Luận án tiến sĩ kinh tế chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế việt nam - Pdf 60

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------------000--------------

TRẦN HUY TÙNG
CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 9.34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019


NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------------0O0---------------

TRẦN HUY TÙNG

CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM


trình học tập, nghiên cứu giúp tác giả hoàn thành luận án.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Sau Đại học cùng các Thầy cô tham gia
giảng dạy chương trình nghiên cứu sinh. Những kiến thức thực tiễn, phương pháp nghiên
cứu hiện đại mà các giảng viên chương trình đào tạo nghiên cứu sinh cung cấp giúp tôi rất
nhiều trong luận án này.
Lời tri ân sâu sắc nhất xin được gửi đến PGS.TS. Lê Thị Tuấn Nghĩa và TS.
Nguyễn Thị Phương Lan đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, chia sẻ và giúp đỡ tác giả
trong quá trình nghiên cứu, thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu. Các định hướng cũng như
sự chỉ bảo tận tâm của giảng viên hướng dẫn đã giúp tác giả hoàn thành luận án.
Cuối cùng, xin được gửi tặng kết quả nghiên cứu này tới gia đình thân yêu và
những người bạn, đồng nghiệp đã đồng hành cùng tác giả. Chính sự yêu thương, chia sẻ
và động viên của những người thân là động lực to lớn để luận án này được hoàn thành.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 08 năm 2019
Tác giả luận án

Trần Huy Tùng


MỤC LỤC
Phần mở đầu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỀU HỐI
1.1.1. Sự di cư và dịch chuyển lao động
1.1.2. Khái niệm kiều hối
1.1.3. Phân loại kiều hối
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.2.1. Tác động của kiều hối tới phát triển kinh tế qua tích luỹ vốn
1.2.2. Tác động của kiều hối tới phát triển kinh tế thông qua nguồn nhân lực

3.1. QUAN ĐIỂM VỀ CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI TẠI VIỆT NAM

Trang
1
30
30
30
31
35
39
40
43
44
46
46
47
49
53
53
53
60
67
67
67
73
78
79
79
87
94

Phụ lục 2: Phỏng vấn chuyên sâu đối tượng người gửi kiều hối
Phụ lục 3: Phỏng vấn chuyên sâu đối tượng trung gian nhận và chi trả kiều hối
Phụ lục 4: Phỏng vấn chuyên sâu đối tượng các cán bộ của tổ chức trung gian
Phụ lục 5: Phỏng vấn chuyên sâu đối tượng cán bộ hội nông dân
Phụ lục 6: Phỏng vấn chuyên sâu đối tượng cơ quan quản lý
Phụ lục 7: Danh mục điều ước, thỏa thuận về hợp tác lao động từ 2010-2017
Phụ lục 8: Bảng 2.9: Kết quả mô hình VECM
Phụ lục 9: Bảng 2.10: Kết quả mô hình VECM đối với mối quan hệ dài hạn
Phụ lục 10: Bảng 2.11: Kiểm định Wald test đánh giá tác động ngắn hạn
Phụ lục 11: Kiểm định PSTEST
Phụ lục 12: Kết quả mô hình Probit

