Đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10



1 Luận văn
Đổi mới quản lý nhà nước về kết
cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
trong giai đoạn hiện nay 2

Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của các đô thị là kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Hầu hết các nội dung cơ bản của
kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đều do Nhà nước đầu tư xây dựng, quản lý, sử
dụng vào mục đích công. Vấn đề quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật
là một bộ phận quan trọng trong công tác quản lý đô thị, có ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình phát triển của mỗi quốc gia, mỗi đô thị.
Thành phố Tam Kỳ là tỉnh lỵ- trung tâm kinh tế, chính trị và văn
hóa- xã hội của tỉnh Quảng Nam. Từ năm 1997, khi Quảng Nam-Đà Nẵng
được chia tách thành hai đơn vị hành chính, Thành phố được tập trung
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật với tốc độ cao, đóng góp tích
cực cho sự phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Trong quá trình đô thị hóa, còn nhiều tồn tại, yếu kém,

Sách “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS Võ Kim Cương (Nxb Xây
dựng Hà Nội 2004). Sách “Quản lý đô thị” của TS Phạm Trọng Mạnh (Nxb
xây dựng, Hà Nội năm 2002). Sách “Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch
và quản lý đô thị", tác giả Nguyễn Đăng Sơn - Viện Nghiên cứu đô thị và phát
triển hạ tầng (IUSID) (Nxb Xây dựng Hà Nội 2005) Trong các sách nêu
trên, chủ yếu đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về kết cấu hạ
tầng kỹ thuật ở các đô thị lớn trong cả nước và kinh nghiệm quốc tế; đưa ra
một số ý tưởng và quan điểm mới mang tính giải pháp, đột phá để đóng góp
vào việc giải quyết bài toán hắc búa, bức thiết hiện đang đặt ra đối với các
chính phủ và chính quyền đô thị.
Ngoài ra, một số nội dung có liên quan đến công tác quản lý kết cấu hạ
tầng kỹ thuật đô thị đã được đưa ra hội thảo của một số tổ chức như Hiệp hội
các đô thị Việt Nam (năm 2004 tại TP Pleicu - Gia Lai); Hội Khoa học Kinh
tế Việt Nam (năm 2000 tại Hà Nội); Viện Nghiên cứu hợp tác khoa học kỹ
thuật Châu á- Thái Bình Dương (năm 2001).
Trên thực tế, vấn đề “Quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô
thị” chưa có một công trình nghiên cứu nào riêng biệt, cụ thể và có hệ thống.
Hơn nữa, đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành 4

phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay” chưa được nghiên cứu.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu làm luận văn không trùng lắp với các công trình nghiên
cứu đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước
về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung và tại thành phố Tam Kỳ- Tỉnh
Quảng Nam nói riêng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp đổi mới quản
lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam Kỳ đến năm 2010.

vực này, nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình xây dựng, chỉnh trang đô thị,
phát triển kinh tế- xã hội tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quản lý, chỉ đạo
điều hành và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị, nhất là tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết. 6

Chương 1
CƠ Sở Lý LUậN CủA QUảN Lý NHà NƯớc
về kết cấu Hạ tầng kỹ thuật đô thị

1.1. khái niệm, vai trò và đặc điểm của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.1.1. Khái niệm kết cấu hạ tầng và kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.1.1.1. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật nói riêng và kết cấu hạ tầng nói chung ngày
càng được sử dụng nhiều với tư cách là những thuật ngữ khoa học trong các
công trình nghiên cứu và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp
chính quyền từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, ngay nội dung của
thuật ngữ này cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhìn tổng quát chúng ta có
thể thấy tập trung chủ yếu là hai loại ý kiến khác nhau xuất phát từ hai quan
niệm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng của thuật ngữ kết cấu hạ tầng.
Theo nghĩa hẹp, kết cấu hạ tầng được hiểu là tập hợp các ngành phi
sản xuất thuộc lĩnh vực lưu thông, tức là bao gồm các công trình vật chất
kỹ thuật phi sản xuất và các tổ chức dịch vụ có chức năng bảo đảm những
điều kiện chung cho sản xuất, phục vụ những nhu cầu phổ biến của sản

