Các nhà chuyên môn phân tích, nước dưới đất xung quanh khu vực chôn lấp gia cầm nhiễm bệnh bị ô nhiễm
do nguyên nhân chủ yếu là nước thải sinh ra trong quá trình phân hủy gia cầm phát tán ra bên ngoài hố chôn
lấp do lót đáy không kỹ, hoặc không lót đáy.Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải này rất cao, tương
đương với nước rác rò rỉ trong thời gian phân hủy của gà trong hố sẽ kéo dài có thể tới một vài năm. , hầu hết
nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường. Ngoài ra, nước rò rỉ từ các bãi rác cũng
là nguồn gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm nghiêm trọng vì đặc trưng của loại nước thải này có
hàm lượng chất gây ô nhiễm cao, độ màu lớn. Nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước rỉ từ các bãi
chôn lấp rác thải ngấm xuống đất và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước dưới đất cũng là nguy cơ
gây ô nhiễm kim loại nặng, nitơ và asen... trong nước ngầm. .Nước thải bệnh viện cũng là nguồn gây các
bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng Không chỉ có vậy, lượng hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng trong
nông nghiệp mỗi năm cũng khoảng 0,5-3,5kg/ha/vụ gây ra phú dưỡng (nồng độ chất N, P cao; yếm khí, nước
màu xanh đen có mùi khai thối) hoặc nhiễm độc nước.
Hiện nay, môi trường biển đang có dấu hiệu bị ô nhiễm và suy thoái. Môi trường vùng nước ven bờ đã bị ô
nhiễm dầu, kẽm và chất thải sinh hoạt. Còn chất rắn lơ lửng như Si, NO3, NH4 và PO4 cũng ở mức đáng lo
ngại. Chất lượng trầm tích đáy biển ven bờ - nơi cư trú của nhiều loài thủy hải sản - cũng bị ô nhiễm. Ða dạng
sinh học động vật đáy và thực vật nổi suy giảm rõ rệt. Các chất an-đrin, en-đrin, đi-e-đrin, đặc biệt là an-đrin
và en-đrin có ở hầu hết các mẫu phân tích, biến đổi từ 0,12 đến 3,11 mg/kg. Nước từ những con suối, lạch
sông đổ ra sông lớn rồi đổ ra biển. ta đã có nhiều con sông “chết”, Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông
mang ra biển như dầu thải, nước thải chưa xử lý... Có những loại không phân huỷ được đọng lại ở ven bờ,
chìm xuống đáy biển, những chất phân huỷ thì hoà tan trong toàn khối nước biển.Những công trình trên biển
ngày càng mọc thêm nhiều. Hầu hết các công trình cảng và hoạt động của cảng đều tác động tiêu cực đến
môi trường tự nhiên, như mất các nơi sinh cư do lấy đất xây dựng, ô nhiễm nước, đất, không khí, tiếng
ồn...trong khu vực cảng và phụ cận. Các công trình sản xuất, nhà máy đóng tàu biển, các công trình đảm bảo
du lịch, và rất nhiều các hoạt động khác đều tác động xấu đến môi trường tự nhiên của biển.Vận tải biển là
một lợi thế lớn về kinh tế, đang phát triển đáng kể, nhờ vào ưu thế vượt trội của nó so với các loại hình vận tải
khác, nhưng cũng tác động xấu đến môi trường. Từ việc xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở giao thông, nạo
vét luồng lạch, dẫn đến phá hoại sinh thái vùng cửa sông, ven biển ngập mặn, vùng đất chua phèn, tạo nên
một sự đảo lộn, cùng với việc đổ phế thải dầu, mỡ. Hệ thống đường thuỷ phát triển, phương tiện vận tải ngày
càng nhiều, lượng dầu mỡ gây ô nhiễm tới 50% nguồn gây ô nhiễm.Các hoạt động sản xuất nông nghiệp
cũng sử dụng một lượng rất lớn phân bón hoá học và thuốc trừ sâu. Lượng phân bón hoá học và thuốc trừ
sâu không được hấp thụ hết cũng đổ ra sông. Các nguồn ô nhiễm trên được sông tải ra biển và gây ô nhiễm
đa dạng và phong phú. Nghiên cứu sử dụng nước biển trong làm sạch công nghiệp.
