Tình hình thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời gian
qua
I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ FDI TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng cấp giấy phép đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1. Tình hình chung
Từ khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực cho đến hết tháng 12
năm 2000, Nhà nước ta đã cấp giấy phép cho 3254 dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài với tổng số vốn đăng ký là 38.553 triệu USD. Tính trung bình mỗi năm chúng
ta cấp phép cho 250 dự án với mức 2965,62 triệu USD vốn đăng ký. Cũng trong thời
gian này, đã có 1067 dự án mở rộng quy mô vốn đầu tư với lượng vốn bổ sung thêm
là 6034 triệu USD. Như vậy tổng số vốn cấp mới và bổ sung đến thời điểm hết năm
2000 đạt khoảng 44.587 triệu USD.
Trong số các dự án đã nêu trên, đã có 30 dự án hết hạn hoạt động với số vốn
hết hạn là 291 triệu USD. Bên cạnh đó, đã có một số lượng đáng kể dự án bị giải thể,
rút giấy phép đầu tư (645 dự án), lượng vốn giải thể là 7952 triệu USD, chiếm gần
21% tổng lượng vốn đăng ký. Như vậy, tính đến ngày 15/03/2001, tổng số dự án còn
hiệu lực là 2701 với tổng vốn đăng ký (kể cả phần vốn bổ sung) là 36.329,775 triệu
USD.
Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của ta có xu hướng tăng nhanh từ
1988 đến 1995 cả về số dự án cũng như vốn đăng ký. Riêng năm 1996 sở dĩ có lượng
vốn đăng ký tăng vọt là do có 2 dự án đầu tư vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh được phê duyệt với quy mô dự án lớn (hơn 3 tỷ USD/ dự án). Như
vậy nếu xét trong cả thời kỳ 1988-2000 thì năm 1995 có thể được xem là năm đỉnh
cao về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (cả về số dự án, vốn đăng
ký cũng như quy mô dự án). Từ năm 1997 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
có biểu hiện suy giảm, nhất là đến các năm 1998, 1999 thì xu hướng giảm đó càng rõ
rệt hơn. So với năm 1997, số dự án được duyệt của năm 1998 chỉ bằng 79,71%, năm
1999 chỉ bằng 80,58%. Số liệu tương ứng của vốn đăng ký là 83,83% và 33,01%.
Trong các năm này, số dự án giải thể và số lượng vốn giải thể tăng mạnh. Lượng vốn
giải thể năm 1998 là 2428 triệu USD, gấp 4,5 lần so với năm 1997. Đến năm 2000, sự
giảm sút có chiều hướng dừng lại và bắt đầu có sự phục hồi. Số dự án và lượng vốn
hạn
Còn hiệu
lực
Tổng
88-
2000
3254 1067 645 30 38553 6034 7952 291
3 năm
88-90
214 1 6 2 1582 0.3 26 0.3 1556
1991 151 9 37 2 1275 9 240 1 2598
1992 197 13 48 3 2027 50 402 13.9 4260
1993 274 60 34 4 2589 240 79 38 6971
1994 367 84 60 1 3746 516 292 0.1 10941
1995 408 151 58 3 6607 1318 509 45.5 18311
5 năm
91-95
1397 262 237 12 16244 2132 1522 98.6
1996 365 162 54 4 8640 788 1141 146.1 26453
1997 348 164 85 6 4649 1173 544 24.4 31706
1998 275 162 101 2 3897 884 2428 19.1 34040
1999 311 163 85 2 1568 629 624 1.1 35613
2000 344 153 77 2 1973 427 1666 1.9 36344
5 năm
96-
1643 804 402 16 20727 3902 6403 193
2000
Vốn còn hiệu lực = vốn cấp mới + tăng vốn - vốn hết hạn - vốn giải thể
Nguồn : Vụ Quản lý dự án - Bộ KH-ĐT
Trong bối cảnh đầu tư quốc tế vào các nước ASEAN suy giảm và môi trường
3,25%; Vương quốc Anh: 3,2%: Thái Lan: 3,03%; Malaixia: 2,83%). Trong tổng số
vốn đầu tư của 12 nước này thì có tới trên 70% là thuộc các nước Châu Á. Các nhà
đầu tư Châu Á vào muộn hơn nhưng tốc độ tăng nhanh với quy mô rộng lớn trên
nhiều lĩnh vực. Điều đó chứng tỏ môi trường đầu tư của Việt Nam hiện đang thu hút
được sự quan tâm của các nhà đầu tư Châu Á. Và trình độ, điều kiện, khả năng của
các nhà đầu tư Châu Á cũng phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển của Việt Nam
trong thời gian qua. Đồng thời đây cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế nước ta
phải chịu ảnh hưởng khá mạnh của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực Châu Á.
Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển khác như
Đức, Mỹ, Anh...còn chiếm tỷ trọng tương đối thấp, chứng tỏ môi trường đầu tư ở
Việt Nam chưa gây được sự chú ý nhiều của các nhà đầu tư phương Tây và Mỹ.
Bảng 2: 12 đối tác nước ngoài đầu tư lớn nhất vào Việt Nam
(Tính đến 15/03/2001 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Đơn vị : triệu USD
STT
Nước
Vùng lãnh thổ
Số dự án
Tổng vốn
đầu tư
Vốn pháp
định
Đầu tư
thực hiện
1 Singapore 236 6619,871 2036,066 2048,154
2 Đài Loan 662 4990,669 2120,096 2411,855
3 Nhật Bản 304 3884,892 1927,881 2623,879
4 Hàn Quốc 277 3181,738 1226,648 1911,570
5 Hồng Kông 208 2844,499 1231,076 1431,662
6 Pháp 107 1818,607 1219,716 587,320
Hoạt động đầu tư tập trung ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam, các tỉnh miền
Trung chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Riêng vùng Đông Nam Bộ đã chiếm tới 53,13% tổng
lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước, trong khi vùng Tây Bắc và Tây
Nguyên chiếm chưa đầy 1%. Sự phân bổ FDI cũng chênh lệch rất nhiều giữa khu vực
thành thị và nông thôn. Trên 80% tổng số vốn đầu tư tập trung ở khu vực thành thị,
chỉ còn chưa tới 20% cho khu vực nông thôn, trong khi 80% dân số Việt Nam sinh
sống ở nông thôn, làm cho khoảng cách thu nhập giữa hai khu vực ngày càng lớn.
Vốn đầu tư vào các vùng (1988-1999) được xếp thứ tự như sau:
Bảng 3: Cơ cấu đầu tư theo vùng (%)
1. Đông Nam Bộ 53,13 5. Đồng bằng sông Cửu Long 2,46
2. Đồng Bằng sông Hồng 29,6 6. Bắc Trung Bộ 2,38
3. Duyên hải Nam Trung Bộ 7,64 7. Tây Nguyên 0,16
4. Đông Bắc 4,46 8. Tây Bắc 0,15
Nguồn : Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 2 (64) 2000.
Cũng trong thời kỳ này, nếu như hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
đã chiếm tới hơn nửa (50,3%) tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước
thì 10 địa phương có điều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87,8%. TP Hồ Chí Minh
chiếm 26,6% tổng vốn đăng ký của cả nước. Số liệu tương ứng của các địa phương
tiếp theo như sau : Hà Nội: 21,15%; Đồng Nai: 12,5%; Bình Dương: 6,4%. Đến nay,
phần lớn các tỉnh, thành phố đều đã có hoạt động hợp tác đầu tư với nước ngoài.
Tuy nhiên, trừ hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa, vốn đầu tư
tập trung nhiều vào 3 vùng kinh tế trọng điểm là những nơi có nhiều thuận lợi. Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, với ưu thế vượt trội về cơ sở hạ tầng, sự thuận lợi về
giao thông thủy, bộ, hàng không và năng động trong kinh doanh là vùng thu hút
được nhiều vốn FDI nhất, 1.378 dự án, chiếm 57% tổng số dự án của cả nước, vốn
đầu tư đăng ký đạt 17,3 tỷ USD, chiếm đến 48% tổng vốn đăng ký cả nước. Đây cũng
là vùng kinh tế sôi động nhất của cả nước, chiếm đến 66% giá trị doanh thu và 84%
giá trị xuất khẩu của khu vực FDI năm 1999. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc,
đứng đầu là thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị và kinh tế của cả nước là vùng thu
hút FDI thứ hai, với 493 dự án còn hiệu lực chiếm 20,5% về số dự án và 30% tổng
ngoài theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc khai thác các tiềm năng
trong nước đạt kết quả chưa cao. Cơ cấu FDI theo vùng còn nhiều bất hợp lý. Như
vậy, đây cũng là một trong những vấn đề rất cần được chú ý để điều chỉnh hoạt
động của chúng ta trong thời gian tới đối với lĩnh vực này.
