Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thủy lợi thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi sông đáy - Pdf 61

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả. Các kết quả
nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một
nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào. Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực
hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.
Tác giả Luận văn

Đinh Thị Hà

i


LỜI CÁM ƠN
Trong qua trình học tâp và nghiên cứu tại trường Đại học Thủy Lợi tác giả đã nhận được
sự quan tâm rất lớn của các thầy, cô giáo trong trường, cùng tập thể lớp 25QLXD21,
đồng thời tác giả nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Cơ quan nơi tác giả
công tác trước đây, cũng như sự giúp đỡ từ phía gia đình tác giả tạo điều kiện cơ sở, vật
chất cũng như kích lệ tinh thần để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn chuyên ngành
Quản lý xây dựng tại trường.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Trường Đại học Thủy lợi, Khoa Công trình, Phòng
Đào tạo Đại học và Sau đại học, Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, các phòng
ban của Trường đã có những giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình
thực hiện Luận văn. Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Dương
Đức Tiến là thầy hướng dẫn trực tiếp tác giả thực hiện Luận văn với đề tài: Nghiên cứu
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thủy lợi thuộc Cty TNHH
MTV ĐTPTTL Sông Đáy.
Cuối cùng, tác giả xin cám ơn gia đình đã luôn động viên, khích lệ, là chỗ dựa vững
chắc để tác giả hoàn thành việc nghiên cứu của mình.
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự giúp đóng
góp của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để tác giả hoàn thiện Luận văn tốt hơn.
Trân trọng cảm ơn!

3.1.5. Nguồn tài chính và sử dụng nguồn tài chính ....................................................... 78
3.1.6. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện công tác quản lý, khai thác vận hành
hệ thống công trình thủy lợi của Công ty ...................................................................... 80
3.2. Công tác quản lý điện năng .................................................................................... 90

iii


Bảng 3.5 Điện năng tiêu thụ từ năm 2013 đến năm 2017 ............................................. 90
3.3. Công tác quản lý khai thác vận hành các công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội
đồng ............................................................................................................................... 91
3.4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý khai thác vận hành hệ thống các
công trình thủy lợi của Công ty ĐTPT Thủy lợi Sông Đáy .......................................... 94
3.4.1. Giải pháp đối với công tác sửa chữa thường xuyên ............................................ 94
3.4.2. Giải pháp đối với công tác quản lý điện năng ..................................................... 97
3.4.3. Giải pháp đối với công tác quản lý khai thác vận hành hệ thống công trình thủy
lợi nhỏ, nội đồng............................................................................................................ 98
....................................................................................................................................... 99
3.4.4. Giải pháp cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực .................................................... 100
Kết luận chương 3 ....................................................................................................... 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 107

iv


DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ bồ trí hệ thống các công trình trạm bơm .............................................. 23
Hình 1.2 Sơ đồ công trình các kiểu trạm bơm.............................................................. 24
Hình 3.1 Bản đồ hệ thống công trình thủy lợi Sông Đáy .............................................. 73


