1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHƢƠNG 1.
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi từ cơ chế
bao cấp sang cơ chế thị trường. Sự chuyển biến này đã làm thay đổi mạnh mẽ nền
kinh tế nước ta. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, hầu như tất cả doanh nghiệp
đều xem mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là quan trọng nhất.
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của
quá trình từ đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lời. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù khoa học của kinh tế vĩ
mô nói chung, gắn với cơ chế thị trường có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá
trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, nguyên vật liệu… Nó là mục
tiêu mà tất cả các nhà kinh tế đều hướng tới với mục đích rằng họ sẽ thu được lợi
nhuận cao, mở rộng được doanh nghiệp, chiếm lĩnh và nâng cao uy tín của mình trên
thị trường. Vì vậy doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu cần phải chú trọng đến điều
kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi
phí yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải sử dụng các yếu
tố đầu vào hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu.
Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mối quan
tâm của tất cả mọi người, và của cả doanh nghiệp. Đó cũng là vấn đề bao trùm xuyên
suốt, thể hiện trong công tác quản lý, bởi suy cho cùng quản lý kinh tế là để đảm bảo
tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tất cả những
cải tiến, đổi mới về nội dung, phương pháp, biện pháp áp dụng trong quản lý chỉ thực
sự đem lại ý nghĩa khi chúng làm tăng được hiệu quả sản xuất kinh doanh – không
những là thức đo về chất lượng, phản ánh tổ chức, quản lý kinh doanh, mà còn là vấn
đề sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển vươn lên thì
trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả.
Khi đề cập đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, các nhà kinh tế dựa vào từng góc
xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh
tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trình tái
sản xuất, nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên
quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực
hiện mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ”.
1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và
tiết kiệm lao động xã hội. Theo nghĩa tổng quát, thực chất khái niệm về hiệu quả sản
xuất kinh doanh đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản
xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh,
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học công
nghệ, nguồn vốn…) để đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Thang Long University Library
3
Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng có thêm điều
kiện mở mang và phát triển đầu tư mua sắm thiết bị, công nghệ… nâng cao chế độ
phúc lợi cho người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước. Chính vì
vậy, trong điều kiện khan hiếm nguồn lực như hiện nay, việc sử dụng chúng có tính
cạnh tranh và ngày càng thoả mãn nhu cầu cao của xã hội đặt ra yêu cầu là phải khai
thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng tới yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi
phí đến mức tối đa.
1.1.3. Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh suy đến cùng là kết quả
kinh doanh. Nội dung phân tích chính là quá trình tìm cách lượng hóa những yếu tố
đã tác động đến kết quả kinh doanh. Đó là những yếu tố của quá trình cung cấp, sản
xuất, tiêu thụ và mua bán hàng hóa, thuộc các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ.
Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh còn nghiên cứu tình hình sử dụng các
nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp
của mình và là cơ sở quan trọng để nhà quản trị đưa ra các chiến lược, các quyết định
kinh doanh, là một công cụ quan trọng thuộc một trong những chức năng quản trị ở
doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời là biện pháp quan trọng để
phòng ngừa rủi ro. Để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro
xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh của mình, đồng
thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, để vạch ra các chiến lược
kinh doanh cho phù hợp. Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp
về tài chính, lao động, vật tư… Doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích các điều
kiện tác động ở bên ngoài như thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh… trên cơ
sở phân tích trên, doanh nghiệp dự đoán các rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch
phòng ngừa trước khi xảy ra.
Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản
trị ở bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi
họ có mối quan hệ về nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có
thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư hay cho vay vốn.
1.2. Một số phƣơng pháp phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1.2.1. Phương pháp so sánh
Phƣơng pháp so sánh là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng
cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Đây là phương pháp
đơn giản và được sử dụng nhiều nhất trong phân tích hoạt động kinh doanh cũng như
trong phân tích và dự báo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ mô.
Phương pháp so sánh có hai dạng:
Phương pháp số tuyệt đối: là hiệu số của hai chỉ tiêu, bao gồm chỉ tiêu kỳ phân tích
và chỉ tiêu cơ sở. Ví dụ so sánh giữa kết quả thực hiện và kế hoạch hoặc giữa thực
hiện kỳ này và thực hiện kỳ trước.
Thang Long University Library
5
thị trường và khả năng phân tích tốt.
