BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…
…
…
…/
…
…
…
…
…
…
/
…
…
HỌ
C
VIỆ
N
HÀ
NH
CHÍ
NH
QU
ỐC
GIA
NGUYỄN
QU
ẢN
HUẾ NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…
…
…
…/
…
…
…
…
…
…
/
…
…
HỌ
C
VIỆ
N
HÀ
NH
NG
TÁ
C
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BẾ
TRUNG ANH
DÂ
N
TỘ
CTỪ
TH
ỰC
TIỄ
N
TỈN
H
QU
ẢN
HUẾ NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý nhà nước về công tác dân tộc - Từ
thực tiễn tỉnh Quảng Bình” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Bế Trung Anh. Các số liệu và trích
tài tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./.
Thừa Thiên Huế, ngày
tháng 8 năm 2019
Học viên
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC
DÂN TỘC................................................................................................................9
1.1. Một số khái niệm................................................................................................9
1.1.1. Dân tộc............................................................................................................9
1.1.2. Vấn đề dân tộc............................................................................................... 11
1.1.3. Quản lý nhà nước........................................................................................... 11
1.1.4. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc........................................................... 12
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc............................................... 13
1.3. Chủ thể và đặc điểm quản lý nhà nước về công tác dân tộc.............................. 16
1.3.1. Chủ thể quản lý nhà nước về công tác dân tộc............................................... 16
1.3.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về công tác dân tộc.....................................22
1.4. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về công tác dân tộc...................25
1.5. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở một số địa phương trong nước và trên
thế giới và bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Quảng Bình....................................... 29
1.5.1. Kinh nghiệm QLNN về công tác dân tộc của các tỉnh...................................29
1.5.2. Kinh nghiệm Quản lý nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới....................30
1.5.3. Một số bài học kinh nghiệm cho việc thực hiện QLNN về công tác dân tộc ở
Quảng Bình............................................................................................................. 33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN
3.2.4. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu
số và cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân tộc các cấp...........................87
3.2.5. Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra...................................................... 88
3.2.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong đồng bào
dân tộc thiểu số........................................................................................................ 88
3.3. Một số kiến nghị............................................................................................... 89
KẾT LUẬN............................................................................................................ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 96
PHỤ LỤC.............................................................................................................101
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nằm ở vùng eo thắt của dải đất miền Trung, Quảng Bình là một tỉnh có điều
kiện tự nhiên phức tạp và khí hậu khắc nghiệt. V ng đất Quảng Bình là nơi có
truyền thống đoàn kết, gắn bó trong các tộc người cùng chung sống trên mảnh
được triển khai đem lại kết quả tốt. Các dự án định canh - định cư, dự án hỗ
trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng tộc người Rục; chính sách hỗ trợ hộ đồng
bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; các chính sách về tín dụng, y tế, giáo
dục; ch nh sách đối với người có uy t n trong đồng bào dân tộc thiểu số... đã
thực sự là những ngọn gió lành làm tươi mát cuộc sống vốn dĩ đầy khó khăn,
vất vả của đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ vậy, đời sống của kinh tế, văn hóa,
xã hội của đồng bào dân tộc ngày càng khởi sắc.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, công tác dân tộc trên địa bàn
tỉnh cũng còn những hạn chế, bất cập cần khắc phục. Nhận thức, trách nhiệm
về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc của một số cấp ủy, chính quyền, đoàn
thể nhất là ở cơ sở còn bất cập [37]; tổ chức, bộ máy cơ quan công tác d n tộc
thiếu ổn định và xuyên suốt; việc ban hành văn bản chỉ đạo, điều hành thực
hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc còn chậm; phân công chủ trì chỉ đạo
thực hiện chính sách dân tộc chưa hợp lý; việc phối hợp giữa các ngành có
lĩnh vực chưa chặt chẽ, còn chồng chéo; nguồn lực thực hiện các chính sách
còn thiếu; đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc còn thiếu về số lượng, chưa
được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ công tác dân tộc; công tác thanh tra,
kiểm tra thực hiện công tác dân tộc còn yếu. Hoạt động của các tổ chức trong
hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều xã v ng đồng bào dân tộc còn yếu.
