Tìm hiểu về trợ cấp nông nghiệp Việt Nam thời kỳ hậu WTO - Pdf 61

Kinh tế quốc tế Nguyễn Đình Minh-KTPTK22
Lời mở đầu
Sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã thực hiện nhiều điều
chỉnh quản lý và lộ trình này sẽ được tiếp tục cho đến năm 2010. Việc thực thi các cam
kết, tận dụng cơ hội và giảm tới mức thấp nhất các thách thức, khó khăn ngoài nỗ lực của
người dân, doanh nghiệp, còn phụ thuộc rất lớn vào Chính phủ trong việc điều chỉnh quản
lý các chính sách “Hộp xanh” và Phát triển mới thực hiện cam kết của Việt Nam trong
Hiệp định Nông nghiệp của WTO
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế có vai trò quan trọng và đã có bước phát
triển vượt bậc trong thời gian qua. Ngoài việc đáp ứng về cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong
nước ngày một tăng với 85 triệu dân, kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm 2010 đã đạt
trên 19,15 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2009. Một số ngành hàng đã có vị thế quan
trọng trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, lâm sản… Có được
những thành công đó, một mặt là nhờ đóng góp của người nông dân và các doanh nghiệp
kinh doanh trong nông nghiệp, mặt khác là do có sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ đến
nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Các chính sách nổi bật trong nông nghiệp có thể kể đến
là xây dựng cơ chế chính sách khoán ruộng đất, rừng cho người nông dân; tạo điều kiện
thông thoáng để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư và kinh doanh trong
ngành nông nghiệp. Bên cạnh đó, Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Chính phủ cũng được
từng bước được nâng lên và điều chỉnh dần theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy
nhiên, các chính sách của ta vẫn còn nhiều điểm bất cập so với nhu cầu của ngành nông
nghiệp cũng như là so với các cam kết trong WTO. Bối cảnh hội nhập quốc tế đang đặt ra
các yêu cầu Việt Nam phải mở cửa thị trường, cắt giảm thuế và tiến tới thực hiện một khu
vực phi thuế quan. Việt Nam không được thực hiện các biện pháp trợ cấp làm bóp méo
thương mại, đặc biệt là các biện pháp trợ cấp xuất khẩu. Ngoài ra, Việt Nam khi gia nhập
WTO còn phải thực hiện những biện pháp ngặt nghèo hơn các nước khác như: Kiểm dịch
động thực vật, sở hữu trí tuệ và các rào cản kỹ thuật thương mại.
Xuất phát từ nhu cầu “Tìm hiểu về trợ cấp nông nghiệp Việt Nam thời kỳ hậu
WTO”, đề tài mong muốn cung cấp thêm một số thông tin, giúp chúng ta hiểu được các
khái niệm mới về trợ cấp trong WTO, nắm bắt khái lược thực trạng trợ cấp cho nông
nghiệp hiện nay, từ đó nêu ra một số biện pháp bổ sung cho hoạt động nông nghiệp hiện