CNH

Công nghiệp hóa

CTTL

Công trình thủy lợi

HĐH

Hiện đại hóa

KTCT

Khai thác công trình

KT-XH

Kinh tế - xã hội

MTQG

Môi trường Quốc gia



Nghị định

NN

trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy
sản; phòng, chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác.
*Công ty TNHH MTV- ĐTPTTL Sông Đáy với hệ thống các công trình thủy lợi được
bàn giao quản lý, khai thác và vận hành phục vụ tưới, tiêu nước dân sinh kinh tế và đất
nông nghiệp của 6 quận huyện chính đó là: H. Đan Phượng, H. Hoài Đức, H. Hà Đông,
H. Thanh Oai, H. Chương Mỹ, H. Mỹ Đức và một phần của quận Bắc Từ Liêm, huyện
Phú Xuyên, Thường Tín thuộc TP Hà Nội. Tổng diện tích lưu vực trên 60.000 ha, trong
đó diện tích đất nông nghiệp gần 30.000 ha. Vùng hệ thống phục vụ có vị trí địa lý:
Phía Bắc giáp sông Hồng, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp Công ty TNHH
MTV ĐTPT thuỷ lợi Sông Nhuệ, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình.
*Tuy nhiên, với tình hình biến đổi khí hậu ngày càng khắt nghiệt như hiện nay, mùa
kiệt thì mực nước sông Hồng, xuống thấp, chất lượng nước bị ô nhiễm trầm trọng, mùa
lũ thì lên nhanh, tiêu rút chậm do cơ cấu sử dụng đất thay đổi nhanh chóng cùng sự
phát triển của các khu đô thị, khu dân cư. Hệ thống các công trình thủy lợi lạc hậu
xuống cấp chủ yếu được đầu tư xây dựng từ những năm 1970-1980, trong khi đầu tư
xây dựng mới các công trình thủy lợi theo quy hoạch thủy lợi 2020 và tầm nhìn 2030
của TP Hà Nội chưa thể đáp ứng kịp thời những thay đổi trên. Mặt khác, theo phân
cấp quản lý nhà nước trên địa bàn TP Hà Nội mới ban hành theo Quyết định số
17978/QĐ-UBND Cty tiếp nhận thêm 534 trạm bơm lớn nhỏ, tưới, tiêu kết hợp và
toàn bộ hệ thống kênh mương nội đồng của các quận huyện: Đan Phượng, Hoài Đức,
Quận Bắc Từ Liêm, Quận Hà Đông, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Chương Mỹ,
Mỹ Đức( trước đây do các Xã, huyện phụ trách quản lý).

1


*Tất cả những vẫn đề trên đặt ra một vấn đề hết sức khó khăn và nan giải cho Cty
TNHH MTV ĐTPTTL Sông Đáy nói riêng và ngành thủy lợi trên địa bàn Hà Nội nói
chung về việc thực hiện các nội dung của công tác quản lý, khai thác vận hành hệ
thống công trình thủy lợi. Đặc biệt về những vấn đề khó khăn nổi cộm trong việc quản

Công ty TNHH MTV – ĐTPTTL Sông Đáy.

3


CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC VẬN
HÀNH CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
1.1 Khái quát chung về công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi
1.1.1 Khái quát về công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây dựng
Công tác quản lý khai thác vận hành công trình là gì? Công tác quản lý khai thác vận
hành công trình là sự tác động có tổ chức của đơn vị quản lý đối với các hoạt động khai
thác công trình nhằm mục đích sử dụng tiềm năng và lợi thế của công trình phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, duy trì trạng thái kỹ thuật và không gian kiến
trúc của công trình.
Trong Luật xây dựng 50/2014/QH13 đã quy định về hoạt động xây dựng gồm lập quy
hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây
dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm
thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây
dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. [1]
Như vậy, nội hàm của hoạt động xây dựng là các công việc xuyên suốt từ chủ trương
đầu tư đến kết thúc tuổi thọ công trình. Thông thường, một vòng đời khép kín của một
dự án đầu tư xây dựng, bắt đầu từ khi có ý tưởng ban đầu đến khi thành hiện thực, thông
thường phải trải qua sáu giai đoạn cơ bản như sau: 1. Nghiên cứu lập dự án; 2. Thực
hiện các bước thiết kế; 3. Thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị công nghệ; 4. Vận hành và
hoàn chỉnh; 5. Đưa vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì; 6. Tháo dỡ, phá bỏ công
trình khi hết tuổi thọ thiết kế. Do đó, công tác quản lý khai thác vận hành công trình xây
dựng là một hoạt động không thể tách rời trong các hoạt động xây dựng.
Ở Việt Nam cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, là sự ra đời của những công
trình xây dựng lớn mới được xây dựng như: các tòa nhà cao tầng, các công trình giao
thông, công trình cấp nước, công trình thủy lợi, thủy điện... cùng với hệ thống các công

triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp. [3] Diện tích
lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên qua từng
thời kì. Cụ thể theo 7 vùng kinh tế như sau :
- Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ.