Thực tế trên cần được xem xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học để
có những giải pháp phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển ở vùng dân tộc, miền
núi, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh.
Để góp phần giải quyết những tồn tại, hạn chế trong thực hiện công tác
dân tộc trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà
nước về công tác dân tộc - Từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” để làm luận văn
tốt nghiệp.
2
(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2005), đề cập đến một số nội dung về
vấn đề lý luận chính sách dân tộc, các vấn đề về kinh tế, mối quan hệ giữa
kinh tế và văn hóa trong phát triển, vai trò của cơ quan công tác d n tộc và cơ
quan hành chính các cấp trong việc thực hiện chính sách dân tộc; đổi mới nội
dung, phương thức công tác dân tộc, quan hệ dân tộc, tình hình di dân, nguồn
nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số, xác minh thành phần dân tộc.
3
-
Sách “60 năm công tác dân tộc - thực tiễn và bài học kinh nghiệm” của
Viện Dân tộc - Ủy ban Dân tộc (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2006),
cuốn sách đã tập trung đánh giá quá trình hình thành và phát triển của cơ quan
làm công tác dân tộc, về quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc,
vai trò của các tổ chức, cơ quan chức năng trong công tác d n tộc, mối quan
hệ giữa cơ quan công tác dân tộc với các cơ quan khác trong hệ thống chính
trị và các tổ chức xã hội, về chính sách dân tộc, về công tác dân tộc ở địa
phương và về cán bộ làm công tác dân tộc.
-
Sách “Lịch sử Ủy ban Dân tộc 1946 – 2011” của Ủy ban Dân tộc (Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011), cuốn sách đã khái quát chặng đường
65 năm hình thành và phát triển của cơ quan công tác d n tộc; phản ánh cụ thể
những đóng góp chủ yếu của cơ quan công tác d n tộc đối với sự nghiệp cách
mạng; đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo thực
hiện chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong suốt quá
trình cách mạng.
-
Sách “Cơ hội và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu số khi Việt Nam
gia nhập WTO” của Viện Dân tộc - Ủy ban Dân tộc (Nxb Lý luận Chính trị,
Hà Nội, năm 2008), đã tập trung chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với
vùng dân tộc thiểu số trong quá trình hội nhập; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ làm công tác dân tộc đáp ứng yêu cầu hội nhập; phát triển nguồn nhân lực
các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế; chính sách dân tộc và yêu cầu đổi mới khi Việt Nam hội nhập
quốc tế; nhận thức và hành động của cơ quan công tác d n tộc các địa phương
trong quá trình họi nhập.
- Sách “Chính sách dân tộc trong những năm đổi mới - Thành tựu cùng
những vấn đề đặt ra” của Tạp Chí Dân tộc - Ủy ban Dân tộc (Nxb Chính trị - Hành
chính, Hà Nội, năm 2010). Các bài viết đã tập trung đánh giá những thành tựu và
hạn chế trong thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc ở nước ta trong những
năm đổi mới; xác định việc thực hiện tốt chính sách dân tộc là nhiệm vụ chính trị
thường xuyên và quan trọng của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp; kiến
nghị bổ sung, sửa đổi, ban hành chủ trương, chính sách và pháp luật mới để tiếp tục
đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan
và và cán bộ làm công tác dân tộc từ trung ương đến cơ sở.
- Sách “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt
Nam”, của Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
năm 1999). Các tác giả đã đưa ra những lý giải về một số khái niệm liên quan đến
vấn đề dân tộc và thực tiễn vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam.
5
trương, chính sách và pháp luật về vấn đề dân tộc; tăng cường, đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc.