1.4. Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế
Những năm đầu 1988-1990, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phần lớn tập
trung vào lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí (32,2%) và khách sạn, du lịch, căn hộ
cho thuê (20,6%). Nhưng từ năm 1994 trở lại đây, đầu tư vào khu vực sản xuất vật
chất của nền kinh tế ngày càng gia tăng (nhất là lĩnh vực công nghiệp). Hiện nay, các
dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số lượng dự án
lẫn vốn đầu tư, tiếp đến là các lĩnh vực khách sạn, du lịch và dịch vụ. Các ngành
nông, lâm nghiệp có số dự án khá lớn nhưng vốn thấp, chỉ chiếm 5,79% tổng vốn
đầu tư, chứng tỏ quy mô dự án ở lĩnh vực này tương đối nhỏ. Quy mô dự án đầu tư
vào ngành thủy sản là nhỏ nhất, khoảng 3 triệu USD. Ngành dịch vụ có quy mô đầu
tư lớn nhất, khoảng 25 triệu USD/dự án, nếu không tính 2 dự án xây dựng khu đô
thị mới tại Hà Nội thì quy mô bình quân 1 dự án là 21,7 triệu USD.
Tính đến ngày 15/03/2001, khu vực công nghiệp có 1715 dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 19430,413 triệu USD, chiếm
53,5% tổng vốn FDI của cả nước; tiếp theo là ngành dịch vụ với 638 dự án và lượng
vốn đầu tư 14796,008 triệu USD, chiếm 40,73%; khu vực nông lâm nghiệp có 348 dự
án với số vốn đầu tư 2103,353 triệu USD, chiếm 5,77% tổng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài của cả nước. Vốn đầu tư vào công nghiệp chủ yếu tập trung vào các
ngành công nghiệp nặng, sau đó dến công nghiệp nhẹ, xây dựng, công nghiệp dầu
khí và công nghiệp thực phẩm . Ngành dịch vụ các dự án tập trung vào xây dựng văn
phòng, căn hộ, xây dựng khu đô thị mới; khách sạn du lịch, giao thông vận tải và bưu
điện.
Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành
(Tính đến 15/03/2001 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Đơn vị : triệu USD
Chuyên ngành
Khách sạn-Du lịch
123 3497,052 1126,845 1853,834
Tài chính-Ngân hàng
49 552,250 521,650 494,535
Văn hóa-Y tế- GD
92 566,045 243,832 144,568
XD Khu đô thị mới
3 2466,674 675,183 0,394
XD Văn phòng-Căn hộ
116 3781,909 1351,182 1640,271
XD hạ tầng KCX-KCN
13 807,221 274,961 460,988
Dịch vụ
149 552,870 325,729 151,285
Tổng số 2701 36329,775 16364,827 17842,325
Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế đang đặt ra
những vấn đề cần suy nghĩ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm
nghiệp vốn đã ít lại đang có xu hướng chững lại và giảm dần vì đây là lĩnh vực chịu
nhiều rủi ro, thời gian thu hồi vốn dài, trình độ quản lý dự án còn nhiều hạn chế. Đến
cuối 1999, trong lĩnh vực này đã có tới 74 dự án đầu tư nước ngoài bị giải thể trước
thời hạn với số vốn 287 triệu USD. Trong đó 35 dự án thuộc lĩnh vực trồng trọt và
chế biến nông sản, 39 dự án chế biến gỗ và lâm sản.
Vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên đã biểu hiện phù hợp các chỉ số
của cơ cấu kinh tế hiện đại, công nghiệp hóa: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp.
