Đổi mới quản lý nhà nước về công tác thi đua khen thưởng ở địa phương Ninh Bình - Pdf 19


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngay từ khi Nhà nước ra đời Đảng nhà nước Bác Hồ đã rất quan tâm đến
Thi đua, khen thưởng Người nói “Thi đua là yêu nước, ai yêu nước thì phải thi
đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất ”
1
, và công việc
hàng ngày chính là nội dung thiết thực của thi đua. Phong trào thi đua yêu nước
do Người khởi xướng và lãnh đạo từ những năm đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp đã nhanh chóng phát triển thành phong trào sâu rộng và liên tục qua
nhiều thập kỷ, trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước. “Thi đua, khen thưởng
là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thi
đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày”. Từ thực
tiễn quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh Ninh Bình, nhất là trong những
năm đổi mới vừa qua càng thấy được vai trò, vị trí của công tác thi đua, khen
thưởng trong mỗi bước phát triển và trưởng thành của tỉnh, dù ở lĩnh vực nào và
thời điểm nào đều có sự đóng góp quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng với
các phong trào thi đua “bị buông lỏng” chưa trở thành động lực mạnh mẽ động
viên cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân, khen thưởng chưa gắn chặt với công tác thi
đua, chưa phát huy mạnh mẽ tác dụng khuyến khích động viên thi đua, nhất là
trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Để khắc phục tình
hình trên đây của công tác thi đua, khen thưởng, một trong những vấn đề đặt ra
cần giải quyết phải đổi mới công tác thi đua, khen thưởng mà trước hết là đổi
mới quản lý nhà nước đối với công tác này.
Là một công chức đang công tác tại Ban Thi đua, khen thưởng tỉnh Ninh
Bình, để kết thúc khóa học Cao học Quản lý hành chính công tôi chọn đề tài
“Đổi mới quản lý nhà nước về công tác thi đua khen thưởng ở địa phương”
và mong rằng đề tài này có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình vào quản lý
công tác thi đua, khen thưởng ở địa phương.

2
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG VÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG
1.1. Một số vấn đề lý luận về thi đua, khen thưởng.
1.1.1. Khái niệm thi đua.
- Nghiên cứu quá trình hợp tác giữa con người và con người trong lao
động sản xuất, thấy được hiện tượng diễn ra một cách khách quan trong quá
trình hợp tác lao động, Mác đã đưa ra khái niệm về thi đua "Thi đua nảy nở
trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con
người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt nghị
lực sinh động tăng thêm nghị lực cho riêng từng người"
2
Bàn về ngày thứ bảy lao động cộng sản Lê Nin đã nói đến thi đua xã hội
chủ nghĩa đó là phong trào lao động tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn,
xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi ách áp bức
bóc lột. Lê Nin coi đây là một sáng kiến vĩ đại, chính quyền cách mạng cần
chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm.
Phêđôxêép nhà khoa học Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây cho
rằng "Thi đua là sự đọ sức trong lao động và sáng tạo, mang đặc tính của con
người trong xã hội, được sinh ra bởi sự hợp tác lao động và bởi mối quan hệ xã
hội của con người trong quá trình sản xuất ", " Thi đua xã hội chủ nghĩa là mối
quan hệ xã hội mới có lịch sử. Nó mang tính sáng tạo xã hội của giai cấp công
nhân, thi đua xã hội chủ nghĩa xuất hiện như là nhiệt tình cách mạng là hành
động tự giác của quần chúng lao động - những người đã tổ chức sản xuất xã hội
theo kiểu mới trong lao động".
3

- Ngay từ khi Nhà nước ta mới ra đời Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chú trọng đến công tác thi đua. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh thi đua tồn tại khách

4

1.1.2. Khái niệm khen thưởng.
Khen thưởng là công việc đã tồn tại khá lâu trong lịch sử xã hội, gắn liền
với thưởng phạt của nhà nước thuộc các chế độ xã hội khác nhau.
Khen thưởng đã được thực hiện ở nước ta từ các triều đại phong kiến
trước đây. Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã ghi rõ những
hình thức khen thưởng như sau:
“- Khen thưởng người có công trong chiến trận
4
Luật Thi đua, khen thưởng. Ban Thi đua khen thưởng Trung ương. Hà Nội 2006. Trang 15.
4
- Khen thưởng người có công trong việc đi sứ
- Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức
- Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài
- Khen thưởng người có lời tâu đúng
- Khen thưởng người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người
quyền quý cấp trên
- Khen thưởng người có công làm thủy lợi
- Khen thưởng người có tài văn chương
- Khen thưởng người cao tuổi ”
5