Những công trình nghiên cứu kể trên đã được công bố, đăng tải trên các
tạp chí, xuất bản thành sách của các nhà khoa học hành chính, khoa học chính
trị đã tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài mà tác
6
giả lựa chọn. Nhưng các đề tài, nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả
chỉ mới nghiên cứu ở những địa phương khác, chưa có công trình nào nghiên
cứu tại địa bàn tỉnh Quảng Bình. Do đó, tác giả chọn địa phương này nghiên
cứu làm luận văn Thạc sĩ. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo và
tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên.
3.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
-
Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là chỉ ra minh
chứng khoa học để hoàn thiện hoạt động QLNN về công tác dân tộc trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình. Từ đó tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu
quả trong hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài là:
+ Làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về công tác dân tộc;
+
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ và hệ thống hóa các quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta về hoạt động
QLNN về công tác dân tộc.
Phân tích thực trạng, chỉ ra những thành công và hạn chế, các nguyên
nhân trong hoạt động QLNN về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN
về công tác dân tộc tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về công tác dân tộc cho
đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dân tộc và trong hoạt động quản lý
nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương.
Chương 1. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Chương 2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình,
Chương 3. Quan điểm, giải pháp tiếp tục hoàn thiện hoạt động quản lý
nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chung một
nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị xã hội, có ngôn
ngữ, văn hóa chung, thống nhất [44, tr.36]. Như vậy, theo nghĩa này, nói tới dân
tộc là nói tới quốc gia (nation). Sự hình thành dân tộc là sự ra đời Nhà nước –
Nhà nước dân tộc. Nhà nước dân tộc có thể là một tộc người, là dân tộc đơn nhất
như Triều Tiên, Nhật Bản, cũng có thể là nhiều tộc người, là dân tộc đa tộc người
như Việt Nam, Trung Quốc, Nga... Nhà nước dân tộc phải là nhà nước độc lập,
có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền. Dân tộc không chỉ là một cộng đồng người
hay cộng đồng đa tộc người mà còn là một cộng đồng kinh tế, chính trị - xã hội
và văn hóa gắn với nhà nước và những điều kiện lịch sử nhất định.
Theo nghĩa hẹp, dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể (ethnic). Ví dụ: Việt
Nam là một quốc gia đa d n tộc, là quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người,
ngoài tộc người Kinh chiếm đa số về số dân, cón có 53 tộc người thiểu số khác:
Mường, Thái, Tày, Nùng, Ê Đê, Ba Na, Chăm, Khmer... khi nói dân tộc, tộc
người là nói theo nghĩa hẹp. Tộc người trong quốc gia - dân tộc có nhiều tộc
người hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc – quốc gia đó. Các
tộc người bình đẳng (thiểu số cũng như đa số), cùng sinh sống, có chung chế độ
chính trị, nhà nước pháp luật, kinh tế, văn hóa nhưng lại có văn hóa tộc người
riêng của mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống riêng của tộc người).
Như vậy, dân tộc - quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ
quyền. Trong khi đó d n tộc – tộc người lại đặc biệt nổi bật ở văn hóa tộc người.
Trong luận văn này, khái niệm dân tộc được sử dụng theo nghĩa hẹp, tức
là dân tộc – tộc người.
-
Dân tộc đa số: là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả
nước, theo điều tra dân số quốc gia [5].
10
1.1.3. Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền
lực nhà nước, sử dụng pháp luật và ch nh sách để điều chỉnh hành vi của cá
nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ
máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát
triển của xã hội [17. tr 2-3].
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng là
toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất
11
nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Chủ thể
của QLNN theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan của bộ máy nhà nước bao
gồm ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nh n d n cũng là
chủ thể QLNN theo nghĩa rộng khi thực hiện trưng cầu dân ý – bỏ phiếu toàn
dân, hoặc tham gia quản lý nhà nước bằng các hình thức khác. Các tổ chức xã
hội, các cơ quan xã hội... cũng là chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng nếu
được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng nhà nước [51, tr.27-28].