1.2.2. Phương pháp phân chia chi tiết
Phương pháp phân chia chi tiết được sử dụng để chia nhỏ quy trình và kết quả
thành những bộ phận khác nhau phục vụ cho mục tiêu nhận thức quá trình và kết quả
6
đó dưới những khía cạnh khác nhau. Thông thường trong phân tích, người ta thường
chi tiết quá trình phát sinh và kết quả đạt được thuộc tài chính doanh nghiệp thể hiện
qua những chỉ tiêu kinh tế theo những tiêu thức sau:
Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu: là việc chia nhỏ chỉ tiêu
nghiên cứu thành các bộ phận cấu thành nên bản thân chỉ tiêu đó.
Chi tiết theo thời gian phát sinh quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh: là việc
chia nhỏ quá trình và kết quả theo thời gian phát sinh và phát triển.
Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả sản xuất kinh doanh: là
việc chia nhỏ quá trình và kết quả theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu
nghiên cứu.
Phương pháp này có ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm: Quá trình và kết quả được chia nhỏ thành những bộ phận khác nhau
nhằm nhận thức quá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau.
Nhược điểm: Một số chỉ tiêu không đủ dữ kiện để phân tích hết các khía cạnh: bộ
phận cấu thành của chỉ tiêu, không gian và thời gian. Có những chỉ tiêu không cần
thiết phải phân tích quá chi tiết.
1.2.3. Phương pháp đồ thị
Phương pháp đồ thị là phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liệu phân
tích bằng biểu đồ hoặc đồ thị. Qua đó sẽ mô tả được xu hướng, mức độ biến động
của chỉ tiêu phân tích, hoặc thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một
tổng thể nhất định.
Phương pháp đồ thị có tác dụng minh hoạ kết quả tài chính đã tính toán được và
được biểu thị bằng biểu đồ hay đồ thị, giúp cho việc đánh giá bằng trực quan được
thể hiện rõ ràng và rành mạch các quá trình hay diễn biến của các chỉ tiêu qua từng
nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này thấp cho thấy nhà quản trị cần tăng cường kiểm soát
chi phí của các bộ phận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí
càng tốt. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng
cao. Tỷ suất này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng
lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ suất mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua
lỗ. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu chính là thước đo hàng đầu để đánh giá tính hiệu
quả và tính sinh lời của quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó các
nhà quản trị thường quan tâm đến các tỷ suất biểu hiện cho hệ số sinh lời của công ty
bởi vì nó là kết quả của hàng loạt chính sách và biện pháp quản lý của doanh nghiệp.
Tỷ suất ROS đặc biệt quan trọng đối với nhà quản trị do nó còn phản ánh chiến
lược giá của công ty và khả năng trong việc kiểm soát chi phí hoạt động. Tỷ suất
ROS khác nhau giữa các ngành tuỳ thuộc vào tính chất của các sản phẩm,hàng hoá
kinh doanh và chiến lược cạnh tranh của công ty. Có thể sử dụng tỷ số này để so
sánh với các tỷ số của các năm trước hay so sánh với các doanh nghiệp khác trong
cùng ngành. Hệ số lãi ròng càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động kinh doanh càng
cao, lợi nhuận sinh ra càng nhiều.
8
ROS được xác định bằng công thức:
ROS
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
1.3.1.2. Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của tài sản hay chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, hệ số quay vòng
của tài sản, tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản.
Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, khi doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài
sản đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp,
mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn
thua lỗ. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
càng lớn. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng
nhỏ. Đây cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng đối với nhà quản trị vì nó phản ánh hiệu
quả quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của đơn vị và cũng rất quan trọng đối với các
cổ đông vì nó gắn liền với hiệu quả đầu tư của họ.
ROE được xác định bằng công thức:
ROE
=
Lợi nhuận sau thuế
VCSH
1.3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rõ nét qua khả năng thanh
toán. Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao thì tình hình tài chính sẽ khả
quan và ngược lại. Vì vậy khi đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
không thể bỏ qua việc xem xét nhóm chỉ tiêu thể hiện khả năng thanh toán, đặc biệt
là khả năng thanh toán ngắn hạn. Bên cạnh đó, việc xem xét các chỉ tiêu về khả năng
thanh toán cũng giúp cho doanh nghiệp nhận thức được quá khứ và chiều hướng
trong khả năng thanh toán của doanh nghiệp mình.
1.3.2.1. Khả năng thanh toán ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo
bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, hay doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu
đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này đánh giá
khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong vòng một năm bằng các tài sản có
thể chuyển hoá thành tiền trong vòng một năm tới.