Tuy vậy, trong điều kiện ở giai đoạn đầu tiến hành CNH-HĐH và với đặc trưng của
nền kinh tế trong đó nông nghiệp nhiệt đới đang là một trong những thế mạnh của
Việt Nam thì tình hình thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này như hiện nay còn
khoảng cách khá xa so với yêu cầu, mong muốn và mục tiêu mà chúng ta đặt ra. Sở
dĩ như vậy là vì đối với Việt Nam, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đang có
17842,32
5
100%
Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Sở dĩ hình thức liên doanh chiếm tỷ lệ lớn là do thời kỳ đầu, các thủ tục để triển
khai dự án còn đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc và rất
phức tạp, người nước ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế-xã hội và pháp
luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng một lúc
với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có được đầy đủ các điều kiện
triển khai xây dựng cơ bản cũng như tổ chức thực hiện dự án đầu tư. Trong hoàn
cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lựa chọn hình thức liên doanh để bên Việt
Nam đứng ra lo các thủ tục pháp lý cho sự hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả
hơn.
Sau một thời gian hoạt động trong môi trường đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu
tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Châu Á có điều kiện hiểu biết hơn về pháp
luật, chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam.
Vì vậy, nhu cầu có đối tác Việt Nam giảm đi một cách đáng kể. Không những thế, khi
tham gia liên doanh, khả năng của phía Việt Nam thường yếu cả về vốn đóng góp
lẫn cán bộ quản lý, mặt khác nhiều nhà đầu tư nước ngoài không muốn chia sẻ
quyền điều hành doanh nghiệp với bên Việt Nam nên họ thấy không cần thiết phải có
đối tác Việt Nam trong hoạt động đầu tư. Do đó, số dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam dưới hình thức 100% vốn nước ngoài ngày càng có xu hướng
tăng lên cả tuyệt đối lẫn tương đối. Các dự án 100% vốn nước ngoài tập trung chủ
yếu trong các khu công nghiệp và khu chế xuất vì đảm bảo các điều kiện cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, tránh được nhiều thủ tục hành chính phức tạp.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh đến nay chỉ chiếm 4,74% số dự án và
10,36% tổng vốn đầu tư, chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, các
dịch vụ viễn thông. Hợp đồng BOT là hình thức chúng ta đưa vào áp dụng từ năm
1993 với mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều ưu đãi như không thu tiền thuê đất, hưởng các mức
lý những vi phạm pháp luật và giấy phép đầu tư, không có biện pháp hữu hiệu hòa
giải các bất đồng, tranh chấp; sự thay đổi chính sách sử dụng nguyên vật liệu...
Như vậy, tính đến ngày 15/03/2001, trên lãnh thổ Việt Nam còn 2701dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động với tổng vốn đăng ký (kể cả phần vốn bổ
sung) của các dự án còn hiệu lực là 36.329,775 triệu USD.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2000, số vốn đã thực hiện của các dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài bằng 44,82% của tổng số vốn đăng ký (bao gồm cả vốn bổ sung),
trong đó 88,34% vốn thực hiện là của phía đối tác nước ngoài, 11,66% là vốn của
doanh nghiệp Việt Nam. Tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng vốn đăng ký của các dự án
100% vốn nước ngoài và dự án Hợp đồng hợp tác kinh doanh cao hơn nhiều so với
hình thức liên doanh.
Các dự án trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí đạt tỷ lệ thực hiện cao
hơn vốn cam kết 4%, do trong ngành dầu khí, cam kết trên giấy phép chỉ là vốn tối
thiểu. Ngành tài chính ngân hàng, do tính đặc thù phải nộp ngay vốn pháp định mới
được phép triển khai hoạt động nên tỷ lệ giải ngân cao (93%). Nhìn chung, các dự
án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp xây dựng có tỷ lệ giải ngân cao nhất, trên 50%.
Các dự án nông nghiệp đạt tỷ lệ giải ngân 43%, trong khi các dự án thuỷ sản chỉ giải
ngân được 36%.
Dưới đây là số liệu về tình hình thực hiện dự án qua các thời kỳ:
Bảng 7: Tình hình thực hiện dự án qua các năm
(Tính đến 31 tháng 12 năm 2000)
Đơn vị : triệu USD
Chỉ tiêu Vốn thực
hiện
Trong đó chia ra
Vốn từ nước
ngoài
Vốn DN V.Nam
Tổng 88-
2000
phó với tình trạng xấu, buộc họ phải dừng hoặc chấm dứt không thể tiếp tục đầu tư.