Trang
135
138
138
139
139
147
151
157
157
158
158
159
159
163
171
172
173


Authorized Dealers

Đại lý

3

AI

Artificial Intelligence

Trí tuệ nhân tạo

4

ARCH

AutoRegressive Conditional
Heteroskedasticity

Hồi quy tương quan có điều kiện

5

ASEAN

Association of Southeast Asian
Nations

Hiệp

Difference in Difference

Khác biệt trong khác biệt

10

EAP

East Asia and the Pacific

Châu Á Thái Bình Dương

11

ECA

Europe and Central Asia

Châu Âu và Trung Á

12

FDI

Foreign Direct Investment

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

13


17

GDI

Gross Disposable Income

Tổng thu nhập khả dụng

18

GDP

Gross Domestic Productivity

Tổng sản phẩm quốc nội

19

GMM

Generalized Methods of Moment

20

GNI

Gross National Income

21


Latin America and the Carribean

Châu Mỹ Latinh và Carribe

27

MENA

Middle East and North Africa

Trung Đông và Bắc Phi

28

MTO

Money Transfer Organization

Tổ chức chuyển tiền

29

MTSS

Money Transfer Service Scheme

Cơ chế dịch vụ chuyển tiền

30


NEFT

National Electronic Funds Transfer

32

NHCSXH

Hệ thống chuyển tiền điện tử
quốc gia
Ngân hàng Chính sách xã hội

33

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

34

NHTM

Ngân hàng thương mại

35

NHTW

Ngân hàng Trung ương


Người có gốc Ấn Độ

40

PLMA

41

PSM

42

PTTH

43

RDA

Ruppee Drawing Arrangement

Cơ chế rút đồng Ruppee

44

SAR

South Asia Region

Khu vực Nam Á


hàng và tài chính quốc tế

49

TCTCVM

Tổ chức tài chính vi mô

50

TCTD

Tổ chức tín dụng

51

TCVM

Tài chính vi mô

52

TFP

53

THCS

Trung học cơ sở


Vector Error Correction Model
Vietnam Household Living
Standard Survey

Mô hình vecto hiệu chỉnh sai số
Cuộc điều tra mức sống dân cư
Việt Nam

Đạo Luật phòng chống rửa tiền
Propensity Score Matching

Kết nối điểm xu hướng
Phổ thông Trung học

Total Factor Productivity

Năng suất tổng hợp


DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Bảng 1.1: Các khoản mục liên quan đến kiều hối quy định trong BPM6
Bảng 1.2: Các khoản mục trên cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia
Bảng 1.3: Phân loại kiều hối theo các tiêu chí
Bảng 1.4: Tác động của kiều hối đối với các đối tượng theo mục đích sử dụng của hộ
gia đình nhận kiều hối
Bảng 1.5: Các đợt phát hành trái phiếu dành riêng cho Ấn kiều
Bảng 1.6: Phân loại các nhóm tổ chức cung ưng dịch vụ kiều hối tại Ấn Độ
Bảng 1.7: Các chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế
Bảng 2.1: Các mốc thời gian di cư quốc tế của người Việt Nam


180

Bảng 2.11: Kiểm định Wald test đánh giá tác động ngắn hạn

181

Bảng 2.12: Giá trị kiều hối và số lượng hộ nhận kiều hối phân theo khu vực
Bảng 2.13: Thống kê mô tả các biến số sử dụng trong mô hình PSM
Bảng 2.14: Kết quả đánh giá tác động mô hình PSM
Bảng 2.15: So sánh tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị và nông thôn đối với 2 trường hợp
Bảng 2.16: Tổng hợp mẫu điều tra khảo sát
Bảng 2.17: Khung chính sách kiều hối tại Việt Nam giai đoạn 1999 – 2018
Bảng 2.18: Các văn bản liên quan tới chính sách cho người lao động ở nước ngoài

90
90
91
92
94
104

Bảng 2.19: Các chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi của Việt kiều
Bảng 2.20: Một số văn bản liên quan tới quản lý dịch vụ chuyển tiền kiều hối
Bảng 2.21: Các cơ quan liên quan đến kiều hối

108
111
112


64

Sơ đồ 2.1: Thể chế quản lý kiều hối tại Việt Nam

116

Sơ đồ 3.1: Khung mục tiêu cho chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế
tại Việt Nam

136

Sơ đồ 3.2: Mối quan hệ giữa quan điểm của người dạy và người học đối với
đổi mới sáng tạo

145

DANH MỤC HÌNH
Tên hình

Trang

Hình 1.1: Tốp 10 quốc gia có lượng người di cư lớn nhất năm 2017

29

Hình 1.2: Tốp 10 quốc gia có lượng người di cư đến nhiều nhất năm 2017

29

Hình 1.3: So sánh chi phí chuyển kiều hối bình quân cho mỗi $200


69

Hộp 2.2: Cách tuyên truyền cho nội dung lao động đi làm việc ở nước ngoài

128

Hộp 3.1: Cơ chế lao động ngắn hạn giữa Moldova và Slovenia

139

Hộp 3.2: Chương trình “Mi Comunidad”

