Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn nguyễn thị ánh tuyết, phúc yên, vĩnh phúc - Pdf 61

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THANH NGA
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ
PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Dược-Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Giảng viên hướng dẫn:

TS. Nguyễn Thị Bích Đào

Thái Nguyên, năm 2019


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận của
mình, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ
của các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y và trại lợn Nguyễn Thị Ánh Tuyết
– xã Cao Minh – Tp. Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc. Em cũng nhận được sự cộng
tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người
thân trong gia đình.
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong
suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bích Đào - người đã trực
tiếp hướng dẫn em thực hiện thành công khóa luận này.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo trại lợn Nguyễn
Thị Ánh Tuyết – xã Cao Minh – Tp. Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc, cùng toàn thể
anh chị em công nhân trong trại về sự hợp tác, giúp đỡ để em theo dõi các chỉ
tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này.
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè
đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn tất cả!

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs

: Cộng sự

LMLM

: Lở mồm long móng

Nxb

: Nhà xuất bản

Tp

: Thành phố

UBND

: Ủy ban nhân dân


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv

4.2.3. Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái ................................... 33
4.3. Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản ......... 34
4.3.1. Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh ............................................. 34
4.3.2. Kết quả phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại ............................... 35
4.4. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản ......................... 36
4.4.1. Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản .......................................... 36
4.4.2. Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản ......................................... 37
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 38
5.1. Kết luận .................................................................................................... 38
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 40


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những thời gian gần đây, cùng với sự phát triển tiến bộ của khoa
học kỹ thuật ngày càng cao đặc biệt là sự phát triển của công nghệ 4.0 và được
sự quan tâm của nhà nước, ngành chăn nuôi đang ngày càng phát triển, tăng
nhanh về số lượng và cả chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Trong đó ngành chăn
nuôi lợn đóng góp một phần quan trọng, chăn nuôi lợn cung cấp một lượng lớn
thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, là nguồn phân bón hữu cơ tốt, giữ cân
bằng hệ sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người. Ngoài ra, chăn nuôi
lợn còn mang lại nguồn thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định
đời sống người dân. Mặt khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho
phát triển chăn nuôi, chăn nuôi lợn như có nguồn nguyên liệu dồi dào cho chế
biến thức ăn và có sự đầu tư của nhà nước. Do đó chăn nuôi lợn giữ vị trí hàng
đầu trong ngành chăn nuôi của nước ta.



3

Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Điều kiện của trang trại
2.1.1.1.Vị trí địa lý
Trại lợn Nguyễn Thị Ánh Tuyết nằm trên địa phận thôn Cao Quang, xã
Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Là trại lợn khách hàng của
Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam. Trang trại do bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết
làm chủ và được cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam
chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại.
2.1.1.2.Đặc điểm khí hậu, địa hình
Về địa hình: Thành phố Phúc Yên có địa hình đa dạng, tổng diện tích là
12029,55 ha, chia thành 2 vùng chính là vùng đồi núi bán sơn địa (Ngọc Thanh,
Cao Minh, Xuân Hoà, Đồng Xuân), diện tích 9700 ha; vùng đồng bằng gồm
các phường: Nam Viêm, Tiền Châu, Phúc Thắng, Hùng Vương, Trưng Trắc,
Trưng Nhị, diện tích 2300 ha, có hồ Đại Lải và nhiều đầm hồ khác có thể phát
triển các loại hình du lịch.
Về khí hậu: Thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23 °C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều
về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông. Khí hậu tương đối thuận lợi
cho phát triển nông nghiệp đa dạng. Độ ẩm không khí trung bình năm là
83%.Hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông – Bắc, về mùa hè là Đông – Nam,
Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong thành phố có ý nghĩa về mặt kinh
tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp với
tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp.



5

quạt,…, những vật dụng cá nhân cũng được trại chuẩn bị như: kem đánh răng,
xà phòng, dầu gội, xà bông tắm,…,
+ Khu nhà ăn, khu nhà bếp rộng rãi, sạch sẽ và hợp vệ sinh.
+ Nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ
và bảo quản các loại thuốc, vaccine, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm
sóc, điều trị cho đàn lợn của trại.
2.1.2. Thuận lợi, khó khăn
2.1.2.1. Thuận lợi
+ Được sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn
của các ngành, các cấp có liên quan như UBND xã Cao Minh, Trạm thú y thành
phố Phúc Yên tạo điều kiện cho sự phát triển của trại.
+ Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, đảm bảo khoảng cách an toàn
sinh học và không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh.
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật của trại có năng lực, năng động, nhiệt
tình và có trách nhiệm trong công việc.
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện
đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
2.1.2.2. Khó khăn
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức
tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn.
+ Đội ngũ công nhân trong trại thay đổi liên tục nên chưa có kinh nghiệm
trong công việc và có lúc thiếu, do đó ảnh hưởng đến tiến độ công việc.
+ Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu, chưa đáp ứng được
nhu cầu sản xuất.