Qua những hình thức khen thưởng đó chứng tỏ các triều đình phong kiến
đã biết khích lệ động viên mọi người hăng hái lập công, để được khen thưởng.
Đó chính là tinh thần yêu nước sâu sắc của dân tộc.
Nguyễn Trãi đã từng nói: "Một Nhà nước mà thưởng phạt nghiêm minh,
kịp thời là nhà nước vững mạnh. Nhà nước nào phạt nhiều hơn thưởng là nhà
nước đang suy tàn. Nhà nước nào thưởng nhiều hơn phạt là nhà nước phồn vinh"
Đảng, Bác Hồ đã rất quan tâm đến việc biểu dương khích lệ động viên

nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối
với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
6

1.1.3. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng.
- Thi đua và khen thưởng quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng lẫn nhau.
Là hai thành tố hữu cơ của một quá trình dẫn đến một hiệu quả chung. Mối quan
hệ đó biểu hiện:
Thi đua là động lực thúc đẩy cá nhân và cộng đồng hoàn thành nhiệm vụ
trên cơ sở đó thực hiện khen thưởng, thực tế cho thấy:
Ở đâu phong trào thi đua thực sự là động lực thì ở đó xã hội phát triển
quần chúng phấn khởi và khen thưởng chuẩn xác, ngược lại ở đâu phong trào thi
đua yếu, hoặc không có phong trào thi đua ở đó xã hội trì trệ công tác khen
thưởng không chuẩn xác, quần chúng kém phấn khởi, thậm chí có những tiêu
cực.
Khen thưởng vừa là kết quả, vừa là yếu tố thúc đẩy phong trào thi đua
phát triển, thực tế cho thấy:
6
Luật Thi đua, khen thưởng. Ban Thi đua khen thưởng Trung ương. Hà Nội 2006. Trang 15.
6
Ở đâu làm tốt công tác khen thưởng, công tác này được đánh giá khách
quan, công minh trên cơ sở phong trào thi đua thì ở đó quần chúng phấn khởi, có
được phong trào thi đua mới, tốt hơn và ngược lại.
Bác Hồ coi thi đua là đoàn kết, là cải tạo con người. Theo Bác thi đua
phải toàn dân toàn diện, thường xuyên . Đặc biệt bác nhấn mạnh Thi đua phải
gắn với khen thưởng một cách đích đáng; khen thưởng phải có tác dụng động
viên, giáo dục nêu gương; Bác khái quát bản chất của mối quan hệ giữa thi đua
và khen thưởng là: “thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Như vậy
có tổ chức tốt phong trào thi đua thì kết quả khen thưởng mới chính xác, mới có
tác dụng giáo dục, nêu gương, động viên khuyến khích, hơn nữa còn tạo điều

chức trong hệ thống chính trị tham gia các phong trào thông qua đó phát huy
được nội lực của mỗi người, mỗi đơn vị, địa phương trong cả nước góp phần
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
- Thi đua là hoạt động rộng khắp ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã
hội các ngành, các cấp, rất đa dạng, phong phú, đồng thời mục tiêu, hình thức,
biện pháp thi đua thường xuyên cần thay đổi để phù hợp với sự phát triển kinh tế
- xã hội.
Kết quả thi đua cần có sự đánh giá đúng, khách quan, có thưởng phạt kịp
thời, rõ ràng để động viên khuyến khích mọi tầng lớp trong xã hội tham gia vào
phong trào thi đua.
Lịch sử cho thấy các nhà nước trước đây trên thế giới cũng như ở Việt
Nam đều thực hiện vai trò thưởng phạt, đó là ban thưởng những người có công
và trách phạt những người có tội.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác thi đua, khen
thưởng, sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động thi đua, khen thưởng thì mới
có được sự thống nhất, tạo được sức mạnh để thi đua trở thành động lực thúc
đẩy xã hội phát triển. Như vậy, công tác thi đua, khen thưởng đã có đóng góp
không nhỏ vào sự phát triển của nhà nước, do vậy nhà nước phải quản lý công
tác này.
Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 03/5/1998 của Bộ chính trị về đổi mới công
tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới đã chỉ rõ: “Làm rõ vị trí, vai trò
8
quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới, khẳng định vai trò lãnh đạo của
Đảng và quản lý nhà nước đối với công tác thi đua, khen thưởng; kiện toàn và
đổi mới tổ chức - cán bộ của cơ quan tham mưu thi đua, khen thưởng, đổi mới
nội dung và hình thức thi đua, khen thưởng "
1.3. Nôị dung quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng.
Luật thi đua, khen thưởng đã được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và