Mặt khác, một số nhà đầu tư khi lập dự án đã tính toán chưa thật sát với thực tế nên
khi triển khai dự án đã gặp phải một số vấn đề phát sinh vượt cả khả năng tài chính
cũng như các yếu tố, điều kiện cho doanh nghiệp vận hành. Thậm chí có một số nhà
đầu tư nước ngoài, thực chất là yếu về năng lực tài chính nên mặc dù đã được cấp
giấy phép đầu tư, nhưng không huy động được vốn đúng như dự kiến buộc họ phải
triển khai thực hiện dự án chậm, có khi mất khả năng thực hiện.
2.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số lĩnh vực kinh tế tiêu biểu
a. Lĩnh vực dầu khí : So với các ngành kinh tế Việt Nam thì đây là một trong rất ít
ngành thu hút được các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới tham gia đầu tư. Đến nay,
ngoài xí nghiệp liên doanh dầu khí VietsoPetro đã sản xuất được hơn 60 triệu tấn
dầu thô và hiện đang tiếp tục kinh doanh có hiệu quả, chúng ta đã cấp 33 giấy phép
hoạt động cho các tập đoàn dầu khí lớn thuộc Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Úc và Châu Á
vào thăm dò, khai thác tại thềm lục địa Việt Nam theo hình thức hợp đồng phân chia
sản phẩm. Các mỏ Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, mỏ khí Lan Đỏ - Lan Tây và mỏ
dầu trên vùng chồng lấn với Malaixia đều đang được khai thác. Sự quan tâm của các
tập đoàn lớn trên thế giới chứng tỏ tính hấp dẫn và tiềm năng dầu khí của nước ta.
Vào cuối năm 1998, Việt Nam đã cấp giấy phép đầu tư cho liên doanh xây dựng
nhà máy lọc dầu đầu tiên tại Dung Quất (Quảng Ngãi) với số vốn đầu tư 1,3 tỷ USD.
Các nhà đầu tư nước ngoài (không kể Vietsopetro) đã đầu tư trên 2,6 tỷ USD vào
khâu thăm dò, giúp Việt Nam dần dần có đủ cơ sở dữ liệu về trữ lượng dầu khí để
xác định chiến lược phát triển.
Công nghiệp dầu khí đã góp phần ngày càng lớn vào tăng trưởng GDP và thu
ngân sách Nhà nước.
b. Lĩnh vực công nghiệp điện tử : là lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài có
mặt tương đối sớm, vốn thực hiện chiếm tỷ lệ cao so với vốn đăng ký, có tiến độ thực
hiện đúng với cam kết được ghi trong giấy phép đầu tư và đây là lĩnh vực sớm phát
huy hiệu quả. Đến nay, đã có 22 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 615 triệu USD,
trong đó có hơn 60% vốn đã thực hiện (379 triệu USD). Một trong những yếu tố hơn
hẳn so với nhiều lĩnh vực khác là các nhà đầu tư vào lĩnh vực này phần lớn thuộc các
tổng vốn đăng ký 1117 triệu USD (36 dự án 100% vốn nước ngoài, 48 dự án liên
doanh, 5 dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh), trong đó tổng số vốn đã thực hiện là
397,6 triệu USD (35,6% vốn đăng ký). Đầu tư nước ngoài trong công nghiệp hóa
chất đã tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, bao gồm một số hóa chất cơ bản,
mỹ phẩm, chất tẩy rửa, dầu nhờn... thay thế một phần hàng nhập khẩu, thỏa mãn
yêu cầu ngày càng cao hơn của người tiêu dùng.
g. Hoạt động kinh doanh khách sạn và du lịch : Đây là lĩnh vực mà ngay từ đầu
đã có biểu hiện còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác nên nhiều doanh nghiệp
trong và ngoài nước đã đầu tư vào. Đến nay có 237 dự án với 7585 triệu USD vốn
đăng ký đầu tư xây dựng khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, phát triển đô thị,
trong số đó đã có 33,66% vốn được thực hiện. Đồng thời, đây cũng là lĩnh vực đã
xuất hiện tình trạng cung vượt quá cầu ở một số thành phố như TP Hồ Chí Minh,
Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng.