thể chế pháp lý đến hệ thống đảm bảo thông tin kinh tế nhưng cần phải chú
ý là kết cấu hạ tầng không phải là tổng thể cơ học của tất cả các lĩnh vực đó
mà nó chỉ xét đến mối quan hệ "phục vụ", quan hệ "đảm bảo điều kiện" của
các lĩnh vực đó cho nền kinh tế quốc dân (xem sơ đồ 1.1).
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý
của Nhà nước nên quan niệm kết cấu hạ tầng theo nghĩa rộng vì như vậy sẽ
thấy rõ tính hệ thống của toàn bộ các lĩnh vực có tác dụng hỗ trợ cho sản xuất
và đời sống xã hội. Các bộ phận của kết cấu hạ tầng không đứng độc lập riêng
rẽ mà có quan hệ hữu cơ với nhau. Cách nhìn hệ thống đối với kết cấu hạ tầng
theo nghĩa rộng cho phép thấy được vị trí, vai trò tổng thể của kết cấu hạ tầng,
thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận bề ngoài có vẻ như độc lập
và không có liên quan với nhau, từ đó quan điểm, chính sách giải pháp quản
lý khu vực này sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế quốc dân.
Sơ đồ 1.1: Quan hệ giữa kết cấu hạ tầng đối với hoạt động 8

của nền kinh tế quốc dân
về đào
tạo con
người có
trình độ
kỹ thuật,
có sức
khỏe, kỹ
n
ă
ngYêu cầu
về giao
thông,
điện,
thông
tin, đảm
bảo an
toàn
Nhu cầu
về ăn,
mặc, ở,
y tế
nhằm tái
sản xuất
sức lao
động
Nhu cầu
đi lại,

nhau nhưng nhìn chung đều nhất trí rằng kết cấu HTKT đô thị bao gồm những
bộ phận chủ yếu sau đây:
- Các công trình giao thông đối nội và đối ngoại, bao gồm: mạng lưới
đường, cầu, hầm, quảng trường, bến bãi, sông ngòi, kênh rạch, các công trình
đầu mối giao thông, sân bay, nhà ga, bến xe và bến cảng nằm trong phạm vi
quản lý của các công trình giao thông đô thị.
- Các công trình cấp nước đô thị, bao gồm: các nguồn cung cấp nước
mặt hoặc nước ngầm, các công trình kỹ thuật khai thác nguồn nước và sản
xuất nước sạch, hệ thống phân phối nước (đường ống, tăng áp và điều hòa).
- Các công trình thoát nước đô thị, bao gồm: hệ thống cống rãnh, cửa
xả, kênh mương, đê đập, trạm bơm và trạm xử lý nước thải
- Các công trình cấp điện và chiếu sáng đô thị, bao gồm: các nhà máy phát
điện, các trạm biến áp, hệ thống đường dây dẫn điện, cột điện, đèn chiếu sáng
- Các công trình thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông 10
- Các công trình phục vụ công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải đô thị (thùng chứa, các điểm trung chuyển rác, phương tiện thu gom, vận
chuyển, bãi xử lý rác )
- Các công viên, cây xanh phục vụ vui chơi, giải trí và bảo vệ môi trường;
Ngoài ra có quan điểm còn tính đến cả các lĩnh vực nhà ở, hệ thống kho
tàng tập trung, các công trình và tổ chức phục vụ công cộng như tang lễ, y tế,
cơ sở xã hội, phòng chữa cháy, phòng chống lụt bão, động đất v.v
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc của kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ
tầng trên
giác đ
ộ ng
ành

Kết cấu hạ
tầng
Kết cấu hạ
tầng
- Giao
thông
- Cấp nước
- Cấp điện
- VSMT

- Cơ sở giáo
dục đào tạo
-Công viên,cây xanh
-Bệnh viện, trạm xá
-Cơ sở văn hóa công
cộng của đô thị Có
một
phần
phục
vụ
cho