155


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tích cực tăng tỷ lệ tiết kiệm trong thời gian trước khi bắt đầu vào thời kỳ ổn
định là chìa khóa cho sự tăng trưởng dài hạn cho một nền kinh tế theo học thuyết của
mô hình Swan-Solow. Các nước đang phát triển, đặc biệt là quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm
nội địa thấp, luôn có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế và phát
triển bền vững. Tuy nguồn lực trong nước là cơ bản nhưng nguồn lực từ bên ngoài
luôn có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự tăng trưởng bứt phá nhằm đuổi kịp các nền
kinh tế phát triển khác. Để đáp ứng yêu cầu vốn, nhiều quốc gia thường tìm đến thị
trường tài chính trong nước và quốc tế như phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu
quốc tế hay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhận viện trợ phát triển chính thức
(ODA) mà ít quan tâm đến những khoản tiền của các cá nhân chuyển từ nước ngoài về

thực tế, có khá nhiều người nhận tiền trợ giúp của người thân từ nước ngoài và họ đã
thoát khỏi đói nghèo, trẻ em được đến trường; có hộ còn mua thêm tư liệu sản xuất,
mở xưởng sản xuất kinh doanh và thậm chí xuất khẩu hàng hóa (như hàng thủ công
mỹ nghệ, đồ gốm, đồ gỗ…) và như vậy đã tạo ra việc làm…
Bên cạnh những tác động tích cực của dòng kiều đến kinh tế xã hội, không thể
không nói đến những tác động tiêu cực mà nó mang lại, đó là:
(i) Nền kinh tế Việt Nam tỏ ra bị động trước dòng vốn chảy vào quá lớn đột
biến (trong đó có dòng kiều hối): Bản thân nguồn lực tài chính là rất tốt đối với mọi
quốc gia cho tăng trưởng. Tuy nhiên nếu không chủ động và có chính sách phù hợp
cho việc tiếp nhận các dòng vốn quốc tế thì sẽ không tận dụng được những lợi ích của
nguồn lực này mang lại mà trái lại, dòng vốn này có thế gây ra những tác động tiêu
cực đến nền kinh tế nói chung, hệ thống tài chính nói riêng, được biết đến với tên gọi
là “bội thực vốn ngoại”1.
(ii) Tình trạng đô la hóa có thể làm giảm hiệu lực và hiệu quả của chính sách
tiền tệ. Trong điều kiện thị trường ngoại tệ tự do phát triển khá mạnh thì rất có thể là
kiều hối đã góp phần vào tình trạng đô la hóa cao.
(iii) Kiều hối và vấn đề tiêu dùng quá mức: Tuy chưa có nghiên cứu, khảo sát
cụ thể, nhưng cũng có dấu hiệu về biểu hiện tiêu dùng quá mức khi dòng kiều hối chảy
vào gia tăng. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong thời gian kiều hồi về nhiều, thì hàng
nhập khẩu giá trị cao đã tăng lên đáng kể.

Năm 2007, Việt Nam phải đối mặt với khá nhiều vấn đề khi lượng vốn nước ngoài chảy vào quá lớn (trong đó
có khoảng 7 tỷ USD kiều hối). Sự chưa sẵn sàng và chưa thực sự chủ động dẫn đến tình trạng VND lên giá, thị
trường ngoại hối đình đốn vào đầu năm 2008. Để tránh cho VND lên giá, NHNN đã phải mua vào ngoại tệ, đồng
nghĩa với việc phải bơm VND ra và tạo nên áp lực lạm phát. Trong trường hợp các biện pháp trung hòa lượng
VND bơm ra không hiệu quả thì một lượng tiền VND lưu thông quá lớn sẽ gây ra các hiệu ứng tiêu cực lên thị
trường chứng khoán và thị trường nhà đất (bong bóng tài sản).