của nhà nước là sự thể hiện, cụ thể hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công
tác thi đua, khen thưởng, đồng thời cũng là sự tập trung nguyện vọng của quần
chúng nhân dân trong lao động, sản xuất, công tác, học tập đóng góp vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Văn bản pháp luật tạo ra hành lang pháp lý để các tổ chức, các tầng lớp
nhân dân và các cá nhân phát huy lòng nhiệt tình hăng hái tham gia thi đua và
đón nhận những kết quả, phần thưởng xứng đáng; hành lang đó tạo ra sự thống
nhất công tác thi đua, khen thưởng ở các ngành, các cấp trong cả nước.
Thực tế đã chứng minh ngay từ khi Nhà nước ta mới ra đời trong cuộc
kháng chiến chống Pháp, trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, để huy động
sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân nhà nước đã ban hành các văn bản pháp lý
về thi đua, khen thưởng như: Ngày 20/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra
Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng với lời mở đầu: “Trong một nước, thưởng
phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi,
kiến quốc mới thành công”
8
. Quốc lệnh là văn bản pháp lý đầu tiên về điều kiện
về khen thưởng, đặt nền móng hình thành chính sách khen thưởng; Văn bản này
đã góp phần quan trọng trong phong trào thi đua yêu nước phát triển, làm nên
chiến thắng thần thánh Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và
đi lên chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 1945 - 1998, nhà nước ta đã ban hành 1 quốc lệnh, 15 sắc lệnh, 6
quyết nghị, 5 pháp lệnh và nhiều nghị định, thông tư, chỉ thị để tổ chức thực
hiện công tác thi đua, khen thưởng. Suốt chiều dài hơn 60 năm xây dựng đất
nước công tác thi đua, khen thưởng đã bám sát được chủ trương, chính sách của
8
Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H.1995, Tập 4 tr 163
10
Đảng và Nhà nước, kịp thời đề ra những phương pháp tổ chức thực hiện phù
hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng; đã khơi dậy và phát huy cao độ

Trích Chỉ thi 35/CT-TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị
11
rằng chính sách trong thi đua, khen thưởng được xác định rất quan trọng để
động viên, khuyến khích mọi tầng lớp trong xã hội thi đua lao động, sản xuất và
sáng tạo để phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân.
Luật Thi đua, khen thưởng, các văn bản quy phạm pháp luật, thông tư
hướng dẫn thi hành luật đề cập một cách toàn diện các mặt của công tác thi đua,
khen thưởng; đây là chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Cuộc sống phát triển rất sinh động phong phú, phong trào thi đua, khen
thưởng cũng không ngừng phát triển phong phú đa dạng nhất là ở các ngành, các
địa phương cho đến cơ sở. Do vậy vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về công
tác thi đua, khen thưởng là xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng, chính
sách này phải đáp ứng kịp thời sự phát triển cuộc sống xã hội thậm chí của mỗi
ngành, mỗi cấp đặc biệt của địa phương và cơ sở.
Trong thời kỳ kháng chiến, đất nước còn nghèo và còn nhiều khó khăn,
các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng chỉ nhằm động viên tinh thần là
chủ yếu; đến nay, nền kinh tế đang phát triển, nhất là với cơ chế thị trường và
hội nhập quốc tế, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến quyền lợi và chế độ đối
với người lao động nói chung và đối với những cá nhân, tập thể có thành tích
cống hiến được khen thưởng nói riêng. Do vậy khi xây dựng chính sách về thi
đua, khen thưởng phải chú trọng đến chế độ khen thưởng nhằm khuyến khích,
động viên những cá nhân, tập thể hăng hái trong phong trào thi đua yêu nước.
Châm ngôn xưa đã được nhân dân ta đúc kết “Trăm đồng tiền công,
không bằng một đồng tiền thưởng”. Nó thể hiện sự trân trọng giá trị vật chất và
tinh thần, đảm bảo giá trị kết quả thi đua, đó là giá trị của khen thưởng. Hiện nay
trong cơ chế thị trường thì giá trị vật chất lại càng thể hiện được nguyên tắc “vật
chất quyết định ý thức” có nghĩa là khen thưởng có tác dụng trở lại thi đua.
Thực tiễn cho ta thấy rõ tác dụng to lớn của chính sách trong công tác thi
đua, khen thưởng khi kết hợp giữa động viên tinh thần, gắn với quyền lợi vật
chất, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng trong khen thưởng sẽ là động lực cho thi