5


+ Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40.190 đập dâng, hàng trăm
công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông.
Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết cấp nước, phát điện,
chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác Bà, Núi Cốc, Cấm Sơn. Diện
tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037 ha và cấp nước sinh hoạt cho hơn
30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị và công nghiệp ở các tỉnh.
+ Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống sông Hồng-Thái
Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê hoàn chỉnh bảo
vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong đó có 399 km đê sông, 194
cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển và cửa sông.[4]
- Vùng Đồng bằng sông Hồng
+ Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa gồm 500 cống, 1.700
trạm bơm điện chính và 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính (cấp
I, II, III), 35 hồ chứa (dung tích từ 0,5-230 triệu m3) và nhiều hồ chứa nhỏ có tổng diện
tích tưới thiết kế khoảng 85.000 ha, kết hợp cấp nước sinh hoạt.
+ Phòng chống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồm:
2.700 km đê sông, 1.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310 km đê biển + cửa sông.
Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m ở Hà Nội và +7,20 m
tại Phả Lại. Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ Hà Nội có mức nước thiết kế
+13,4m.[4]
- Vùng Bắc Trung bộ
+ Tưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy lợi lớn là Đô

+ Công trình chống lũ: chưa được đầu tư nhiều, mới có một vài tuyến đê nhỏ, bờ bao
chống lũ sớm và lũ tiểu mãn ở một số vùng nhỏ.
- Miền Đông Nam bộ
+ Tưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình lớn lợi dụng tổng
hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng trên sông Sài
Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550 Gwh/năm); đập Nha
Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng các công trình có quy mô
vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung bình 4,498 tỷ Kwh/năm. Công
7


trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết kế khoảng 93.000 ha và chuyển sang sông Vàm
Cỏ khoảng 10 m3/s. Ngoài ra còn nhiều công trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục
ngàn hecta. Các hồ chứa đã điều tiết tăng lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được
đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ Đông 8-10 km. Nước
ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai thác để tưới cho
cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê. Tổng lượng nước ngầm khai thác ước tính khoảng
750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000 m3/ngày (gồm các trạm bơm
Hoóc Môn ở TP. Hồ Chí Minh 20.600 m3/ngày và Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh).
+ Phòng chống lũ: Hiện nay, công trình phòng chống lũ chủ yếu là các hồ chứa ở thượng
lưu tham gia chống lũ cho bản thân công trình và một phần giảm lũ cho hạ du. Ở hạ du
chỉ có một vài tuyến đê nhỏ.[4]
- Vùng Đồng bằng sông Cửu long
+ Tưới tiêu, cấp nước: Đã cải tạo và đào mới trên 4.430 km kênh trục và kênh cấp
I tạo nguồn cách nhau khoảng 5 km/kênh (có chiều rộng từ 8-40 m, cao trình đáy từ 2,0 ¸ -4,0 m); trên 6.000 km kênh cấp II (khoảng 1-2 km có 1 kênh), đưa nước ngọt tưới
sâu vào nội đồng và tăng cường khả năng tiêu úng, xổ phèn cho đồng ruộng và 105 trạm
bơm điện quy mô lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ để tưới tiêu với năng lực tưới thiết
kế 81.620 ha (thực tưới được 23.380 ha). Xây dựng khoảng 80 cống rộng từ 5 m trở lên
trong đó có nhiều cống rộng từ 10-30 m, hàng trăm cống có bề rộng 2-4 m và hàng vạn
cống nhỏ để ngăn mặn, ngăn lũ, lợi dụng thuỷ triều tưới tiêu. Lớn nhất là cống đập Ba