1


các học giả, nhà làm chính sách trên các phạm vi phong phú. Xu hướng nghiên cứu về
kiều hối bắt đầu xuất hiện với tần suất lớn từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II khi những
quy định cởi mở hơn về vấn đề di cư, nhập cư được các quốc gia áp dụng. Kể từ đó tới
nay, các nghiên cứu nổi bật về kiều hối có thể được chia thành 3 nội dung chính đó là:
(i) định nghĩa, phương pháp đo lường và dòng kiều hối; (ii) các nhân tố ảnh hưởng tới


4

quyết định gửi kiều hối; (iii) sử dụng và tác động của kiều hối. Phần tiếp theo trình bày
xu hướng những kết quả nghiên cứu cơ bản ở từng nội dung nghiên cứu trên.
2.1.1. Định nghĩa, phương pháp đo lường và dòng kiều hối
Định nghĩa về kiều hối có sự khác nhau giữa các quốc gia dẫn đến sự sai khác
trong cách đo lường kiều hối (Kapur, 2003; Worldbank, 2007). Dù tất cả đều thừa
nhận sự phát triển và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn của kiều hối gửi từ thân nhân ở
nước ngoài, định nghĩa và phương pháp sử dụng để đo lường kiều hối cũng không
giống nhau ở tất cả các quốc gia. Một số nước không công bố hoặc công bố một phần
số liệu về kiều hối chính thức, trong khi đó, một số khác lại chỉ công bố số liệu từ các
công ty chuyển tiền. Sự khác biệt giữa đầu tư và kiều hối cũng tương đối không rõ
ràng. Những sự không nhất quán này dẫn đến vấn đề thống kê và so sánh kiều hối giữa
các quốc gia gặp khó khăn (Worldbank, 2007).
Số liệu kiều hối thường xuyên được sử dụng trong phân tích đó là số trên cán
cân thanh toán cung cấp bởi IMF. Do đó, nhằm mục đích thống kê lượng kiều hối một
cách nhất quán trên toàn cầu, IMF (2009) đã mở rộng khái niệm kiều hối từ “một phần
thu nhập của người di cư chuyển về cho thân nhân tại nước bản xứ” thành “nguồn thu
nhập mà hộ gia đình của một quốc gia nhận được từ một quốc gia khác”. Như vậy,
ngoài nguồn thu nhập có từ thân nhân gửi từ nước ngoài về, hộ gia đình còn nhận được
kiều hối từ phía Chính phủ, các tổ chức hay quỹ từ thiện.
Bên cạnh dữ liệu cung cấp bởi IMF, khảo sát hộ gia đình cũng là một phương
pháp hữu ích trong việc nâng cao số liệu thống kê kiều hối. Đối với các nhà khoa học

kiều hối tới 8 quốc gia Mỹ Latinh là hơn 10% (Orozoco, 2006). Trước năm 2006, chi
phí chuyển tiền tới các quốc gia này đã giảm 5,6% nhưng nó vẫn cao hơn nhiều so với
chi phí chuyển kiều hối qua kênh phi chính thức. Do đó, về khía cạnh chính sách,
Chính phủ luôn cố gắng làm giảm chi phí chuyển tiền qua kênh chính thức xuống
nhằm thu hút lượng kiều hối chuyển về kênh chính thức. Kiều hối gửi qua kênh chính
thức có thể cải thiện sự phát triển của thị trường tài chính thông qua: (i) tăng thêm
nguồn tiền gửi, từ đó tăng thêm nguồn tín dụng; (ii) người nhận kiều hối có thể sử
dụng thêm các sản phẩm, dịch vụ tài chính và (iii) ngân hàng có thể tiếp cận với các
đối tượng chưa được phục vụ bởi ngân hàng (Aggarwal, Demirguc-Kunt & Peria,
2006). Ngoài ra, tại nền kinh tế có thị trường tài chính kém phát triển, kiều hối có thể
giúp mở rộng tín dụng, qua đó, tăng trưởng kinh tế (Giuliano & Ruiz-Arranz, 2005).
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới dòng kiều hối
Về các nhân tố ảnh hưởng tới dòng kiều hối, các nghiên cứu trước đây chia các
nhân tố thành 2 mức độ: vĩ mô và vi mô. Phần tiếp theo trình bày tổng quan nghiên
cứu về các vấn đề theo từng nhóm mức độ.
Xét về mức độ vĩ mô, các nhân tố bao gồm tình hình kinh tế vĩ mô của nước gửi
và nước nhận như lãi suất, tỷ giá, lạm phát,…(Lucas và Stark, 1985). Wahba (1991)
cũng chỉ ra chính sách của chính phủ, sự phát triển các trung gian tài chính, sự khác
biệt về lãi suất giữa 2 quốc gia cũng là những nhân tố vĩ mô tác động đến dòng tiền


