ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ DIỆP
BIÖN PH¸P B¶O LÜNH
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT
NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN DŨNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bảng 2.3: Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án tại quận Hoàng Mai....................................................72
Bảng 2.4: Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án tại quận Cầu Giấy.......................................................72
Bảng 2.5: Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án tại huyện Từ Liêm (cũ)...............................................73
3.1.2. Một số tồn tại, hạn chế của việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh trong
Luật tố tụng hình sự..................................................................................77
KẾT LUẬN113
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
2. BPNC
3. TAND
4. TANDTC
: Biện pháp ngăn chặn
: Tòa án nhân dân
: Tòa án nhân dân tối cao
5. THTT
: Tiến hành tố tụng
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tại Thành phố Hà Nội
Refere
nce
source
not
Bảng 2.3:
Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các Cơ quan
found
Error:
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tại quận Hoàng Mai
Refere
nce
source
not
Bảng 2.4: Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tại quận Cầu Giấy
found
Error:
Refere
nce
source
not
đoạt tự do của bị can, bị cáo.
Thực tiễn tổng kết các BPNC ở nước ta trong những năm qua cho thấy các
biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam được áp dụng phổ biến trong các vụ án hình sự.
Theo phân tích của Vụ 4 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), năm
2013 các cơ quan chức năng bắt, tạm giữ về hình sự 39.175 trường hợp (tăng
0,76% so với năm 2012), đã giải quyết 38.109 trường hợp, trong đó, xử lý
hình sự 36.861 người tương đương tỷ lệ 96,73% (tăng 0,73% so với cùng kỳ
năm 2012). Tổng số người bị tạm giam năm 2012 là 95.304 người, nhưng năm
2013 còn 94.228 người (giảm 1,13%), trong đó xử lý hình sự 47.708 người với
tỷ lệ là 50,53% (giảm 2,16% so với cùng kỳ năm 2012). Áp dụng các biện pháp
tạm giữ, tạm giam là cần thiết, tuy nhiên, nếu như các cơ quan tiến hành tố tụng
lạm dụng việc tạm giữ, tạm giam không những làm ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích chính đáng của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, mà còn làm
giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Nhà nước nếu như để lọt
người phạm tội ngoài vòng pháp luật.
1
Điều 20 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam quy định:
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được
pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra
tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào
khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của TAND, quyết định
hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc
bắt, giam, giữ người do luật định [36].
Quy định này của Hiến pháp đã đảm bảo công dân không bị áp dụng
BPNC một cách tùy tiện. Trong nhiều trường hợp, nếu Cơ quan điều tra, Viện
miễn sao việc thực hiện các quyền này không gây trở ngại cho hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử.
Mặc dù là một biện pháp ưu việt được quy định từ BLTTHS năm 1988,
song thực tiễn áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật
và Tòa án trong nhiều năm qua cho thấy, chế định bảo lĩnh ít được các cơ
quan THTT sử dụng bởi còn thiếu nhiều quy phạm hướng dẫn cụ thể cần làm
sáng tỏ xung quanh chế định này như: Căn cứ áp dụng vẫn còn mơ hồ, thiếu
quy định cụ thể về tiêu chuẩn của cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh; Nhiều
trường hợp người nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho
việc giải quyết vụ án nhưng chưa có biện pháp xử lý trách nhiệm của họ…
Tình hình trên xảy ra là do nhiều nguyên nhân, bao gồm yếu tố khách
quan và yếu tố chủ quan, vì vậy cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và làm sáng tỏ
các vướng mắc còn tồn tại của biện pháp bảo lĩnh để từ đó làm rõ hơn về mặt
khoa học pháp lý cũng như về mặt thực tiễn áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đáp
ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, hướng tới sửa đổi, bổ sung
và hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam.
3
Vì lẽ đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp bảo lĩnh
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam" – một vấn đề mang tính cấp bách,
thiết thực không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn trong giai đoạn
xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các BPNC trong Luật TTHS giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc áp dụng đúng các BPNC có
ảnh hưởng rất lớn đến quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Vì thế,
nhận thức đúng, áp dụng đúng các BPNC là cần thiết. Do đó đã có nhiều bài
viết về các BPNC được đề cập đến ở các mức độ khác nhau, những khía cạnh
Kiểm sát. VKSND tối cao, Số 7/2005; TS. Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề về
biện pháp bảo lĩnh quy định trong BLTTHS năm 2003, Tạp chí Kiểm sát.
VKSND tối cao, Số 15/2006; TS.Phạm Mạnh Hùng, Hoàn thiện các quy định
về các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS theo yêu cầu cải cách tư pháp,
Tạp chí Kiểm sát. VKSND tối cao. Số 21/2007; Nguyễn Đình Bình, Một số ý
kiến về việc hoàn thiện các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự, Tạp chí Kiểm sát. VKSND tối cao. Số 5/2008; TS. Trịnh Tiến Việt,
Pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và hướng sửa đổi, bổ sung, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp. Văn phòng Quốc hội, Số 02/2010; Nguyễn Ngọc Ánh,
Một số vướng mắc bất cập khi áp dụng điều 92 BLTTHS, Tạp chí TAND.