Tổ chức đánh giá và kiểm soát được chất lượng, trữ lượng nước ngầm; có kế hoạch đầu tư phát triển
tài nguyên nước và ban hành các quy định cụ thể về khai thác nguồn nước ngầm.
Tài nguyên nước khoáng, nước nóng cần tiếp tục được điều tra thăm dò, đánh giá trữ lượng để khai
thác cho nhu cầu chữa bệnh, du lịch giải trí, kể cả nguồn năng lượng địa nhiệt (Tiên Lãng, Cát Bà). Bảo vệ tài
nguyên nước các đầm, hồ ao, đất ngập nước cần nghiên cứu nuôi trồng các loại thuỷ sản như sen, súng, tôm
cá, ba ba...
Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy về tài nguyên nước theo hướng khai thác bền vững nguồn
nước mặt và nước ngầm. Thực hiện việc quy hoạch và quản lý các lưu vực sông chính như: Sông Cấm, sông
Lạch Tray, sông Văn úc, đặc biệt là các sông cung cấp nguồn nước ngọt như sông Giá, sông Rế, sông Đa
Độ.
Tiến hành thu phí sử dụng tài nguyên nước theo Luật Tài nguyên nước đã ban hành.
3. Bảo vệ rừng và đa dạng sinh học.
- Phục hồi và phát triển vốn rừng (rừng tư nhiên, rừng đặc dụng, rừng phân tán, rừng ngập mặn..) và
nâng diện tích che phủ thực vật.
Nội dung phát triển diện tích rừng gồm trồng mới 2658 ha rừng, trong đó: rừng phòng hộ môi sinh là:
1319 ha, rừng phòng hộ ven biển là 629 ha, rừng phòng hộ ven sông là 710 ha. Huy động các xã tăng cường
trồng mới các loại rừng phân tán tại những nơi đất trống. Đặc biệt, chú trọng việc khôi phục diện tích các khu
vực rừng phòng hộ chắn sóng, bảo vệ rừng Quốc gia Cát Bà, nâng cao chất lượng rừng nhằm đạt hiệu quả
kinh tế cao, phát huy hiệu quả bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái, phát triển đa dạng sinh học.
Nghiêm cấm việc phá huỷ rừng ngập mặn, các hệ sinh thái nhạy cảm cho việc phát triển nông nghiệp
và nuôi trồng thuỷ sản; phòng ngừa cháy rừng song song với việc phục hồi các hệ sinh thái và các khu rừng
ngập mặn, v.v..
Đối với rừng trồng trên đồi núi thấp, rừng phân tán trên đồng bằng cần nghiên cứu các loại cây có giá
trị kinh tế cao có thể xuất khẩu như long nhãn và vải thiều, kết hợp với nhu cầu tại chỗ. Mở rộng diện và đối
tượng bảo tồn trong vườn quốc gia Cát Bà bao gồm các rạn san hô, các giống loài đặc hữu ven bờ biển,
đảo...
-Tăng tỷ lệ cây xanh trong đô thị và khu công nghiệp, đến năm 2010 đảm bảo tỷ lệ qui định đối với đô
thị cấp 1 cấp Quốc gia.
2
mạnh các biện pháp bảo tồn nội vi kết hợp với biện pháp bảo vệ ngoại vi.
Kiên quyết bằng nhiều biện pháp về luật pháp, hành chính, khuyến khích kinh tế, chấm dứt khai thác
đi đến cạn kiệt nguồn, huỷ diệt môi trường sinh thái, phá huỷ các nơi cư trú của các giống loài thực vật biển.
Mọi dự án khai hoang lấn biển, phát triển trên bờ biển, khai thác tài nguyên biển đều phải đánh giá tác động
môi trường và có biện pháp bảo vệ hữu hiệu môi trường biển.
Đất ngập nước các huyện Cát Hải, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên là một hợp phần đặc biệt
quan trọng của môi trường Thành phố. Bảo vệ các nguồn đất ngập nước là nhằm sử dụng có hiệu quả các
vùng đất ngập nước, bảo vệ đa dạng sinh học trong vùng, đồng thời duy trì các chức năng sinh thái, kinh tế,
xã hội của những vùng đất này.
Quy hoạch lại vùng nuôi trồng hải sản ven bờ biển, bảo vệ phát triển rừng ngập mặn, bảo vệ các đầm
phá, bãi triều, các rạn san hô, các nguồn tài nguyên biển là những nhiệm vụ phức tạp nặng nề nhưng lại rất
3
bức xúc ở vùng nông thôn ven biển. Một sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền và cộng đồng làng bản, tư
nhân có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành bại của chiến lược đối với vùng ven bờ biển và biển.