đồng bộ của nhiều “nhánh” khác nhau trong quan hệ tổng thể. Nếu một khâu
nào đó trong hệ thống không được thiết kế xây dựng sẽ ảnh hưởng đến vận
hành toàn bộ, thậm chí gây ách tắc, chẳng hạn một đô thị có đầy đủ các điều 12
kiện thuận lợi về giao thông vận tải (như hệ thống cảng biển, sân bay, đường
bộ, đường sắt ) nhưng cũng không thể khuyến khích phát triển sản xuất công
nghiệp nếu như không có đủ nguồn điện hoặc nguồn nước bị ô nhiễm. Do vậy
tính hệ thống đồng bộ là đặc điểm đặc biệt của kết cấu HTKT đô thị.
Tính hệ thống đồng bộ không những chi phối toàn diện đến thiết kế quy
hoạch đầu tư thiết bị các công trình cụ thể mà còn liên quan đến cách thức
tổ chức quản lý, vận hành kết hợp giữa quản lý theo ngành và theo vùng, lãnh
thổ. Yêu cầu trên càng thể hiện trong những loại kết cấu HTKT mang tính hệ
thống cao như giao thông, bưu chính viễn thông tính hệ thống đồng bộ đặt
ra cho công tác quản lý nhà nước của các cấp chính quyền đô thị là phải kết
hợp một cách đồng bộ và chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành
trên các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu quả, hạn chế thấp nhất lãng phí khi xây
dựng các công trình kết cấu HTKT.
Đặc điểm thứ hai của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị là tính định hướng.
Đặc điểm này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị trí hệ thống kết
cấu HTKT như vốn đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, là yếu tố mở đường
cho các hoạt động kinh tế- xã hội đặc điểm này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có
quy hoạch dài hạn, chiến lược, quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết bố trí
hệ thống kết cấu HTKT. Cách làm chắp vá đến đâu hay đến đấy, sẽ hạn chế
phát triển kết cấu HTKT, thậm chí gây ách tắc, cản trở phát triển kinh tế- xã
hội của đô thị.
Đặc điểm thứ ba của kết cấu HTKT đô thị là tính chất vùng và địa
phương: việc xây dựng và phát triển kết cấu HTKT đô thị phụ thuộc nhiều
yếu tố như địa lý, địa hình, trình độ phát triển, tập quán văn hóa, kiến trúc vì

(khu vực I) ngày càng giảm dần, khu vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ (khu
vực II và III) tăng lên, thỏa mãn ngày càng cao về sản xuất, đời sống và vui
chơi giải trí của xã hội loài người.
Tương ứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực. Lao động khu vực I giảm dần, lao
động khu vực II và III tăng lên. Sự chuyển dịch cơ cấu như trên làm tăng quy
mô dân số trong các khu vực đô thị.
Thứ hai, kết cấu HTKT đảm bảo những điều kiện vật chất thuận lợi
nhất để các cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động có hiệu quả. Thật vậy, chỉ cần
trục trặc trong một khâu nhất định của một loại hoạt động do sự yếu kém của 14
hệ thống kết cấu HTKT gây ra như cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, giao
thông, thông tin liên lạc thì lập tức gây ra sự cố cho hoạt động của các cơ sở
sản xuất và dịch vụ khác. Ngược lại, một hệ thống kết cấu HTKT hiện đại,
đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm,
giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho
các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mang tính cạnh tranh hơn.
Thứ ba, xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, kết cấu HTKT như là hệ
thống huyết mạch của nền kinh tế, có nhiệm vụ thực hiện những mối liên hệ
giữa các bộ phận và các vùng của nền kinh tế. Một mặt, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc sử dụng tốt nhất những tiềm năng của đất nước, mở rộng quan hệ
quốc tế. Mặc khác tạo điều kiện để phát triển kinh tế- xã hội đồng đều, rộng
khắp theo vùng lãnh thổ, làm giảm bớt sự khác biệt về dân trí, mức sống giữa
các vùng.
Thứ tư, hệ thống kết cấu HTKT góp phần nâng cao trình độ văn minh
đô thị, đồng thời là cơ sở quan trọng để giải quyết tốt môi sinh, môi trường,
vấn đề đang đặt ra hết sức bức xúc cho hầu hết các đô thị trên thế giới, nhất là
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Kết cấu HTKT là cơ sở điều kiện