Hệ số này càng cao (lớn hơn 1), khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
càng lớn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành
được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn.
số thanh khoản ngắn hạn khác như chỉ số thanh toán hiện thời, hay chỉ số thanh
toán nhanh, chỉ số thanh toán tiền mặt đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản.
Hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn bị loại khỏi công thức tính do không
có gì bảo đảm là hai khoản này có thể chuyển nhanh chóng sang tiền để kịp đáp
ứng các khoản nợ ngắn hạn. Có rất ít doanh nghiệp có số tiền mặt và các khoản
tương đương tiền đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, do đó chỉ số thanh
toán tiền mặt rất ít khi lớn hơn hay bằng 1.
Khả năng thanh toán tức thời được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền + Các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Thang Long University Library
11
1.3.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản
Hiệu quả sử dụng tài sản được thể hiện qua chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu này nêu
lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình độ phổ biến, đặc trưng cơ bản của hiện
tượng nghiên cứu. Trong sản xuất kinh doanh, nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử
dụng tài sản là quan hệ so sánh giữa giá trị sản lượng được tạo ra với giá trị tài sản sử
dụng bình quân trong kì, hoặc là quan hệ so sánh giữa lợi nhuận với giá trị tài sản sử
dụng bình quân.
1.3.3.1. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp
Vòng quay tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích của doanh nghiệp, một đồng tài sản
ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hệ số vòng quay tổng tài sản càng
cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh
doanh càng hiệu quả.
Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài
Số vòng quay HTK
=
GVHB
HTK
Thời gian lƣu kho
Đây là chỉ số cho ta biết chính xác thời gian lượng hàng lưu kho là bao lâu.
Thời gian lưu kho càng nhỏ thì chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn
kho không bị ứ đọng nhiều.
Thời gian lưu kho
=
365
Vòng quay HTK
Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, khoản phải thu quay được bao nhiêu
vòng. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng
nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp
doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn
vốn lưu động trong sản xuất.
Vòng quay các khoản phải thu được xác định theo công thức:
Số vòng quay các khoản phải thu
=
Doanh thu thuần
Phải thu khách hàng
phải thu
1.3.3.2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp
Vòng quay tài sản cố định
Chỉ tiêu này giúp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp,
cho thấy 1 đồng TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu.
Chỉ tiêu này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp càng
cao và ngược lại.
14
Vòng quay tài sản cố định được xác định theo công thức sau:
Số vòng quay của tài sản cố định
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản cố định
1.3.3.3. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích của doanh nghiệp, một đồng tài sản tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng quản lý
tài sản càng hiệu quả. Ngược lại vòng quay càng nhỏ chứng tỏ rằng doanh nghiệp sử
dụng tài sản chưa hiệu quả.
Vòng quay tổng tài sản được xác định theo công thức sau:
Số vòng quay của tổng tài sản
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
1.3.4. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn luôn theo
đuổi một mục tiêu chính là làm thế nào để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh
=
GVHB
Phải trả người bán
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu:
Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu.
Hệ số này càng nhỏ thì giá trị của vốn chủ sở hữu càng lớn vì nguồn vốn CSH là
nguồn vốn không phải hoàn trả, cho thấy khả năng tự chủ về tài chính của doanh
nghiệp càng tốt. Tuy nhiên nếu tỷ lệ này càng cao thì có một khả năng lớn là doanh
nghiệp đang không thể trả được các khoản nợ theo điều kiện tài chính thắt chặt hoặc
có sự kém cỏi trong quản lý, hoặc dòng tiền của doanh nghiệp sẽ kém đi do gánh
nặng từ việc thanh toán các khoản lãi vay. Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1,
có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn
ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở
hữu.
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu được xác định bằng công thức:
Hệ số nợ trên vốn
chủ sở hữu
=
Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
1.3.5. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí trong doanh nghiệp
Trong quá trình điều hành và quản lý hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản
trị luôn luôn cần các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Và các thông tin đó thường đa số có liên quan đến chi phí của doanh nghiệp. Quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm có các giai đoạn: dự trữ -
sản xuất – tiêu thụ. Trong quá tình đó, doanh nghiệp phải bỏ ra một chi phí nhất định
bao gồm nhiều yếu tố chi phí khác nhau. Dưới đây, ta sẽ tìm hiểu chi tiết thêm một
số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí trong doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất sinh lời của chi phí
quản lý doanh nghiệp
=
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Chi phi quản lý doanh nghiệp
1.3.5.4. Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí trong doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí thì
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán trước thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng
tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được các khoản
chi phí chi ra trong kỳ.