Kiểm soát chặt chẽ sự xâm lấn sinh học từ cửa khẩu cảng biển do các tàu biển từ nước ngoài đưa
đến.
- Tăng cường nghiên cứu khoa học, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp,
trong xử lý chất thải.
Theo tinh thần Nghị quyết 02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996 của Trung ương Đảng về định hướng phát
triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Chỉ thị 36/CT-TW của Bộ Chính trị,
nhiệm vụ của khoa học và công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường phải tập trung vào các nhiệm vụ như: nghiên
cứu cơ bản hiện trạng môi trường và tài nguyên của Thành phố nhằm thống kê và dự báo môi trường, xây
dựng hệ thống quan trắc về diễn biến chất lượng môi trường không khí, nước, đất, dự báo những khả năng
xảy ra tai biến môi trường; nghiên cứu điều kiện môi trường và tự nhiên vùng Hải Phòng làm luận cứ hoạch
định chính sách phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững; nghiên cứu các giải pháp chiến lược, chính
sách về BVMT; qui hoạch môi trường; nghiên cứu luận cứ tổ chức dân cư và giao thông đô thị; nghiên cứu
quản lý tổng hợp môi trường dải ven biển; nghiên cứu các giải pháp bảo vệ môi trường nông thôn, giải pháp
bảo vệ các hệ sinh thái đặc thù Cát Bà, chống xâm nhập mặn các sông; nghiên cứu áp dụng và chuyển giao
công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn.
Nghiên cứu phát triển ngành công nghiệp môi trường, ứng dụng công nghệ sạch, thân thiện môi
trong quản lý đất đai; chỉ đạo và làm tốt việc quản lý biến động đất đai.
4. Lĩnh vực đo đạc lập bản đồ địa chính
Tập trung đo đạc lập bản đồ địa chính các xã còn lại của các huyện: huyện Lệ Thủy, huyện Quảng Ninh, huyện Tuyên
Hóa và huyện Minh Hóa; triển khai đo đạc lập bản đồ địa chính huyện Tuyên Hóa và huyện Minh Hoá. Đo chỉnh lý biến
động đất đai các xã đã thực hiện việc dồn điển, đổi thửa; trích đo bản đồ địa chính phục vụ giá đất các dự án, các
công trình xây dựng cơ bản của tỉnh, ưu tiên cho các dự án lớn, dự án đầu tư nước ngoài; tập trung biên tập bản đồ
dạng số phục vụ cho ngành và mọi nhu cầu của tỉnh.
5. Lĩnh vực môi trường
- Phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020; triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 01/11/2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ
môi trường bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Tổ chức thực hiện tốt Nghị định số 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ về thu phí, bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Để thực hiện được công tác này, trước mắt đòi hỏi phải tập trung cho việc phân tích mẫu ban đầu phục vụ thẩm định
kê khai thu phí nước thải.
- Chỉ đạo thực hiện dứt điểm kế hoạch xử lý triệt để 11 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định
số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tập trung giám sát xử lý ô nhiễm đối với các cơ sở đã được phê duyệt
báo cáo đánh giá tác động môi trường (nhất là chất thải rắn ở các đô thị, khu công nghiệp...)
- Làm tốt công tác truyền thông môi trường, hưởng ứng ngày Môi trường thế giới và chiến dịch làm cho thế giới sạch
hơn.
6. Đối với công tác khí tượng, thủy văn
Tập trung thu thập đầy đủ số liệu về khí tượng, thuỷ văn; nâng cao công tác dự báo, phục vụ phòng chống lụt bão.
7. Lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước
- Điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản tỉnh Quảng Bình 2010.
- Tiếp tục khoanh vùng khai thác tận thu khoáng sản các khu vực còn lại.
- Quy hoạch điều tra khai thác tài nguyên nước tỉnh Quảng Bình.
- Chú trọng, tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước; tập trung điều tra cơ bản và đánh
giá hiện trạng khai thác sử dụng, xã nước thải vào nguồn nước.
8. Công tác khác - Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài
nguyên và môi trường, tập trung cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường, hệ thống thông tin địa lý
và thông tin đất đai.