triển KT-XH. Chính vì vậy, sự phát triển của kết cấu HTKT là một tiêu chuẩn
quan trọng để đánh giá trình độ phát triển, trình độ hội nhập của một quốc gia
hay một địa phương.
1.1.4. Đánh giá trình độ phát triển và hiệu quả của kết cấu hạ tầng
kỹ thuật đô thị
1.1.4.1. Về đánh giá trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị
Kết cấu HTKT đô thị có tính độc lập tương đối nên có những chỉ tiêu
đánh giá trình độ phát triển của từng loại kết cấu HTKT nói riêng cũng như
toàn bộ hệ thống nói chung. Đây là hệ thống chỉ tiêu làm cơ sở để lập quy
hoạch và kế hoạch đầu tư xây dựng kết cấu HTKT trong hoạt động quản lý
nhà nước các cấp. Trình độ phát triển của kết cấu HTKT thể hiện ở hai mặt
khác nhau:
Một là, loại phản ánh quy mô và trình độ phát triển của bản thân các loại
kết cấu HTKT như tổng số vốn đầu tư, tỷ trọng đầu tư trong tổng số vốn đầu tư
cho đô thị đang xem xét, số kilômet đường các cấp đã xây dựng, số máy điện 16
thoại, số lượng nước sạch cung ứng, số kilômet đường ống cấp nước, thoát
nước Loại chỉ tiêu này cho biết quy mô, tốc độ phát triển các lĩnh vực HTKT.
Hai là, loại phản ánh chất lượng tổng hợp, phản ánh mối quan hệ giữa
sự phát triển của các loại kết cấu HTKT với sự phát triển của đô thị nói
chung. Khi nghiên cứu lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư kết cấu HTKT thì loại
chỉ tiêu này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Ví dụ chỉ tiêu số mét vuông đường
tính bình quân cho một phương tiện giao thông đang hoạt động hoặc tốc độ
trung bình của phương tiện, tần suất tắc nghẽn giao thông nói lên khả năng
lưu thông trong đô thị; chỉ tiêu thời gian đi lại làm việc trung bình một ngày
của cư dân đô thị nói lên chất lượng hệ thống giao thông và các phương tiện
giao thông công cộng; chỉ tiêu số mét khối nước sạch tiêu dùng của dân cư,

hại gián tiếp do các công trình kết cấu HTKT không đáp ứng được nhu cầu
của phát triển sản xuất và đời sống xã hội. Thiệt hại vô hình do công trình kết
cấu HTKT đã xây dựng nhưng tỷ suất sử dụng quá thấp trong thời gian dài,
hoặc do tỷ suất sử dụng vượt quá khả năng đáp ứng của công trình kết cấu
HTKT. Đây là những vấn đề cần được chú ý khắc phục trong các quyết định
quản lý của chính quyền đô thị.
Theo giáo sư Nhiêu Hội Lâm (Trung Quốc):
Hạng mục xây dựng và dung lượng phục vụ của các công
trình cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư sử dụng một lần rất khó
hoàn toàn ăn khớp với nhu cầu của số lượng người và sản xuất
ngày càng tăng lên. Cho nên biện pháp giải quyết chỉ có thể là
mỗi khi xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị đều phải có chỗ dôi ra làm
cho nó có lượng định trước nhất định. Nên tầng suất sử dụng
hoặc cường độ sử dụng của nó có một quá trình phát triển từ thấp
đến cao. Do đó hiệu ích của cơ sở hạ tầng đô thị tăng trưởng theo
tỷ lệ thuận với tỷ suất sử dụng hoặc cường độ của nó. Nhưng
điều quan trọng là tỷ suất sử dụng và cường độ lợi dụng của cơ
sở hạ tầng đều có giới hạn, vượt quá giới hạn này hiệu quả kinh
tế của nó không chỉ không thể tiếp tục nâng cao mà còn trượt
theo hướng ngược lại, gây nên hiệu ích âm của đô thị, tức hiệu
ích kinh tế tổng hợp đô thị giảm thấp (xem đồ thị 1.1) [33, 18
tr.338].
Đồ thị 1.1: Tỷ suất sử dụng kết cấu HTKT đô thị với quy luật biến đổi
của hiệu quả kinh tế tổng hợp đô thị [33, tr.377]