6

kiều hối. Đặc biệt, Aydas, Metin-Ozcan, và Neyapti (2005) đã tiến hành nghiên cứu
các nhân tố tác động đến dòng tiền gửi của kiều hối tại Thổ Nhĩ Kỳ trong hai giai đoạn
1965-1993 và 1979-1993. Kết quả chỉ ra rằng các yếu tố vĩ mô tác động đến dòng gửi
của kiều hối gồm: sự khác biệt về mức thu nhập tại 2 quốc gia, lãi suất tại thị trường
đen, mức độ lạm phát và tăng trưởng tại nước nhận tiền gửi và thời kỳ quân sự là
những yếu tố tác động đến dòng gửi của kiều hối.
Xét về mức độ vi mô, các nghiên cứu chỉ ra có 4 nhóm nhân tố chính bao gồm:

b. Nhân tố giới tính
Với gần 50% người di cư là nữ giới, ngày càng có nhiều nghiên cứu đặt câu hỏi
liệu rằng giới tính đóng vai trò như thế nào đối với dòng kiều hối và tác động tới nước
nguyên xứ ra sao. Pfieffer và cộng sự (2007) đã trình bày tổng quan cả về lý luận lẫn
thực nghiệm về ảnh hưởng của giới tính tới di cư quốc tế và kiều hối. Nhìn chung,
nghiên cứu về nhân tố giới tính ảnh hưởng tới kiều hối có thể được chia thành 2 nhóm
chính: (i) so sánh đặc điểm gửi kiều hối giữa hai giới tính (Osaki, 1999; Abrego, 2009)
và (ii) tác động của giới tính tới hành vi sử dụng kiều hối (Rahman và Fee, 2009; King
và Vullnetari, 2009).
Đối với nhóm thứ nhất, câu hỏi nghiên cứu không nằm ở việc so sánh quy mô
kiều hối gửi về giữa hai giới tính bởi người di cư là nữ giới thường có sức lao động
kém hơn và do đó thu nhập thấp hơn nam giới. Câu hỏi sẽ tập trung vào tỷ trọng gửi
về đối với thu nhập của 2 giới tính. Theo đó, Osaki (1999) khai thác dữ liệu về di cư
của Thái Lan đã chỉ ra rằng nữ giới dành nhiều thu nhập của mình để gửi về gia đình
hơn nam giới. Abrego (2009) cũng tìm ra kết luận tương tự đối với dữ liệu thu thập từ
người El Salvador gửi kiều hối từ Mỹ về nước. Theo đó, Abrego (2009) khẳng định
nam giới dành ít tỷ trọng thu nhập để gửi về nhà hơn nữ giới, đặc biệt, tần suất gửi của
nam giới có sự gián đoạn nhiều hơn so với nữ giới. Ngoài ra, Abrego (2009) còn
phỏng vấn trẻ em tại các gia đình nhận kiều hối tại El Salvador và kết luận tỷ trọng
những đứa trẻ tại gia đình có mẹ đi làm ở nước ngoài chi tiêu có tính kinh tế hơn so
với tỷ trọng những đứa trẻ tại gia đình có cha đi làm ở nước ngoài.
Đối với nhóm thứ hai, câu hỏi nghiên cứu tập trung vào hai vấn đề: (i) liệu rằng
người nhận là nữ giới sẽ sử dụng kiều hối vào chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng và giáo
dục và (ii) liệu rằng người gửi kiều hối là nữ duy trì mối quan hệ với gia đình ở quê
hương như thế nào – điều này ảnh hưởng tới dòng kiều hối trong tương lai. Rahman và
Fee (2009) tìm ra rằng trong số những người di cư ngắn hạn của Indonesia đến các
quốc gia như Singapore, Malaysia, người nhận kiều hối là nữ thường sử dụng chủ yếu
kiều hối vào tài sản cố định. King và Vullnetari (2009) tuy khẳng định kết quả tương
tự nhưng cung cấp thêm nhận định mặc dù phụ nữ tại Albani gửi tiền về gia đình, họ
lại không có quyền kiểm soát về việc kiều hối sẽ được sử dụng như thế nào.