Hiểu theo nghĩa hẹp, là hoạt động của quản lý do cơ quan hành ch nh nhà
nước thực hiện. Đó là hoạt động chấp hành Hiến pháp, pháp luật và điều hành
nhà nước (hay thường gọi đơn giản là hoạt động chấp hành và điều hành). Chủ
thể của QLNN theo nghĩa hẹp là toàn bộ các cơ quan hành ch nh nhà nước đứng
đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan đơn vị, tổ chức
và các cán bộ công chức trực thuộc. Vì vậy, trong thực tiễn quản lý và lý luận
chúng còn được gọi là các cơn quan quản lý nhà nước [51, tr.28,29]. Trong giới
hạn của Luận văn, quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp.
1.1.4. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn hiện nay, “quản lý nhà nước về
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các
dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ
dân tộc; nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để
các dân tộc thiểu số phát huy nội lực cùng phát triển với đất nước (Điều 5).
Quốc hội có quyền quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo
của Nhà nước (khoản 5, Điều 70).
Hội đồng Dân tộc Quốc hội ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các
Ủy ban của Quốc hội còn có một số nhiệm vụ như: nghiên cứu và kiến nghị với
Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách
dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng
bào dân tộc thiểu số; được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc
thực hiện chính sách dân tộc. Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân
tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng dân tộc Quốc hội (Điều 75).
+ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định:
Việc thực hiện công tác dân tộc là một trong những nhiệm vụ và quyền
hạn của Chính phủ (Điều 16). Theo đó, đối với công tác dân tộc, Chính phủ có
những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
13
1) Xây dựng và trình Quốc hội quyết định chính sách dân tộc của Nhà
nước.
2)
Quyết định chính sách cụ thể nhằm đảm bảo thực hiện chính sách các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm
Trên cơ sở đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật đã được ban
hành, trong đó phải kể đến các văn bản quan trọng như Nghị định số
05/2011/NĐ - CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc. Đ y là
văn bản có tính pháp lý cao nhất quy định cụ thể về nội dung quản lý nhà
nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; Quyết định số 449/QĐ - TTg
ngày 12/03/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược công tác dân tộc
đến năm 2020. Chiến lược công tác dân tộc đã xác định rõ những định hướng
và giải pháp cụ thể nhằm đạt được mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa các nhóm dân tộc thiểu số và đa số, giữa vùng dân tộc thiểu số miền núi
với các địa bàn trong cả nước. Chiến lược công tác dân tộc đã đánh dấu một
bước phát triển mới trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc;
Nghị định số 13/2017/NĐ - CP ngày 10/02/2017 của Chính phủ về quy đinh
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Ủy ban Dân tộc.
- Nội dung của công tác QLNN về công tác dân tộc:
Nội dung của công tác QLNN về công tác dân tộc được quy định cụ thể
tại Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ, theo đó:
1)
Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc
gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc; thẩm định các
Chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kin tế xã hội vùng dân tộ thiểu số.
2)
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây
dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, ch nh sách đặc thù, các
chương trình, dự án, đề án phát triển v ng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
chủ động tham gia vào quá trình thực hiện; tuyên truyền về truyền thống đoàn
kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các
phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ
chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống.
1.3. Chủ thể và đặc điểm quản lý nhà nƣớc về công tác dân tộc
1.3.1. Chủ thể quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ
thống quản lý nhà nước. QLNN về công tác dân tộc là việc quy định các nội
dung, nhiệm vụ công tác nhằm tạo các điều kiện để các dân tộc phát triển; là
thực hiện các quy trình quản lý nhà nước từ kh u ban hành văn bản pháp luật,
tổ chức bộ máy thực hiện chủ trương, ch nh sách d n tộc, kiểm tra giám sát,
đánh giá, x y dựng và nhân rộng mô hình, khai thác các nguồn lực trong việc
thực hiện các mục tiêu công tác dân tộc nhằm đạt các mục tiêu phát triển đối
với đồng bào dân tộc [52, tr.109].
16