tổ chức thực hiện thi đua, khen thưởng là một khâu rất quan trọng vì thế trong
Luật Thi đua, khen thưởng cũng quy định rõ và đó là một vấn đề mà nhà nước
cần phải quản lý.
10
Điều 12, Điều 13 Luật Thi đua, khen thưởng
13
Đối với cấp Trung ương, nhà nước có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến,
hướng dẫn để các ngành, các địa phương quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung
của các quy định pháp luật đồng thời có sự hướng dẫn các ngành, các địa
phương tổ chức thực hiện các quy định pháp luật ấy. Trên cơ sở đó, các ngành,
các cấp trong cả nước thống nhất nhận thức và hành động.
Đối với địa phương gồm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau
khi được quán triệt và hướng dẫn tổ chức thực hiện, chính quyền cấp tỉnh vận
dụng vào đặc điểm cụ thể của địa phương từ đó có kế hoạch tuyên truyền, phổ
biến hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật đối với cấp huyện
và các Ban ngành, đoàn thể ở địa phương.
Đối với cấp huyện cũng tương tự như vậy. Một khi toàn bộ các cấp, các
ngành thực hiện nhiệm vụ này sẽ tạo ra được sự thống nhất nhận thức, hành
động trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở đối với các quy định pháp luật về
thi đua, khen thưởng.
Nội dung này, vấn đề hướng dẫn và tổ chức thực hiện có ý nghĩa rất đặc
biệt, vì có tổ chức thực hiện luật, các văn bản quy định của pháp luật mới trở
thành hiện thực trong cuộc sống, nhà nước mới thực sự quản lý được công tác
thi đua, khen thưởng. Từ đó công tác thi đua, khen thưởng tạo sự quản lý thống
nhất từ Trung ương đến cơ sở. Mới trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội.
1.3.4. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm việc thực
hiện các quy định pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Nội dung thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm
việc thực hiện các quy định pháp luật về thi đua, khen thưởng được quy định tại
Điều 96 Luật Thi đua, khen thưởng. Có nội dung này vì quản lý nhà nước ở bất

tâm thường xuyên để Luật Thi đua, khen thưởng thực sự đi vào cuộc sống, đảm
bảo được nguyên tắc của thi đua là tự nguyện, tự giác, nguyên tắc của khen
thưởng là chính xác, công khai, công bằng và kịp thời. Có được như vậy thi đua,
khen thưởng mới thực sự là động lực cho mỗi cá nhân, tập thể trong lao động,
sản xuất, công tác, học tập tốt hơn và mới có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội của địa phương cũng như của đất nước.
15
1.3.5. Hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng.
Đất nước đổi mới, mở cửa, hội nhập tạo điều kiện cho các lĩnh vực công
tác giao lưu, học hỏi, tiếp nhận sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Do vậy đây là nội dung nhà nước cần quản lý đối với công tác thi đua, khen
thưởng gồm:
Trao đổi học tập kinh nghiệm quản lý của các nước bạn về khen thưởng
và về các chính sách khuyến khích người dân tham gia vào công việc của xã hội.
Giới thiệu hình thức thi đua, khen thưởng của Việt Nam với các nước bạn.
Theo dõi phát hiện những cá nhân, tổ chức nước ngoài có đóng góp đối
với Việt Nam trong các ngành, lĩnh vực và các địa phương.
Đề xuất những hình thức khen thưởng đối với những cá nhân tổ chức
nước ngoài đã có những đóng góp hiệu quả trong việc giúp Việt Nam xây dựng,
phát triển kinh tế hoặc giúp các ngành, các địa phương giải quyết được những
vấn đề cần ghi công và khen thưởng.
Với điều kiện nước ta hiện nay nội dung này càng cần được quan tâm hơn
cùng với sự phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế, kêu gọi sự hợp tác đầu tư của
các cá nhân, tổ chức nước ngoài.
1.4.2.6. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác thi đua,
khen thưởng.
Nhà nước, các cấp chính quyền ở địa phương muốn quản lý tốt công tác
thi đua khen thưởng trước hết phải có bộ máy thống nhất, có đội ngũ cán bộ đủ
năng lực, phẩm chất để làm công tác thi đua, khen thưởng.
Muốn có đội ngũ cán bộ tốt thì phải đào tạo bồi dưỡng để nâng cao chất

