũng, lãng phí; Thứ hai, kiên quyết, kiên trì xây dựng cơ chế phòng ngừa,
răn đe, trừng trị tham nhũng, lãng phí; Thứ ba, xử lý nghiêm trách nhiệm của
người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khi để xảy ra tham
nhũng, lãng phí; Thứ tư, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành
động trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
1.1.3. Các dấu hiệu đặc trưng, nguồn gốc và hậu quả của hành vi tham
nhũng
1.1.3.1. Các dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng
Hành vi tham nhũng phải bao gồm đồng thời ba dấu hiệu đặc trưng sau:
Thứ nhất, tham nhũng phải được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền
hạn. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: Người có chức vụ,
quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc
do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao
thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Quy định trên phù hợp với quy định về
người có chức vụ trong Bộ luật hình sự Việt Nam "Người có chức vụ là người
do bổ nhiệm, do bầu cử; do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng
lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định
và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ". Luật
phòng, chống tham nhũng đã quy định bổ sung người có chức vụ, quyền hạn
còn bao gồm: "người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn
trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó", tức là khái niệm chức vụ, quyền
17
1.1.3.2. Nguồn gốc của tham nhũng
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, sự tồn tại quyền lực xã hội là
một tất yếu để đảm bảo sự tồn tại của cộng đồng. Trong cộng đồng đó, con
người theo bản năng luôn vươn lên để ngày càng thỏa mãn nhu cầu vật chất
và tinh thần. Sự vươn lên không đồng đều của từng nhóm người dẫn đến sự
phân hóa xã hội (từ cộng đồng nguyên thủy chất phát, bình đẳng, cùng làm
cùng hưởng, dần dần hình thành các thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc… và các
thiết chế quyền lực thô sơ ra đời). Theo đó, quyền lực xã hội vốn trong sáng
cũng dần bị tha hóa. Trong hoàn cảnh đó, một số người (Tộc trưởng, Tù
trưởng…) đã lợi dụng quyền lực cộng đồng trao chiếm đoạt công khai hoặc
không công khai tài sản cộng đồng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, chế độ tư
hữu ra đời và phát triển. Bản chất hành vi này chính là hành vi tham nhũng.
Vì vậy, tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử, xuất
hiện gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự xuất hiện các thiết chế
quyền lực xã hội. Trong các dạng quyền lực xã hội thì quyền lực Nhà nước là
một dạng quyền lực rất dễ bị lợi dụng để tham nhũng. Vì vậy, có thể khẳng
định rằng tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ xã hội với những biểu hiện và mức
độ khác nhau, tùy thuộc bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia,
mỗi vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn phát triển.
Trong xã hội hiện đại, tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia không
phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế giàu hay nghèo. Trong
từng quốc gia, tham nhũng có thể xảy ra ở nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Tham nhũng luôn xong hành cùng quyền lực. Nhiều người coi tham nhũng là
"bóng tối vươn theo quyền lực", thậm chí là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền
lực. Chừng nào các hình thức quyền lực chính trị còn bị tha hóa, quyền lực
Nhà nước còn bị lợi dụng, quyền lực không được kiểm soát thì nguy cơ xảy ra
tham nhũng là hiện hữu. Nhận thức như vậy để chúng ta ý thức rõ ràng nguy
19