TAND tối cao, Số 8/2012; Phùng Văn Tài, Những vướng mắc trong việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS và kiến nghị sửa
đổi, bổ sung, Tạp chí Nhà nước và pháp luật. Viện Nhà nước và Pháp luật, Số
8/2012; Vũ Gia Lâm, Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn, Tạp chí Luật học. Trường Đại học
Luật Hà Nội, Số 9/2012; v.v…
Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu
đề cập đến các BPNC có ý nghĩa là các biện pháp nói chung. Vì nhiều lý do
5
khác nhau, chỉ có một công trình nghiên cứu thật chuyện sâu về biện pháp
bảo lĩnh. Để có nhận thức đúng hơn về biện pháp này trong mối liên hệ với
các BPNC khác. Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho
phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp bảo lĩnh trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận,
vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trên các vấn đề cơ bản sau:
- Cơ sở lý luận về biện pháp bảo lĩnh trong luật TTHS Việt Nam
- Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến biện pháp bảo lĩnh
trong luật TTHS Việt Nam.
- Về thực trạng áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành về biện pháp bảo lĩnh.
- Các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp bảo lĩnh.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết
của Đảng, các văn bản pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước về các BPNC.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể và đặc thù của khoa học xã hội như phương pháp phân
tích và tổng hợp; phương pháp đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương
pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các
tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu
trong luận văn.
7
6. Những đóng góp của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
- Luận văn đã góp phần làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về biện pháp
bảo lĩnh trong Luật TTHS Việt Nam.
- Luận văn đã tìm hiểu, phân tích các quy định của một số nước trên thế
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh trong Luật tố
tụng hình sự Việt Nam
Biện pháp bảo lĩnh là một trong sáu BPNC được pháp luật TTHS Việt
Nam quy định. Do đó, muốn hiểu rõ bản chất pháp lý của biện pháp bảo lĩnh cần
phải nghiên cứu biện pháp này trong mối liên hệ có tính hệ thống với các BPNC.
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Biện pháp cưỡng chế của Luật TTHS là những biện pháp được thực
hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng nhất định áp dụng theo một
trình tự, thủ tục được pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, hành
vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ của mình
nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử [35; 54].
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS, BPNC được xem như một
chế định pháp lý quan trọng, bởi việc áp dụng các BPNC có ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền lợi của cá nhân người bị áp dụng, nhất là quyền nhân thân và
quyền tự do cá nhân. Các BPNC không ngoài mục đích nào khác là tạo điều
kiện thuận lợi để cơ quan THTT xác định sự thật khách quan của vụ án,
phòng ngừa và kịp thời ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội chuẩn bị
thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện. Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm
khác nhau xung quanh khái niệm BPNC, cần được làm sáng tỏ;
Theo Điều 79 BLTTHS Việt Nam 2003, mặc dù không đưa ra một khái
niệm cụ thể về BPNC, tuy nhiên cũng đã quy định một số nội dung trọng
điểm áp dụng các BPNC:
9
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ
bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc
quả tang. Cần phải hiểu rõ các BPNC không có tính chất trừng phạt, mà chỉ là
phương tiện đảm bảo cho việc làm rõ trách nhiệm hình sự và trong thực tế
hoàn toàn có khả năng một người phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng không
bị áp dụng BPNC. Do đó, khái niệm BPNC cần mang tính khoa học, logic,
phân định rõ ràng về thẩm quyền áp dụng, căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng
và mục đích áp dụng:
Biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp
cưỡng chế tố tụng hình sự được quy định trong pháp luật tố
tụng hình sự, do người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành
tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang
hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành
vi phạm tội, ngăn chặn việc bị can, bị cáo cản trở, gây khó
khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án cũng như
ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội.
Qua những phân tích trên cho thấy, so với biện pháp cưỡng chế TTHS
thì BPNC có nội dung và phạm vi hẹp hơn. Trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự, các cơ quan THTT được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế. Ngoài
BPNC, biện pháp cưỡng chế còn có các biện pháp thu thập chứng cứ (khám
xét người, khám xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc, khám nghiệm hiện trường,
xem xét dấu vết trên thân thể…) và các biện pháp bảo đảm cho các hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án (kê biên tài sản, áp giải các bị can, bị cáo,
người bị kết án, dẫn giải người làm chứng...) [54]. Những nhóm biện pháp này
cùng song song tồn tại và hỗ trợ lẫn nhau, đều phải giải quyết những nhiệm vụ
khác nhau. Đối tượng áp dụng của biện pháp cưỡng chế rộng hơn BPNC, đó là
người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, bị can, bị cáo, người
làm chứng,… So với các biện pháp cưỡng chế khác trong TTHS thì BPNC có
11
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự thay thế
cho biện pháp tạm giam, được các cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy
cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở
điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu
tập của các cơ quan tiến hành tố tụng [9].