động không rõ ràng tới tỷ lệ gửi kiều hối so với thu nhập của người di cư nhưng trình
độ học vấn chắc chắn có mối quan hệ thuận chiều với quy mô kiều hối. Nói một cách
khác, Bollard và cộng sự (2009) cho rằng người di cư càng có học vấn thì sẽ càng gửi
nhiều kiều hối.
Về nhân tố ảnh hưởng tới dòng kiều hối khác, trong một nghiên cứu thiên về lý
thuyết, de la Briere và cộng sự (2002) sử dụng dữ liệu khảo sát hộ gia đình ở Cộng hoà
Dominica để kiểm định 2 động lực gửi kiều hối, đó là: (i) bảo hiểm – gửi tiền tự
nguyện với mục đích bảo vệ gia đình trong trường hợp rủi ro và (ii) đầu tư – gửi tiền
theo yêu cầu của gia đình nhằm thực hiện hoạt động đầu tư. Kết quả chỉ ra hai động
lực này có sự khác nhau ở nơi đến và giới tính. Theo đó, động lực bảo hiểm xảy ra


9

nhiều ở người di cư là nữ giới tại Mỹ. Họ thường gửi kiều hối nhiều về nhà khi bố mẹ
bị ốm, trong khi đó người di cư là nam giới sẽ không làm điều đó trừ khi cả gia đình
họ chỉ có mỗi mình họ ở làm việc ở nước ngoài.
d. Nhân tố các tổ chức Hội ở nước ngoài
Một trong những nhân tố ảnh hưởng tới kiều hối đó là các tổ chức Hội được
thành lập bởi những người di cư (thường ở cùng địa phương khi ở quê hương) lập ra.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về nhân tố này còn chiếm tỷ trọng ít trong các nghiên cứu
về kiều hối. Nhìn chung, các nghiên cứu về các tổ chức Hội được lập bởi người di cư
được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất tập trung vào mô tả sự hình thành, đặc điểm
văn hoá của Hội (Levvit và Jaworksy, 2007); nhóm thứ hai lại nghiên cứu về tác động
của Hội tới sự phát triển tại địa phương – nơi các thành viên trong Hội sinh ra
(Goldring, 20024; Orozoco và Welle, 2006; Alarcon, 2002).
Về nhóm thứ nhất, Levvit và Jaworksy (2007) phân tích về những thách thức
khi nghiên cứu các tổ chức Hội của người di cư và kiều hối được gửi theo nhóm
(collective remittance). Orozoco và Rouse (2007) nhận định rằng tỷ lệ kiều hối gửi bởi
người di cư là thành viên của các tổ chức Hội không giống nhau xét theo tiêu chí quốc