h. Lĩnh vực dệt may, giầy dép : Đến nay chúng ta đã phê duyệt 250 dự án với tổng
số 2396 triệu USD vốn đăng ký (dệt: 87 dự án với 1649 triệu USD vốn đăng ký; may:
118 dự án với 281 triệu USD vốn đăng ký; giầy dép: 45 dự án với 466 triệu USD vốn
đăng ký). Tổng vốn đã thực hiện là 1079 triệu USD, đạt 45% vốn đăng ký, là một tỷ
lệ khá cao. Đầu tư nước ngoài trong các ngành này đã tạo ra việc làm cho hàng vạn
người lao động, góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, là một trong những
ngành công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 1 tỷ USD.
2.3. Tình hình khai thác công suất các dự án.
Cho đến nay đã có rất nhiều dự án hoàn thành xây dựng cơ bản và đi vào vận
hành sản xuất kinh doanh một cách ổn định. Nhiều dự án hoạt động có hiệu quả và
đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước ta.
Tuy nhiên đa phần các dự án FDI năng lực hoạt động còn thấp so với công suất
cho phép. Số liệu trong bảng dưới đây sẽ cho ta thấy rõ hơn thực trạng này:
Bảng 8: Tình hình khai thác công suất một số
ngành hàng của các dự án FDI (tính đến hết năm 1997)
Mặt hàng Công suất cho phép Công suất huy động Tỷ lệ
1.Thép XD thông thường 1197 triệu tấn/ năm 600.000 tấn / năm 50%
trường mới, nâng cao khả năng xuất khẩu của các mặt hàng để khai thác một cách
triệt để và có hiệu quả năng lực của các dự án.
II. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI
TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một phần tích cực vào công cuộc đổi
mới kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua. Có thể nói đầu tư trực tiếp nước ngoài
như một trong các nguồn năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt
Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng. Nó đã góp phần đẩy mạnh cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật trong sản xuất, đóng góp quan trọng vào việc đổi mới, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Mỗi chính sách kinh tế, mỗi biến động tài
chính-tiền tệ, mỗi chiến lược phát triển và mỗi thành tựu của đất nước đều có bóng
dáng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN). Ngày nay, ĐTTTNN đã trở thành
một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Trong phần này, ta sẽ đi vào xem xét tác động
của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế nước ta.
1. hoạt động ĐTTTNN góp phần quan trọng bổ sung nguồn vốn đầu tư
phát triển và gia tăng tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng và là một điều kiện
tiên quyết để Việt Nam thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Nó
góp phần quan trọng bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển, khắc phục tình trạng
thiếu vốn của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới.
Từ khi thực hiện chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nay, vốn đầu tư
nước ngoài thực hiện tại Việt Nam bình quân 1.111,75 triệu USD / năm. Vốn đầu tư
xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư nước ngoài bình quân thời kỳ năm 1991-
1999 là 16.291 tỷ đồng/ năm. Đối với một nền kinh tế có quy mô như của nước ta thì
đây thực sự là lượng vốn đầu tư không nhỏ, nó thực sự là nguồn vốn góp phần tạo
ra sự chuyển biến không chỉ về quy mô đầu tư mà điều quan trọng hơn là nguồn vốn
này có vai trò như chất “xúc tác- điều kiện” để việc đầu tư của ta đạt hiệu quả nhất
định. Nếu so với tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản xã hội thời kỳ 1991-1999 thì vốn
đầu tư xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 26,51%
vốn ĐTTTNN tăng lên sẽ làm cho vốn đầu tư trong nước tăng lên.
Correlations
Vốn đầu tư
nước ngoài
Tỷ lệ tiết kiệm / GDP Vốn đầu tư trong nước
Pearson Correlation .810* Pearson Correlation .773*
Sig. (2-tailed) .003 Sig. (2-tailed) .009
N 11 N 10
* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)
Kết quả này phù hợp với phân tích của các chuyên gia kinh tế. Theo các chuyên
gia quốc tế thì FDI đã tác động đến việc tăng trưởng tổng nguồn vốn đầu tư của các
nước đang phát triển, bình quân giai đoạn 1970-1998 cho thấy cứ tăng 1% vốn FDI
làm tăng thêm ở mức từ 0,5% - 1,3% vốn đầu tư trong nước. Để xem xét cụ thể hơn
mối quan hệ giữa hai dòng vốn đầu tư ở Việt Nam, ta đi ước lượng mô hình với các
biến VTN là vốn đầu tư trong nước, VNN là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các biến
số trong mô hình được lấy dưới dạng logarit.