mới khai thác với năng lực thấp hơn. Bên cạnh nguyên nhân khác quan, như công trình
bị xuống cấp theo thời gian, nhiều công trình xây dựng cách đây 40, 50 năm; xu hướng
bất lợi của thời tiết khí hậu; chế độ vận hành hồ chưa hợp lý; nhu cầu nước các ngành
tăng lên do phát triển kinh tế - xã hội. Có Nguyên nhân chủ quan do không được đầu tư
thỏa đáng để duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa, nâng cấp công trình; do các vấn đề về thể
chế và tổ chức quản lý khai thác vận hành công trình.
Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 và theo đó các Nghị
định, Thông tư hướng dẫn Luật lợi có hiệu lực, đã hoàn thiện cơ sở pháp lý, quy định rõ
nội dung, chức năng nhiệm vụ và nguồn tài chính hoạt động cho các tổ chức hoạt động
quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi, cùng với nhận thức mới về tầm quan
trọng của công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi của Nhà nước và nhân
9


dân, sự lỗ lực nâng cao hiệu quả quản lý của các đơn vị tổ chức quản lý, hi vọng sẽ mang
lại sự đột phá mới trong công tác quản lý khai thác vận hành công trình thủy lợi, góp
phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
1.2 Những thành tựu cơ bản trong công tác quản lý khai thác vận hành công trình
thủy lợi ở Việt Nam
- Công tác thủy lợi đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ sản xuất và dân sinh, bảo
đảm an ninh lương thực, góp phần bảo vệ môi trường và phòng, chống giảm nhẹ thiên
tai.
- Hệ thống tổ chức quản lý thủy lợi từ Trung ương đến địa phương không ngừng củng
cố, hoàn thiện
+ Tổ chức nhà nước về thủy lợi từ Trung ương đến địa phương tương đối đồng bộ, thống
nhất để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi. Ở Trung ương, có Tổng cục
Thủy lợi trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực chức năng quản lý
nhà nước về thủy lợi. Ở cấp tỉnh, có 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành
lập Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão). Ở cấp huyện,
thành lập Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Phòng Kinh tế thực hiện

hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định. Thuỷ lợi đáp ứng các yêu
cầu về nước một trong những điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng
như các loại hình sản xuất. Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát
triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về kinh tế và văn hoá xã hội. Tuy nhiên, khái niệm về công trình thủy lợi mới chỉ được đưa ra ở một số tài liệu
sau:
Theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04
tháng 04 năm 2001 về khai thác và bảo vệ công trinhg thủy lợi đưa ra khái niệm công
trình thủy lợi như sau: “Công trình thuỷ lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm
khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và
cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn
nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại” [1].
Theo Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19 tháng 06 năm 2017 thì: “Công trình thủy
lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm,
hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai
thác thủy lợi” [2].
11


Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8418:2010, công trình thủy lợi được định

nghĩa

như sau: “công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác các mặt
lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh
thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, kênh, công trình trên kênh và bờ bao
các loại” [3].
Theo giáo trình Thủy công: “Công trình được xây dựng để sử dụng nguồn nước gọi là
công trình thủy lợi” [4].
Như vậy, có thể thấy công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng được xây
dựng để sử dụng nguồn nước và đây làbiện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước với

đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3
lên đến 2,0÷2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4÷2,7 lần. Nhờ có nước tưới chủ động
nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ;
- Góp phần vào việc xoá đói giảm nghèovà chống hiện tượng sa mạc hoá;
- Tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống loài cây
trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực;
- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng
khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới;
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch,...;
- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn
đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp. Từ đó góp phần nâng cao đời sống
của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị trong cả nước;
- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều,... từ đó bảo
vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất.
Tóm lại, thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp
phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách
trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành
này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo. Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc CNH-HĐH đất nước.