Hiệu quả kinh tế
tổng hợp đô thị

của các công trình phục vụ công cộng không mang tính chất kinh doanh như:
hệ thống giao thông công cộng, thoát nước đô thị, thông tin liên lạc (hệ thống
phát thanh truyền hình ) được tính như sau [18, tr.42-43]:
Hiệu quả kinh tế của công trình loại này được thể hiện ở tổng chi phí
đầu tư và chi phí sử dụng hàng năm nhỏ nhất:
Ct = V.r – S  min
Trong đó: Ct: tổng chi phí hàng năm,
V: vốn đầu tư vào xây dựng công trình
r: Lãi suất vốn vay của ngân hàng
S: Chi phí sử dụng hàng năm.
Có thể tính chi phí cho một đơn vị giá trị sử dụng của công trình nhỏ nhất:

Ct

V.r + S
Cđvị = =  min
Gsd Gsd

Gsd: giá trị sử dụng tổng hợp của công trình được xác định theo phương
pháp chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo, bởi vì các giá trị sử dụng của công
trình được biểu hiện bằng nhiều hình thức, bằng nhiều đơn vị đo khác nhau
như đơn vị đo công suất phục vụ của công trình: số m
2
diện tích, số m
3
nước
sạch, số lượng người tham gia lưu thông hoặc có những giá trị thông qua
chất lượng “phục vụ” bằng cách đánh giá cho điểm của các chuyên gia.
Khi xác định tổng chi phí (Ct) cũng cần lưu ý đến hiệu quả kinh tế bằng
tiền được nảy sinh từ các hiệu quả kinh tế kéo theo mang lại, ví dụ như việc

thị là cung cấp nước phải đầy đủ về số lượng, chất lượng và đặc biệt là phải
tuân thủ nghiêm ngặt Luật bảo vệ nguồn nước. Các nhà máy nước phải xây
dựng theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các đối tượng dùng
nước phải ký hợp đồng với cơ quan chuyên trách.
1.2.1.2. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và củng
cố hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm tạo ra hành lang 21
pháp lý thông thoáng, thuận lợi để đầu tư phát triển kết cấu HTKT đô thị như:
Luật khuyến khích đầu tư, Luật đường bộ, Luật đường sông, Luật bảo vệ tài
nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Nghị định ban hành điều
lệ quản lý quy hoạch đô thị; hay chính sách hỗ trợ phát triển ngành công
nghiệp-dịch vụ, cho phép hình thành quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển đô thị Trên
cơ sở đó, các cơ quan chức năng và các địa phương đề lập quy hoạch, kế
hoạch và thực hiện đầu tư xây dựng kết cấu HTKT ở địa phương mình, đồng
thời có trách nhiệm tuyên truyền giáo dục để mọi tổ chức cá nhân hiểu và tổ
chức thực hiện đạt kết quả cao nhất.
1.2.1.3. Kết cấu HTKT có tính hệ thống, đồng bộ, giữa các lĩnh vực có
mối quan hệ mật thiết với nhau cả về mặt kết cấu kỹ thuật, hiệu quả sử dụng
nhưng mỗi lĩnh vực thường được giao cho một ngành chức năng quản lý, như
các tuyến đường giao thông đối nội do chính quyền đô thị quản lý, nhưng kết
cấu HTKT đi cùng như hệ thống cấp nước do công ty cấp nước quản lý, cấp
điện do điện lực quản lý, cáp quang do bưu điện quản lý gây rất nhiều khó
khăn trong quá trình đầu tư xây dựng cũng như trong quản lý sử dụng (nhất là
đối với các đô thị trực thuộc tỉnh). Do vậy, Nhà nước phải quản lý chặt chẽ và
chỉ đạo các cơ quan này thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất trong quá
trình phát triển các công trình kết cấu HTKT, đồng thời phân công nghĩa vụ,
trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng đầu tư
thiếu đồng bộ gây lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư.