Từ thực tế tổ chức phong trào thi đua, và công tác khen thưởng trong từng
đợt thi đua, hay hàng năm, hoặc từng giai đoạn qua sơ kết, tổng kết rút ra bài
học kinh nghiệm và đề xuất các chủ trương, giải pháp tiếp tục đổi mới công tác
thi đua, khen thưởng trong giai đoạn tiếp theo góp phần phát triển kinh tế xã hội,
an ninh quốc phòng của địa phương, của đất nước.
17
Nội dung tổng kết phải đánh giá được công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các
cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể trong việc tổ chức các phong trào thi đua
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
Đánh giá về nhận thức vai trò, tầm quan trọng của thi đua, khen thưởng
trong công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước. Tổng kết rút ra được những
bài học kinh nghiệm, các hình thức, nội dung, phương pháp để tổ chức phong
trào thi đua có hiệu quả; về kinh nghiệm xây dựng điển hình tiên tiến, rà soát các
hình thức, nội dung, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng, những vấn đề cần bổ
sung, sửa đổi, vận dụng vào đặc điểm của từng ngành, từng địa phương cho phù
hợp. Trên cơ sở đó đề xuất công tác chỉ đạo, quản lý và các qui trình, thủ tục xét
duyệt khen thưởng, tổng kết theo dõi và chấm điểm thi đua để có các hình thức
tặng thưởng xứng đáng, chính xác, kịp thời.
Trong tình hình thực tế bệnh quan liêu, hình thức còn đang nặng nề trong
các địa phương, đơn vị thì việc tổng kết, sơ kết càng phải đặt ra với chất lượng
cao hơn để tránh hình thức, phô trương, tốn kém mà không hiệu quả.
Trên đây là những nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về công tác Thi
đua, khen thưởng. Những nội dung này quan hệ chặt chẽ với nhau, phải được
tiến hành đồng thời, không thể coi nhẹ nội dung nào.
1.4. Hệ thống cơ quan làm công tác Thi đua, khen thưởng.
Từ khi mới ra đời Đảng và nhà nước rất quan tâm đến việc tổ chức cơ
quan làm công tác thi đua, khen thưởng. Ngày 17/9/1947 đã có Sắc lệnh số
83/SL thành lập Viện Huân chương thuộc Phủ Chủ tịch với nhiệm vụ: giúp Chủ
tịch nước nghiên cứu ban hành các chế độ, thể lệ khen thưởng Huân chương,
Huy chương, xét duyệt, đặt sản xuất và cấp phát các loại Huân chương, Huy

hạn, hàng năm về công tác thi đua, khen thưởng; tổ chức thực hiện chương trình,
kế hoạch sau khi được phê duyệt; tổng hợp tình hình và báo cáo định kỳ về công
tác thi đua, khen thưởng;
4. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định về đối tượng, thủ tục,
quy trình, thời gian xét đối với các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng;
hình thức, thủ tục khen thưởng đơn giản;
19
5. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các mẫu hiện vật khen
thưởng thuộc phạm vi nhà nước quản lý;
6. Trình Bộ trưởng được Thủ tướng Chính phủ phân công ký ban hành
các căn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ban;
7. Tổ chức thực hiện các phong trào thi đua và triển khai thực hiện chính
sách khen thưởng của Đảng, Nhà nước; hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn về thi
đua, khen thưởng đối với các ngành, các cấp;
8. Tổng hợp và thẩm định hồ sơ đề nghị khen thưởng của các cơ quan, tổ
chức để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định khen thưởng hoặc để
Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định khen thưởng;
9. Tổ chức việc chế tạo, bảo quản, cấp phát hiện vật khen thưởng; chuẩn
bị hiện vật kèm theo các hình thức khen thưởng của Chủ tịch nước, Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ; tổ chức thu hồi, cấp đổi hiện vật khen thưởng theo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước;
10. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ cho cán bộ công chức
làm công tác thi đua, khen thưởng ở các ngành, các cấp;
11. Chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của Ban theo mục
tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt;
12. Quản lý, lưu trữ hồ sơ khen thưởng thuộc thẩm quyền quyết định của
Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước;
13. Vận động các nguồn tài trợ và quản lý, sử dụng quỹ thi đua, khen
thưởng Trung ương; chỉ đạo và kiểm tra việc quản lý, sử dụng quỹ thi đua, khen