Đồng quan điểm này Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, trường Đại học
Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị
cáo khi có cá nhân hoặc tổ chưc làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp
tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập” [53].
Các quan điểm này đã làm rõ thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo
lĩnh, đối tượng áp dụng, chủ thể nhận bảo lĩnh, thủ tục bảo lĩnh, mục đích
áp dụng biện pháp này nhưng lại thiếu sót khi chưa đưa ra căn cứ áp dụng
biện pháp bảo lĩnh.
Quan điểm của GS. TS Võ Khánh Vinh cho rằng:
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được quy định trong
BLTTHS do người có thẩm quyền áp dụng để thay thế biện pháp
tạm giam đối với bị can, bị cáo. Bảo lĩnh là BPNC ít nghiêm khắc
hơn tạm giữ, tạm giam, được áp dụng trong trường hợp không cần
thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp
tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu
tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án [57].
Bên cạnh việc làm sáng tỏ về thẩm quyền áp dụng, đối tượng bị áp
dụng, tác giả đã chỉ rõ hơn điều kiện và mục đích áp dụng biện pháp bảo lĩnh
mà không phải quan điểm nào cũng nêu ra là “được áp dụng trong trường hợp
không cần thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp
13
14
điểm vốn có của một BPNC như:
- Các quan điểm nêu trên hầu như thiếu xót căn cứ áp dụng biện pháp
bảo lĩnh. Căn cứ áp dụng BPNC tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các
BPNC. Nguyên tắc pháp chế trong TTHS cho thấy, mọi hoạt động tố tụng,
người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của
BLTTHS. Vì thế, việc đặt ra căn cứ áp dụng BPNC cũng cần được quy định
trong BLTTHS để đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ.
- Các quan điểm nêu rằng cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp
bảo lĩnh là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, điều này là chưa chính
xác, bởi tất cả các cơ quan tiến hành hoạt động tố tụng đều thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể đã được pháp luật quy định thông qua các chủ thể có thẩm
quyền, chứ bản thân các cơ quan thì khó mà thực hiện được.
Qua việc phân tích và tổng hợp các quan điểm về biện pháp bảo lĩnh,
có thể đưa ra một định nghĩa khoa học, đầy đủ về khái niệm bảo lĩnh như sau:
Bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng
hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố
tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ các căn cư do pháp luật quy
định để thay thế biện pháp tạm giam, nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo
tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự
có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan THTT.
Hiểu biết về biện pháp bảo lĩnh trong tố tụng hình sự, sẽ tránh được
tình trạng nhầm lẫn với biện pháp bảo đảm bảo lãnh trong dân sự. Việc làm
sáng tỏ hai biện pháp bảo lĩnh và bảo lãnh sẽ hạn chế những hiểu lầm trong
việc sử dụng thuật ngữ pháp lý và trong việc nhận biết bản chất pháp lý của
chúng. Như đã trình bày ở trên, biện pháp bảo lĩnh được quy định trong Luật
TTHS, do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, khi có đủ căn
cứ và điều kiện do pháp luật quy định nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi, góp phần quan trọng
16
nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ
các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn
bản pháp luật khác.
Thư hai, bảo lĩnh là một BPNC có tính ít nghiêm khắc. Nói như vậy là
xét trong mối tương quan giữa biện pháp tạm giam và biện pháp bảo lĩnh. Đây
cũng là đặc điểm thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta đối với một số loại
tội phạm, với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là ít
nghiêm trọng hoặc phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt… thì những bị can, bị
cáo có thể được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Người được bảo lĩnh không bị
hạn chế các quyền công dân khác như những bị can, bị cáo bị tạm giữ, tạm
giam nếu họ không gây trở ngại, khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét
xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Điều này cũng tránh cho họ
phải chịu áp lực tạm giam chung với tội phạm chuyên nghiệp.
Thư ba, bảo lĩnh là một BPNC được áp dụng để thay thế biện pháp tạm
giam. Biện pháp bảo lĩnh chỉ được đặt ra khi bị can, bị cáo có quyết định tạm
giam hoặc đang bị tạm giam. Trong trường hợp cơ quan THTT xét thấy không
cần thiết phải tạm giam thì bị can, bị cáo có thể được thay thế bằng biện pháp
bảo lĩnh. Đặc điểm này thể hiện bản chất pháp lý của biện pháp bảo lĩnh cũng
như quán triệt tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp năm 2020 với nội dung “Xác định
rõ căn cư tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số
loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp
dụng các biện pháp tạm giam…” [5].
Thư tư, đối tượng bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh chỉ có thể là bị can,
bị cáo. Bị can là người bị khởi tố về mặt hình sự, bị cáo là người đã bị Tòa