6


tăng dần từ 0,5 - 6 kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 5 giờ, 9 giờ, chiều
lúc 16 giờ, mỗi bữa tăng lên 0,5 kg.
- Khi lợn nái đẻ được 1 tuần thì cho ăn 3 bữa/ngày vào 5 giờ, 9 giờ, 16
giờ với tiêu chuẩn 2,5 - 3kg/con /bữa.
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng
đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)
[11], ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ
đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn
mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục. Ô úm tạo điều kiện để
khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những
tháng mùa đông. Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm
cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 4 - 5 ngày tuổi). Vào ngày
dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con. Kích thước ô úm
: 1,2 m x 1,5 m. Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5
ngày trước khi đón lợn con sơ sinh.
2.2.2. Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản
2.2.2.1. Hiện tượng chậm động dục trở lại của lợn nái
 Nguyên nhân
Do thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp, thành phần dinh dưỡng mất cân
đối, thức ăn hôi mốc, có nhiều độc tố…
+ Thức ăn nhiều chất bột đường hoặc thiếu đạm và vitamin A,D,E →
buồng trứng lợn nái chậm phát triển → chậm hay không động dục; thai yếu và
quái thai.
+ Thức ăn hôi mốc → sinh độc tố →gây ngộ độc cho lợn → sẩy thai,
chậm động dục, đẻ ít con.
+ Do lợn mắc các bệnh sinh sản như: Những bệnh nhiễm trùng đường
máu hay đường sinh dục, bệnh tai xanh, bệnh thai gỗ… → tổn thương trên tử




+ Cần bổ sung thức ăn giàu dinh dưỡng cho lợn, nhất là đạm, khoáng,
vitamin. Các chất này có nhiều trong thịt, cá, trứng, tôm, cua, khô dầu đậu, đỗ,
dầu cá, bí đỏ, giá đỗ nảy mầm, rau xanh non ngon,…
+ Bổ sung vào cám cho lợn ăn hàng ngày các loại thuốc bổ trợ như
vitamin A, D, E, C, B.complex…
+ Tiêm thuốc kích dục tố eCG và hCG cho lợn nái. Ngoài ra, có thể tiêm
eCG và Estrogen để điều trị bệnh chậm động dục sau cai sữa của lợn nái.
+ Nếu lần 1 không đậu thì tiếp tục cho phối lần 2, nếu đã qua 2 lần phối
giống mà vẫn không đậu thì nên loại thải.
2.2.2.2. Bệnh bại liệt
Theo Ngô Đức(2011) [6]: Bệnh bại liệt trên lợn nái, thường xảy ra ngay
sau khi lợn sinh hoặc trong giai đoạn mang thai. Các biểu hiện chính là: Chân
sau run mạnh, khuỵu xuống sau đó không thể đứng dậy được, kèm theo là liệt
các cơ như cơ hầu. Lợn thở rất nhanh và có sự co thắt các cơ ở ống dẫn sữa làm
bầu vú căng cứng sữa không thể xuống được (ở những lợn đang sinh hay sau
sinh), nhiệt độ cơ thể lợn tăng cao có thể trên 41oC. Lợn nái có thể chết.
Nguyên nhân gây bệnh
Bại liệt trên lợn nái là bệnh rất phức tạp, có rất nhiều nguyên nhân:
- Do dinh dưỡng: Thường là do sự thiếu hụt Canxi so với bình thường.
Trong trường hợp này cần phải theo dõi kỹ các triệu chứng lâm sàng và phân
tích máu mới có thể chẩn đoán được chính xác bệnh. Bệnh này xảy ra thường
do không cung cấp đầy đủ nhu cầu Canxi, Phospho, thiếu vitamin D trong thời
gian mang thai làm rối loạn quá trình vận chuyển Canxi vào máu và Canxi từ
xương vào máu.
- Do tác nhân cơ học: Trong quá trình mang thai, sự di chuyển lợn lên
chuồng đẻ khiến lợn dễ bị trượt ngã gây liệt chân.


10


Tiêm CALCIFORT vào tĩnh mạch tai lợn, liều 5-10ml/20kg thể trọng,
ngày tiêm 1 lần, liên tục từ 3-5 ngày.
Lợn nái sau khi sinh có biểu hiện sốt, nên sử dụng thuốc hạ sốt và kháng
sinh chống phụ nhiễm như:
ANAGIN 25%: Liều 1ml/15kg thể trọng, ngày tiêm 1 lần.
NAVET-ANAGIN 30%: Liều 1ml/10-15kg thể trọng, ngày tiêm 1 lần.
NAVET-ANAGIN C: Liều 1ml/15kg thể trọng, ngày tiêm 1 lần.
NAVET-AMOXY 15: Liều 1ml/10kg thể trọng, ngày tiêm 1 lần liên tục
từ 3-5 ngày để phòng những bệnh nhiễm trùng gây bại liệt sau khi sinh và các
bệnh viêm vú, viêm tử cung, mất sữa.
2.2.2.3. Bệnh sảy thai
 Ba giai đoạn thường gặp
- Trong giai đoạn thụ thai đến khi bám chắc được vào thành dạ con.
- Trong giai đoạn bám vào thành dạ con sau 14 ngày thụ thai đến khi
được 35 ngày tuổi.
- Giai đoạn thuần thục của bào thai, điều này có nghĩa là sẩy thai có thể
xảy ra bất kỳ khi nào, sau 14 ngày thụ thai cho đến hết giai đoạn 110 ngày mang
thai ở lợn.
Theo số liệu thống kê thì rủi ro sẩy thai ở lợn còn có những nguyên nhân
sau:
- Do tuổi thọ và sức khoẻ của lợn bố, mẹ.
- Nhiệt độ chuồng trại quá nóng.
- Tiết dịch, máu qua đường âm đạo.
- Sự què quặt sức khoẻ quá yếu của bào thai.
- Lợn mẹ hay mắc chứng viêm bầu vú, ít sữa, vú hay bị viêm nhiễm, sưng.
- Có tiền sử hay bị sẩy thai, con bị chết lưu hoặc chết sau khi sinh.
- Điều kiện chăn nuôi ăn uống kém.