vậy việc xác định một hình thức trợ cấp thuộc nhóm nào là rất quan trọng.
1.2. Phân loại trợ cấp và trợ cấp nông nghiệp:
1.2.1. Phân loại trợ cấp:
Trong WTO, có 3 loại trợ cấp với quy chế áp dụng khác nhau:
 Trợ cấp bị cấm (Trợ cấp đèn đỏ)
Bao gồm:
2
Kinh tế quốc tế Nguyễn Đình Minh-KTPTK22
- Trợ cấp xuất khẩu (trợ cấp căn cứ vào kết quả xuất khẩu, ví dụ thưởng xuất khẩu, trợ cấp
nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế/giảm thuế cao hơn mức mà sản phẩm tương
tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu…);
- Trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu
Đây là những hình thức trợ cấp mà hiện tất cả các thành viên WTO đều bị cấm áp dụng
 Trợ cấp không bị khiếu kiện (Trợ cấp đèn xanh)
Bao gồm:
- Trợ cấp không cá biệt: Tức là các loại trợ cấp không hướng tới một (một nhóm) doanh
nghiệp/ngành/khu vực địa lý nào. Tiêu chí để hưởng trợ cấp là khách quan; không cho cơ
quan có thẩm quyền cấp khả năng tuỳ tiện xem xét và không tạo ra hệ quả ưu đãi riêng đối
với bất kỳ đối tượng nào;
- Các trợ cấp sau (dù cá biệt hay không cá biệt):
Trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu do các công ty, tổ chức nghiên cứu tiến hành (với một
số điều kiện về loại trợ cấp và mức trợ cấp cụ thể);Trợ cấp cho các khu vực khó khăn (với
các tiêu chí xác định cụ thể về mức thu nhập bình quân hoặc tỷ lệ thất nghiệp).Trợ cấp để
hỗ trợ điều chỉnh các điều kiện sản xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới. Các
nước thành viên có thể áp dụng các hình thức này mà không bị thành viên khác khiếu kiện
(tức là loại trợ cấp được phép vô điều kiện).
 Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (Trợ cấp đèn vàng)
Bao gồm tất cả các loại trợ cấp có tính cá biệt (trừ các loại trợ cấp đèn xanh). Các nước
thành viên có thể áp dụng các hình thức trợ cấp này nhưng nếu gây thiệt hại cho nước
thành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác thì có

Phải cam kết cắt giảm cho
phần vượt trên mức tối
thiểu.
Nhóm trợ cấp
trong chương
trình “hỗ trợ
phát triển sản
xuất”
Ví dụ
- Trợ cấp đầu tư;
- Hỗ trợ “đầu vào” cho sản
xuất nông nghiệp cho nông
dân nghèo hoặc các vùng
khó khăn; hoặc
- Hỗ trợ các vùng chuyển
đổi cây thuốc phiện.
Đây là sự ưu đãi đặc biệt và
khác biệt dành cho các nước
đang phát triển.
 Trợ cấp “hộp xanh lá cây” là gì?
Trợ cấp “Hộp xanh lá cây” bao gồm các biện pháp trợ cấp thuộc một trong 05 nhóm xác
định và phải đáp ứng đủ 03 điều kiện cụ thể (xem các Hộp dưới đây).
 3 Điều kiện:
- Là các biện pháp không hoặc rất ít tác động bóp méo thương mại;
- Thông qua chương trình do Chính phủ tài trợ (kể cả các khoản đáng ra phải thu
nhưng được để lại);
- Không có tác dụng trợ giá cho người sản xuất.
 5 Nhóm xác định:
Nhóm 1 - Trợ cấp cho các Dịch vụ chung
Ví dụ: Trợ cấp cho nghiên cứu khoa học; kiểm soát dịch bệnh; đào tạo; khuyến nông, tư

- Trợ cấp tối đa bằng 85% hoặc ít hơn mức sản xuất cơ sở
- Trợ cấp trong chăn nuôi dựa trên số đầu con cố định.
 Trợ cấp “hộp hổ phách” là gì?
Trợ cấp thuộc “hộp hổ phách” là tất cả các trợ cấp trong nước không nằm trong nhóm “hộp
xanh lá cây”,“hộp xanh lơ” hoặc “chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất”.
Đây là hầu hết là các loại trợ cấp có tác động làm biến dạng thương mại. Trên thực
tế, hình thức trợ cấp “hộp hổ phách” thông dụng nhất ở các nước là các chương trình thu
mua nông sản của Chính phủ để can thiệp vào thị trường.
Trong WTO, đối với trợ cấp trong nước: những hình thức sau không bị cấm:
- Trợ cấp đầu tư thông thường cho nông nghiệp;
- Trợ cấp “đầu vào” của sản xuất cho người trực tiếp sản xuất ở các vùng nghèo tài
nguyên, thiếu nguồn lực hoặc thu nhập thấp;
- Trợ cấp đa dạng hoá cây trồng trong chương trình tiêu huỷ một số loại cây có chất
ma tuý
• Phân loại trợ cấp xuất khẩu:
Đối với từng mặt hàng hay nhóm hàng cụ thể thì có nhiều hình thức trợ cấp khác nhau như:
hỗ trợ lãi suất thu mua, bù lỗ tạm trữ, hoàn phụ thu, thưởng xuất khẩu, bù chênh lệch tỷ
giá, miễn giảm thuế đầu vào…Căn cứ vào tình hình và mục tiêu cụ thể để chính phủ sẽ đưa
ra các biện pháp trợ cấp khác nhau.
5
Kinh tế quốc tế Nguyễn Đình Minh-KTPTK22
Trong WTO, đối với trợ cấp xuất khẩu: trợ cấp nhằm giảm chi phí tiếp cận thị
trường nước ngoài (cước phí vận chuyển, nâng phẩm cấp để xuất khẩu…) và trợ cấp vận
tải nội địa và quốc tế cho hàng xuất khẩu sẽ không bị xếp vào các hình thức trợ cấp xuất
khẩu bị cấm.
1.3.Vai trò của trợ cấp trong thương mại :
- Với mọi hình thức trợ cấp, lợi thế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong những
ngành được trợ cấp luôn được cải thiện và nâng cao.
Chính phủ có thể trợ cấp trực tiếp cho nhà sản xuất hoặc trợ cấp gián tiếp thông qua
đầu vào cho nhà sản xuất. Ví dụ ngành sản xuất bút bi của Việt Nam sản xuất mỗi chiếc