a. Kiều hối, tiêu dùng và đầu tư
Hành vi sử dụng kiều hối là câu hỏi tạo ra sự tranh luận cho các học giả nghiên
cứu về kiều hối. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng kiều hối chủ yếu được dùng cho tiêu
dùng và hầu như nó không tác động lên việc cải thiện kinh tế địa phương. Một số khác
cho rằng kiều hối được sử dụng cho đầu tư phát triển như giáo dục, nhà cửa – giúp cải
thiện vốn con người và cơ hội việc làm, phát triển cho con người. Cụ thể, thông qua
giáo dục, trình độ của con người tăng, qua đó, cải thiện cơ hội tìm kiếm việc làm.
Thông qua đầu tư vào xây dựng nhà cửa, người nhận kiều hối hoặc người có thu nhập
từ kiều hối có điều kiện sống tốt hơn, đồng thời, cơ hội về thu nhập, việc làm cho
chính những người công nhân xây dựng tại địa phương.
Quan điểm tiêu cực về kiều hối được sử dụng như thế nào được đề xuất bởi
Chami, Fullenkamp và Jahjah (2003). Theo đó, tác giả cho rằng có 3 mức độ sử dụng
kiều hối: (i) phần lớn kiều hối được sử dụng cho tiêu dùng; (ii) một phần nhỏ được sử
dụng cho tiết kiệm, đầu tư; (iii) cách mà người sử dụng kiều hối đầu tư vào xây nhà,
hay các tài sản tiết kiệm như vàng không nhất thiết là mang lại hiệu quả cho toàn bộ
nền kinh tế. Tuy nhiên, quan điểm này bị phản biện bởi Adams và Cuecuecha (2010)
với dữ liệu từ khảo sát hộ gia đình Guatemala. Tập trung vào hộ gia đình sẽ sử dụng
thu nhập tăng thêm như thế nào, Adams và Cuecuecha (2006) tìm ra các hộ gia đình
nhận kiều hối sẽ sử dụng ít hơn cho những tiêu dùng thiết yếu và nhiều hơn cho giáo
dục, nhà cửa trong so sánh với khi hộ không nhận kiều hối. Những kết quả này đã cho
thấy kiều hối giúp tăng mức độ đầu tư vào con người và những tài sản cố định tại các
quốc gia nhận.
Sử dụng dữ liệu của El Salvador, Edwards và Ureta (2003) cũng tìm ra bằng
chứng về việc các hộ gia đình nhận kiều hối chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục. So sánh


11

nguồn thu nhập từ kiều hối với nguồn thu nhập khác, nhóm tác giả chỉ ra tầm ảnh
hưởng lớn hơn của nguồn kiều hối đối với chi tiêu cho giáo dục so với nguồn thu nhập



12

Tóm lại, xu hướng các nghiên cứu đã chỉ ra ngay cả hộ nhận hay không nhận
kiều hối cũng đều chi tiêu phần lớn thu nhập cho các hàng hoá thiết yếu (thực phẩm).
Tuy nhiên, nếu nghiên cứu ở mức độ “tăng thêm”, các nghiên cứu đều cho thấy kiều
hối có tác động tới phát triển kinh tế.
b. Kiều hối và tăng trưởng kinh tế
Các nghiên cứu về tác động của kiều hối tới tăng trưởng kinh tế qua kênh tiêu
dùng, đầu tư có thể chia thành 2 nhóm, trong đó nhóm thứ nhất tập trung vào nghiên
cứu ở phạm vi đa quốc gia, nhóm còn lại nghiên cứu trên phạm vi một quốc gia. Trong
khi các nghiên cứu về tác động của kiều hối tới tăng trưởng kinh tế trên phạm vi đa
quốc gia thường sử dụng mô hình GMM, các nghiên cứu về kiều hối tác động tới tăng
trưởng kinh tế trên phạm vi một quốc gia sử dụng mô hình VAR và VECM. Phạm vi,
phương pháp và kết quả của các nghiên cứu này được tóm tắt trong 2 bảng dưới.
Một số nghiên cứu về tác động của kiều hối tới tăng trưởng kinh tế trên phạm vi
đa quốc gia
TT
1