Thi đua, khen thưởng thuộc phạm vi quản lý của Ban và chịu trách nhiệm về nội
dung các văn bản đã trình;
+ Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh kế hoạch, nội dung thi đua, khen thưởng
cho từng thời kỳ và từng lĩnh vực nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh;
+ Giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức các phong trào thi đua và
thực hiện chính sách khen thưởng tại địa phương;
21
+ Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn tổ chức kiểm tra, đôn đốc các đơn vị
trực thuộc thực hiện công tác thi đua, khen thưởng;
+ Giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trong công tác sơ kết, tổng kết,
phát hiện điển hình, đúc kết kinh nghiệm, nhân rộng phong trào thi đua và các
điển hình tiên tiến; kiến nghị đổi mới công tác Thi đua, khen thưởng; xem xét,
thẩm định, đề xuất các hình thức khen thưởng bảo đảm chính xác, kịp thời theo
đúng quy định của pháp luật;
+ Tổ chức bồi dưỡng về các chủ trương chính sách, nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ về thi đua, khen thưởng cho cán bộ, công chức làm công
tác thi đua, khen thưởng.
+ Kiểm tra việc thực hiện các quy định về chính sách khen thưởng; tham
gia giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác thi đua, khen thưởng.
+ Xây dựng và quản lý quỹ thi đua, khen thưởng theo quy định của pháp
luật;
+ Quản lý, cấp phát hiện vật khen thưởng của địa phương theo phân cấp;
thực hiện việc tổ chức và trao tặng khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Làm thủ tục cấp đổi hiện vật khen thưởng bị hư hỏng, thất lạc và xác nhận các
hình thức khen thưởng;
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng hệ
thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác thi đua, khen thưởng;
- Ở cấp huyện, thị xã có cán bộ chuyên trách làm công tác thi đua, khen
thưởng trực thuộc văn phòng Uỷ ban nhân dân huyện.

Hội đồng tđ - kt các sở,
quận, huyện, thị xã
Th ờng trực TĐ - KT các sở,
quận, huyện, thị xã
Hội đồng thi đua - khen th
ởng các xã, ph ờng
cán bộ thi đua các xã ph ờng
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG Ở ĐỊA
PHƯƠNG (TỈNH NINH BÌNH)
2.2. Tổng quan về công tác thi đua, khen thưởng trong những năm qua ở
nước ta.
2.2.1. Sự hình thành công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta.
Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Bác Hồ, Đảng và
Nhà nước rất quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng. Ngày 20/01/1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng. Đây là văn
bản pháp lý đầu tiên về khen thưởng đặt nền móng để quản lý công tác khen
thưởng của nhà nước ta. Ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số
195 thành lập Ban vận động thi đua ái quốc là cơ quan tham mưu giúp Chính
phủ quản lý, tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng.
Tiếp theo Hồ Chủ tịch lần lượt ký các sắc lệnh đặt ra các loại Huân, Huy
chương của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau đó Quốc hội, Chính phủ ban
hành nhiều lệnh, nghị định với nhiều chủ trương chính sách về thi đua, khen
thưởng theo từng giai đoạn cách mạng. Từ đó đến nay, công tác thi đua, khen
thưởng được xác định là một lĩnh vực quản lý nhà nước, góp phần quan trọng
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Như vậy, công tác thi đua, khen thưởng đã ra đời cùng với nhà nước và có
đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của nhà nước. Tuy nhiên, cũng như lịch
sử dân tộc, công tác thi đua, khen thưởng cùng trải qua những biến cố thăng

khen thưởng đó là:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 83/ SL: ngày 17/9/1947 thành lập
Viện Huân chương thuộc Phủ Chủ tịch với nhiệm vụ “giúp Chủ tịch nước
nghiên cứu ban hành các chế độ thể lệ khen thưởng Huân, Huy chương. Tiếp
theo sắc lệnh thành lập Viện Huân chương, ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí
Minh ra sắc lệnh số 195 thành lập Ban vận động Thi đua ái quốc Trung ương.
25

Trích đoạn Nguyờn nhõn của tồn tại: Quỏn triệt và triển khai Luật Thi đua, khen thưởng và cỏc văn bản hướng dẫn thi hành Tăng cường quản lý nhà nước về cụng tỏc thi đua, khen thưởng theo hướng nõng cao Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức đối với cụng tỏc thi đua, khen Tăng cường sự phối hợp cỏc tổ chức của hệ thống chớnh trị trong cụng tỏc thi đua,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status