Thang Long University Library
17
Chỉ tiêu này được xác định như công thức dưới đây:
Tỷ suất sinh lời
của tổng chi phí
=
Lợi nhuận kế toán trước thuế
Tổng chi phí
1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.4.1.1. Nguồn nhân lực
Nhân lực là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh, nó bao gồm một số nội
dung chủ yếu sau:
Ban giám đốc doanh nghiệp
Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những người vạch
ra chiến lược, trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh của doanh
Mạng lưới phân phối của doanh nghiệp được tổ chức, quản lý và điều hành một
cách hợp lý thì nó sẽ là một phương tiện có hiệu quả để tiếp cận khách hàng. Doanh
nghiệp thu hút khách hàng bằng các hình thức mua bán, thanh toán, vận chuyển…
hợp lý nhất.
1.4.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
1.4.2.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
Các nhân tố về mặt kinh tế:
Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình
thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế gồm có:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm cho thu nhập của tầng lớp dân cư
tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên. Đây là cơ hội tốt cho các doanh
nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng tạo nên sự thành công trong kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định kéo
theo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, khả năng tích tụ
và tập trung sản xuất cao.
Tỷ giá hối đoái:
Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia và từng
doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng nội tệ lên giá sẽ
khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ
giảm trên thị trường nội địa.
Thang Long University Library
19
Lãi suất cho vay của ngân hàng:
Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cao, điều
này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là khi so với doanh nghiệp
có tiềm lực vốn sở hữu mạnh.
Lạm phát:
hàng hóa cũng khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu rõ những yếu tố
thuộc về văn hóa - xã hội ở khu vực đó để có những chiến lược hàng hoá, dịch vụ
phù hợp với từng khu vực khác nhau.
Các yếu tố tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên có thể tạo ra các thuận lợi và khó khăn trong việc phát
triển các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố tự nhiên bao
gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý Vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo điều kiện
khuếch trương sản phẩm, hàng hoá; mở rộng thị trường tiêu thụ giảm thiểu các chi
phí phục vụ bán hàng, giới thiệu sản phẩm, hàng hoá. Tài nguyên thiên nhiên phong
phú tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong cung ứng nguyên vật liệu đầu
vào cho quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường, tạo điều
kiện cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.4.2.2. Nhân tố thuộc môi trường vi mô.
Khách hàng
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định đến
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường,
quy mô của khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Những biến động tâm lý khách
hàng thể hiện qua sự thay đổi sở thích, thị hiếu, thói quen làm cho số lượng hàng hoá
được tiêu thụ tăng lên hay giảm đi. Việc định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh
hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp
tạo thói quen và tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu
dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ hàng hoá. Một
nhân tố đặc biệt quan trọng là mức thu nhập và khả năng thanh toán của khách hàng
có tính quyết định đến lượng hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp. Khi thu nhập tăng
thì nhu cầu tăng và khi thu nhập giảm thì nhu cầu giảm, do vậy doanh nghiệp cần có
những chính sách giá, chính sách hàng hoá, dịch vụ hợp lý.
Số lƣợng các doanh nghiệp trong ngành và cƣờng độ cạnh tranh của ngành
Số lượng các doanh nghiệp trong ngành và các đối thủ ngang sức tác động rất
lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có quy mô lớn,
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ cao hơn các đối thủ khác trong ngành.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH MTV Thương mại và
Dịch vụ Cao Trụ
Sơ lược về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại và dịch vụ
Cao Trụ (Công ty Cao Trụ):
Tên đầy đủ: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Thương Mại Và Dịch
Vụ Cao Trụ;
Tên giao dịch quốc tế: Cao Tru Service And Trading Company Limited;
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5300370258, do Sở kế hoạch và đầu tư
Tỉnh Lào Cai cấp ngày 02/04/2010;
Trụ sở chính: Số 184 – Đường Nguyễn Huệ – Phố Mới – Lào Cai;
Văn phòng giao dịch: Số 184 –186 – 188 Nguyễn Huệ – Phố Mới – Lào Cai;
Điện thoại: +84 020 383 7768; +84 020 383 2956 – Fax : +84 020 383 7086;
Website: www.dienmaycaotru.com.vn – www.caotru.com.vn;
Người đại diện pháp luật của Công ty Cao Trụ: Giám đốc Cao Thành Đạt;
Vốn điều lệ: 3.600.000.000 đồng.
Công ty Cao Trụ thành lập và hoạt động kinh doanh theo Chứng nhận đăng
kinh kinh doanh số 5300373258 của Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Lào Cai cấp
ngày 02/04/2010 (lần thứ 2).