trường nước nhập khẩu hay ngăn cản không cho giá tăng trong khi lẽ ra theo quy luật thị
trường bình thường thì giá phải tăng.
Trợ cấp xuất khẩu còn làm tăng lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu được trợ
cấp so với hàng xuất khẩu không được trợ cấp của các nước khác vào thị trường thứ
ba và ngăn cản hàng xuất khẩu của các nước khác vào thị trường này. Với lợi thế cạnh
tranh nhờ trợ cấp hàng xuất khẩu của nước trợ cấp có thể đẩy lùi các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường nước khác và chiếm được thị phần vượt mức hợp lý trong thương mại
xuất khẩu thế giới.
- Chính phủ các nước thường chủ động tiến hành trợ cấp cho các doanh nghiệp và sản
phẩm của nước mình nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế-xã hội nhất định như bảo hộ
sản xuất trong nước, hỗ trợ phát triển ngành non trẻ hay ngành trọng điểm của nền kinh tế,
khuyến khích đầu tư, cải thiện thu nhập của nhà sản xuất, bù đắp chi phí đầu tư ban đầu
quá lớn, v.v...
Đối với những ngành công nghiệp non trẻ, bước đầu còn nhỏ bé về quy mô, yếu
kém về năng lực cạnh tranh thì trợ cấp từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, mở
rộng quy mô, góp phần khởi động và đẩy nhanh sự phát triển của ngành.
Đối với những công ty mới gia nhập thị trường, thiếu vốn để trang trải chi phí rất
cao trong thời gian đầu, khó cạnh tranh nổi với những công ty “đàn anh” đã trụ vững
trên thị trường thì hỗ trợ của chính phủ có thể bù đắp cho những khoản thua lỗ phát
sinh trong những năm đầu, đưa công ty vào quỹ đạo phát triển ổn định.
- Ngoài ra, trợ cấp góp phần duy trì ổn định công ăn việc làm, hạn chế thất nghiệp,
bảo đảm trật tự và ổn định xã hội, đặc biệt là những khoản trợ cấp dành cho các doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, phá sản. Sự hỗ trợ của chính
phủ có thể giúp các doanh nghiệp này khỏi bị sụp đổ nhanh chóng, thúc đẩy các doanh
nghiệp cơ cấu lại sản xuất, tự điều chỉnh khả năng thích nghi và cạnh tranh trong thời
kỳ quá độ do những khó khăn mà môi trường thương mại quốc tế tạo ra.
- Trợ cấp cũng có thể được sử dụng nhằm khuyến khích những ngành sản xuất kém sức
cạnh tranh giảm công suất dư thừa hoặc rút khỏi những lĩnh vực hoạt động không hiệu
quả hoặc không sinh lợi. Nhờ đó, quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu lao động được diễn ra suôn sẻ hơn, góp phần thúc đẩy phân bổ nguồn lực thích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status