13


1.2.4 Phân loại công trình thủy lợi
Để phục vụ cho các lĩnh vực thủy lợi khác nhau và do điều kiện khí hậu thủy văn, địa chất
và địa hình khác nhau chia ra các loại công trình thủy lợi có kết cấu khác nhau như sau:
1.2.4.1 Các loại đập
Đây là những công trình chắn ngang sông, làm dâng cao mực nước ở phía trước tạo
thành hồ chứa. Vật liệu làm đập là bê tông, bê tông cốt thép, gỗ, đá, đất và được gọi là
đập bê tông, đập bê tông cốt thép, đập gỗ, đập đá, đập đất. Loại đập được dùng rộng rãi

không thể đào kênh được thì người ta phải làm đường hầm để nối tiếp các kênh chuyển
nước. Cũng có thể là đường hầm dẫn nước vào nhà máy thủy điện, hoặc đường hầm
tháo lũ của hồ chứa,...;
- Đường ống là những ống dẫn nước làm bằng thép, bê tông cốt thép được đặt trên mặt
hoặc dưới đất hoặc bố trí trong thân đập, dưới kênh mương, đê,… để dẫn nước.
1.2.4.4 Các công trình chuyên môn
Là những công trình được dùng cho một số mục đích kinh tế thủy lợi như:
- Trạm thủy điện, buồng xoắn, bể áp lực, tháp điều áp;
- Công trình giao thông thủy: âu tàu, máy nâng tàu, công trình chuyển gỗ, bến cảng,…;
- Công trình thủy nông: cống điều tiết, hệ thống tưới tiêu, hệ thống thoát nước;
- Công trình cấp nước và thoát nước: công trình lấy nước, dẫn nước, trạm bơm, công
trình cho vệ sinh, thoát nước,…;
- Công trình cho cá: đường cá đi, đường chuyển cá, hồ nuôi cá,…

15


1.3 Công tác quản lý công trình thủy lợi
1.3.1 Công trình hồ chứa đập dâng
1.3.1.1 Các khái niệm và phân loại
(1) Các khái niệm:
- Đập: là công trình làm nhiệm vụ ngăn nước và các công trình có liên quan, tạo hồ chứa
nước nhằm thực hiện các mục đích sau đây:
+ Tích trữ nước, cung cấp cho các nhu cầu dùng nước;
+ Điều tiết hoặc phân chia dòng chảy lũ, giảm ngập lụt cho vùng hạ du;
+ Tạo áp lực nước để phục vụ phát điện.
- Các công trình có liên quan đến hồ chứa nước, gồm: công trình lấy nước, công trình
tháo nước, công trình xả lũ, âu thuyền;
- Vùng hạ du đập: Là vùng bị ngập lụt khi hồ xả nước theo quy trình; xả lũ trong tình
huống khẩn cấp hoặc vỡ đập;

-

Bảo đảm an toàn đập là ưu tiên cao nhất trong xây dựng, quản lý, khai thác và

bảo vệ hồ chứa nước;
-

Công tác quản lý an toàn đập phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trong

quá trình xây dựng và quản lý khai thác hồ chứa nước;
-

Bảo đảm tính chủ động trong quản lý an toàn đập;

-

Xác định rõ trách nhiệm của chủ đập, của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các

cấp, đề cao ý thức của cộng đồng trong công tác quản lý an toàn đập.
1.3.1.3 Nội dung quản lý công trình hồ chứa đập dâng
- Điều tiết nước hồ chứa:
+ Chủ đập phải lập quy trình điều tiết nước hồ chứa, quy định việc tích nước, xả nước
hồ, trong điều kiện bình thường và trong tình huống khẩn cấp, trình cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện;
+ Việc điều tiết nước hồ chứa nước phải tuân theo các quy định sau: Không được tích
trữ nước trong hồ vượt trên mức do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định;
trường hợp đập bị hư hỏng hoặc sự cố, có yêu cầu tháo nước để hạ thấp mức nước hồ,
phải khống chế tốc độ hạ thấp mức nước sao cho không gây sạt trượt mái thượng lưu
đập; trong mùa lũ, các hồ chứa có nhiệm vụ điều tiết lũ, việc vận hành tích nước, xả lũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status