Tiền thân của Công ty Cao trụ là Cửa hàng Cao Trụ (được sáng lập vào năm
1990) - một đơn vị hoạt động kinh doanh phân phối trong lĩnh vực điện tử điện lạnh
và đồ gia dụng của các thương hiệu nổi tiếng như Samsung, Sony, Toshiba, JVC,
Panasonic, LG Đến năm 2009, theo nhu cầu công việc cũng như ý kiến đóng góp
của khách hàng và ban quản lý địa phương, Công Ty Cao Trụ ra đời với trụ sở chính
là Cửa Hàng Điện Tử - Điện Lạnh Cao Trụ. Quan điểm của Công ty Cao Trụ là luôn
mang lại cho khách hàng sự chọn lựa đúng đắn nhất về giá cả, chất lượng sản phẩm
cũng như mục đích sử dụng để “Không đắt – Không thừa – Không lãng phí”. Hiện
nay, Cao Trụ đã có hệ thống các đại lý bán lẻ được phân bố trên khắp các tỉnh lân
Thang Long University Library
23
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát có nhiệm vụ thanh tra giám sát toàn bộ hoạt động tài chính của
Công ty Cao Trụ, đảm bảo công ty triển khai đúng phương hướng, nhiệm vụ phát triển
của doanh nghiệp; kiểm tra sát sao tính trung thực, chính xác của các báo cáo tới các
cổ đông.
Hội đồng thành viên
Ban kiểm soát
24
Giám đốc
Giám đốc là người chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động và tất cả các vấn đề
liên quan đến Công ty như đối nội, đối ngoại đồng thời là người ra quyết định, định
hướng phát triển và lập các kế hoạch phát triển của công ty. Giám đốc cũng là người
đại diện trước pháp luật cho Công ty. Giám đốc thường có những công việc như sau:
Xác định và triển khai chiến lược sản xuất kinh doanh, kế hoạch nghiên cứu thị
trường, quan hệ giao dịch với khách hàng trong nước và quốc tế (ngắn hạn và dài
hạn); phê duyệt, công bố chính sách chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội, sổ
tay hệ thống quản lý và các tài liệu quản lý hệ thống như quy trình, quy định, các
quyết định; phê duyệt thành lập các đoàn đánh giá nội bộ;
Cung cấp các nguồn lực cần thiết để xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống quản lý
chất lượng - môi trường - trách nhiệm xã hội; phân công trách nhiệm cho các cán
bộ, nhân viên thuộc quyền;
Đánh giá nhà thầu phụ và phê duyệt danh sách nhà thầu phụ được chấp nhận;
Chịu trách nhiệm cuối cùng về hiệu quả áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, môi
trường, trách nhiệm xã hội;
Uỷ quyền cho các Phó Giám đốc khi vắng mặt.
Phó giám đốc
Phó Giám đốc đảm nhiệm quản lý chuyên sâu hơn về hoạt động của các phòng
ban trong công ty, đôn đốc và giám sát hoạt động của các nhân viên, báo cáo lên Giám
đốc và Hội đồng thành viên. Thực hiện các công việc hoặc vị trí do Hội đồng thành
trực thuộc công ty. Nhiệm vụ chính của phòng:
Tuyển dụng nhân sự và ký kết hợp đồng làm việc;
Giám sát quá trình công tác và làm việc của công nhân viên trực thuộc công ty;
Bên cạnh đó hỗ trợ nhiệm vụ quản lý giám sát, đánh giá hoạt động của công nhân
viên và báo cáo lên Giám đốc hoặc Phó giám đốc.
Phòng Kỹ thuật – Quản lý dự án
Phòng Kỹ thuật – Quản lý dự án gồm hai bộ phận chính: bộ phận Kỹ thuật và bộ
phận Quản lý dự án. Chức năng của bộ phận Kỹ thuật là đảm bảo hoàn thành tốt các
công việc liên quan đến kỹ thuật công nghệ của sản phẩm và dịch vụ. Còn bộ phận
Quản lý dự án thì sẽ duy trì hoạt động tìm kiếm cơ hội đầu tư và quản lý mang tính kế
hoạch chiến lược các dự án hay công việc của công ty.
2.1.3. Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH MTV Thương mại
và Dịch vụ Cao Trụ
Công ty Cao Trụ hoạt động trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu vật tư thiết bị, dịch
vụ ngành điện, điện tử, điện lạnh, điện dân dụng, điện công nghiệp, điện máy, thiết bị
ngành công nghệ thông tin, viễn thông, thiết bị công nghệ, thiết bị chiếu sáng, sản