Tác giả

Dữ liệu và mô hình

Kết quả

Upadhyaya, Gyan và

39 nước đang phát triển


109 nước đang phát triển

Hiệu ứng Hà Lan trong tác động

Acosta (2008)

và chuyển đổi

của kiều hối tới các quốc gia

1990-2003;

đang phát triển

Barajas và cộng sự

84 nước1970-2004

Kiều hối đóng góp rất ít hoặc

(2009)

OLS với biến công cụ và

thậm chí làm giảm tăng trưởng

mô hình tác động cố định

Nguồn: tổng hợp của tác giả


Tác giả

Dữ liệu và Mô hình

Kết quả

Belmimoun và

Algeria (1970-2010)

1% tăng lên trong kiều hối sẽ làm giảm

cộng sự (2014)

VECM

0,02% GDP đầu người trong ngắn hạn và
giảm 0,006% trong dài hạn

3

Ahmed và

Togo (1974-2015)

Quan hệ nhân quả Granger hai chiều trong

Hakim (2017)


tế là một chủ đề quan trọng nhằm xác định tầm ảnh hưởng của kiều hối.
Glytsos (1993) đã đánh giá ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của kiều hối đối với
sản xuất, nhập khẩu và tình trạng việc làm của hộ gia đình ở nền kinh tế Hy Lạp vào
năm 1971. Tác giả đã tìm ra kiều hối đã tạo ra hệ số nhân 1,7 đối với tổng sản phẩm
được tạo ra. Một cách phân tích khác, cứ 1 triệu đô la kiều hối tạo ra sản lượng 1,7
triệu đô la. Kiều hối cũng dẫn đến sự gia tăng các hàng hoá nhập khẩu nhưng những
hàng hoá này chỉ chiếm 5% tổng giá trị nhập khẩu của Hy Lạp. Trên cơ sở đó, Glytsos
(1993) nhấn mạnh rằng kiều hối sử dụng cho nhập khẩu hàng hoá không có tác động
lớn tới thâm hụt thương mại.
Trong một nghiên cứu về dữ liệu vi mô tại khu vực nông thôn, Taylor (1995)
kiểm định tác động trực tiếp và gián tiếp của dòng kiều hối tới một làng tại Mexico.
Tác giả tìm thấy kiều hối có hiệu ứng nhân bằng 1,6, nghĩa là cứ 1 triệu đô la kiều hối
gửi về làng sẽ tạo ra 1,6 triệu đô la sản phẩm tăng thêm. Trong một nghiên cứu khác
tại Mexico, Taylor và Dyer (2009) sử dụng mô hình cân bằng tổng thể để kiểm định
tác động trực tiếp và gián tiếp của di cư quốc tế tới giá, lương và đầu tư tại khu vực
nông thôn Mexico. Kết quả, tác động trực tiếp yếu hơn tác động gián tiếp. Trong ngắn
hạn, cứ 10% tăng lên của số người di cư về nước dẫn đến 5% tăng lên về tiền lương ở
khu vực nông thôn và 52% tăng lên khoản đầu tư cho giáo dục. Trong dài hạn, cứ 10%
tăng thêm của người di cư về nước dẫn đến 1% tăng lên của thu nhập ở nông thôn,
52% tăng lên khoản đầu tư cho giáo dục và 15% tăng lên khoản đầu tư về nhà ở.


14

d. Kiều hối, đói nghèo và bất bình đẳng
Một số nghiên cứu đã bàn về mối quan hệ giữa kiều hối, đói nghèo và bất bình
đẳng. Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra kiều hối có tác dụng làm giảm nghèo đói ở các
quốc gia đang phát triển (Adams và Page, 2005; Acosta và cộng sự, 2006; Loksin và
cộng sự, 2007; Adams, 2006). Trái lại, mối quan hệ giữa kiều hối và bất bình đẳng thu
nhập vẫn còn gây tranh cãi. Nhiều nghiên cứu chỉ ra kiều hối chỉ có tác động làm tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status