các kết cấu HTKT. Hơn nữa, để giải quyết có mối liên hệ giữa nhiều lĩnh vực
khác nhau trong quản lý kết cấu HTKT, tránh sự chồng chéo trong quản lý,
nhà nước phải thực hiện thường xuyên việc rà soát, củng cố tổ chức bộ máy
và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực, chỉ đạo điều hành và tổ chức thực
hiện nhiệm vụ. Thực hiện sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa các cấp chính
quyền đô thị để bộ máy quản lý nhà nước ngày càng được tinh gọn và hoạt
động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa
đất nước.
1.2.2. Nội dung chủ yếu trong quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng
kỹ thuật đô thị
Thứ nhất, quản lý quy hoạch xây dựng kết cấu HTKT đô thị. Bất kể
một đô thị nào cũng cần có quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội. Trên cơ sở đó,
lập quy hoạch chung làm căn cứ pháp lý để quản lý đất đai và xây dựng đô 23
thị. Trên nền quy hoạch chung các đô thị tiến hành quy hoạch chi tiết và quy
hoạch chuyên ngành đầu tư xây dựng các công trình kết cấu HTKT theo dự án
được duyệt. Đây là nội dung đặc biệt quan trọng, là nhân tố “đi trước, mở
đường”, có ý nghĩa quyết định đến phát triển đô thị trong hiện tại và tương lai.
Khi nhà nước đã phê duyệt chiến lược phát triển hệ thống đô thị với các
kế hoạch dài hạn thì đó là cơ sở pháp lý để triển khai các loại hình quy hoạch
tiếp theo, đăc biệt là quy hoạch phát triển đô thị nói chung và kết cấu HTKT
đô thị nói riêng theo đúng mục tiêu phát triển đã được phê duyệt. ở Việt Nam,
định hướng quy hoạch tổng thể đã khẳng định mục tiêu:
Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, có
cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, môi trường đô thị
trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước,
đảm bảo cho mỗi đô thị theo vị trí và chức năng của mình, phát huy
được đầy đủ các thế mạnh, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến

quan điểm đồng tình với cách tiếp cận của phó giáo sư Bùi Trọng Cầu, thông
qua việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và sự hữu ích của kết cấu
HTKT (xem đồ thị 1.2): khi kết cấu HTKT chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ
thống kinh tế- xã hội, việc đầu tư HTKT mang lại hiệu quả rất lớn. Khi tăng
chi phí đầu tư cho HTKT thì lợi ích mà HTKT mang lại tăng lên rất nhanh
chừng nào cung còn nhỏ nhiều hơn cầu, tiếp tục đầu tư, lợi ích này vẫn tăng
nhưng tốc độ tăng ngày càng giảm khi cung gần đáp ứng được cầu và giảm rất
nhanh khi cung đã vượt cầu. Lúc này nếu tiếp tục đầu tư, lợi ích HTKT mang
lại tăng ngày một chậm dần tới mức không tăng nữa, và việc đầu tư ngày càng
trở nên kém hiệu quả và dần tới trở thành lãng phí hoàn toàn.
Cũng theo phó giáo sư Bùi Trọng Cầu: quy mô đầu tư tối ưu cho các
hệ thống hạ tầng là quy mô khi đầu tư một đơn vị chi phí biên thu lại được
một đơn vị lợi ích biên tương ứng. Đó là điểm mà cung và cầu về các dịch vụ
hạ tầng bằng nhau.
Đồ thị 1.2: Khái niệm về quy mô đầu tư hạ tầng tối ưu [9, tr.30] Chi phí đầu tư h

tầng C (đ)
L
ợi ích đầu t
ư U (đ)
0
tối ưu
Lợi ích của Đầu tư
Hạ tầng U = f(C)

Thứ ba, quản lý đầu tư và xây dựng. Trong xu thế phát triển hiện nay,
công trình kết cấu HTKT đô thị có quy ngày càng lớn và yêu cầu chất lượng
cũng ngày càng cao. Đây là một thách thức lớn, đòi hỏi các cơ quan quản lý

Trích đoạn Về quản lý sử dụng và khai thác các cơng trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Tam Kỳ Bộ máy quản lý nhà nước của thành phố Tam Kỳ Những tồn tạ Nguyên nhân khách quan Nguyên nhân chủ quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status