13

+ Do lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình nuôi từ hậu
bị đến khi lợn chửa, đẻ, như ít vận động, cơ bụng, cơ hoành, cơ liên sườn yếu
và xương chậu hẹp. Trong quá trình chăm sóc chúng ta nên lưu ý đến chế độ
ăn, bổ sung đầy đủ các khoáng chất, vitamin, cân đối chất đạm, chất xơ... chúng
ta có thể bổ sung chế phẩm sinh học Vườn sinh thái vào trong thức ăn, pha trộn
theo tỷ lệ như hướng dẫn, trong chế phẩm chứa đầy đủ và cân bằng các chất
khoáng vi lượng, đa lượng, men, vitamin, acid amin...sẽ làm cho lợn mẹ tăng
sức đề kháng.
+ Do xương chậu hẹp bẩm sinh, do thai quá to vì chế độ ăn uống cho lợn
nái khi có chửa không đúng quy trình kỹ thuật. Khi lợn chửa bị sốt cao do mắc
các bệnh truyền nhiễm đã điều trị trong thời gian khá dài.
+ Do lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích
đẻ quá thấp trong thời gian đẻ. Do lợn nái bị liệt 1/3 thân sau; nơi đẻ, cách đỡ
đẻ không đúng kỹ thuật hoặc chưa phù hợp và do đẻ ngược thai...
 Triệu chứng:
+ Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được.
+ Cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu.
+ Nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt).
Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp
theo. Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai
(quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to.
 Biện pháp can thiệp:
+ Trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, cần tiêm oxytocin
20- 50UI/ 1con nái, có thể tiêm vào tĩnh mạch là tốt nhất.
+ Trường hợp không có kết quả, cần can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật
để lấy thai ra.



15

đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát
triển của vi khuẩn (Black W. G., 1983) [17].
+ Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng
quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn,
bệnh lao... thường gây ra các bệnh viêm tử cung.
+ Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh
bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ. Hoặc do thiếu
dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng
xâm nhập cũng gây viêm.
+ Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm
nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn.
+ Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền
bệnh sang lợn nái.
+ Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời
tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài.
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm thử cung trên 620 lợn nái ngoại
nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn
tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07%. Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn
nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [13].
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái, nếu không được
chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái.
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng
cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của
tinh trùng, tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu
tinh trùng). Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây
bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường
dạ con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [9].

âm đạo bằng dung dịch nước etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000.


17

Đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh
oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày. Tiêm amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần
cách nhau 48 giờ. Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao.
Đối với lợn nái sau khi đẻ, sảy thai và viêm nặng: Thụt rửa tử cung bằng
dung dịch Iodine 10% pha 10 ml/2 lít nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2 ngày
đầu và thụt rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ. Sau khi thụt
rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10% (5 ml thuốc pha 20 ml nước sinh lý) hay
4 g streptomycin + 40.000 UI penicillin ngày 1 lần trong 3 ngày liên tiếp vào
tử cung. Đồng thời tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2 ống 5 ml/ 1 lần) nhiều lần
trong ngày để tử cung co bóp tống dịch sản ra ngoài. Tiêm kháng sinh phổ rộng
chống viêm như: tetramycin LA, amoxi 15% 3 lần liên tiếp mỗi lần cách nhau
48 giờ. Ngoài ra, tiêm các loại thuốc bổ trợ như: urotropin giúp tăng cường bài
tiết độc tố, thuốc hạ sốt, vitamin C liều cao và canxi hỗ trợ co bóp tử cung, các
thuốc kháng viêm: ketovet,…
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết
về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái. Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng
suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà
còn có thể làm cho lợn nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả
năng sống sót của lợn con.
Theo Nguyễn Văn Thanh ( 2003) [12], trên các đàn nái ngoại nuôi tại
khu vực Đồng bằng sông Hồng tỉ lệ viêm tử cung sau đẻ vào khoảng 23,65% .
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [8], bệnh viêm tử cung ở đại gia súc
nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác

làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập
và phát triển để gây nên các triệu chứng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status