Kết quả hồi quy thử nghiệm cho thấy đối với nước ta, vốn ĐTTTNN hầu như
không có tác động làm tăng trưởng vốn đầu tư trong nước của năm đó nhưng có tác
động rõ rệt đến vốn đầu tư trong nước của năm sau.
Ta có hàm hồi quy mẫu như sau:
LN(VTN)
(t)
= 5,1168 + 0,60242 * LN(VNN)
(t-1)
Các kiểm định cho thấy mô hình đảm bảo được tính phù hợp, các hệ số khác 0
một cách thực sự và có dấu phù hợp với phân tích định tính ở trên. Kết quả ước
lượng mô hình chỉ ra rằng, khi các điều kiện khác không đổi, trung bình khi vốn FDI
tăng lên 1% sẽ làm cho vốn đầu tư trong nước năm sau tăng lên 0,602%.
Số liệu thống kê cho thấy tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư tư nhân ở hầu
trong nước ở năm sau có thể giải thích là do khoảng cách thời gian từ khi các nhà
đầu tư được cấp giấy phép đầu tư tới khi triển khai thực hiện vốn đầu tư. Các dự án
ĐTNN chỉ thực sự tác động đến kinh tế trong nước khi triển khai xây dựng cơ bản và
đi vào hoạt động. Tuy nhiên, phải thấy rằng, tác động dây chuyền của vốn ĐTTTNN ở
nước ta như vậy còn khá nhỏ. Sự gia tăng của dòng vốn FDI chưa thực sự tạo ra
được động lực mạnh mẽ kích thích nguồn vốn đầu tư trong nước tăng trưởng. Các
nhà đầu tư trong nước chưa mạnh dạn và nhanh nhạy nắm bắt, khai thác các cơ hội
mà hoạt động ĐTTTNN tạo ra. Việc đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng mặc dù đã
được nhà nước quan tâm nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Công tác xây dựng các công
trình ngoài hàng rào như điện, nước, giao thông vận tải, thông tin liên lạc chậm và
thiếu đồng bộ, gây trở ngại rất lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài, mặc dù việc này
ngoài tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư còn góp phần rất tích cực cho phát triển kinh
tế-xã hội của đất nước. Nếu các nhà đầu tư trong nước cũng như Chính phủ khai
thác một cách tốt hơn mối quan hệ giữa hai dòng vốn này thì có thể làm tăng khối
lượng và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nước đồng thời khuyến khích nguồn vốn
đầu tư từ nước ngoài phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
Bên cạnh đó, với các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả của mình,
thông qua việc nộp ngân sách, tạo thu nhập cho người lao động, kích thích các
doanh nghiệp Việt Nam cùng phát triển, khu vực FDI còn góp phần gia tăng khả
năng tích lũy của nền kinh tế, nâng cao năng lực tái đầu tư mở rộng sản xuất, tăng
khả năng tự chủ về kinh tế của đất nước. Cùng với sự gia tăng của dòng vốn đầu tư
nước ngoài, tích lũy của nền kinh tế liên tục tăng lên cả về giá trị lẫn tỷ lệ so với GDP.
Năm 2000, tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế ước đạt 25% GDP.
Bảng 10 : Tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế (% GDP)
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Tỷ lệ
10.1 13.8 14.5 17.1 18.2 17.2 20.1 21.4 24.6
Nguồn : Kinh tế Việt Nam 1991-2000, Bộ KH - ĐT, tháng 5-2000.
Ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế với dòng vốn
ĐTTTNN thông qua kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng, trong đó TLUY là tỷ lệ
trường hiện đại.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn có chỉ số phát triển cao hơn chỉ
số phát triển của các thành phần kinh tế khác và cao hơn hẳn chỉ số phát triển
chung của cả nước. Năm 1995, chỉ số phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài là 114,98% thì chỉ số phát triển chung của cả nước là 109,54%. Số liệu
tương ứng của năm 1996 là 119,42% và 109,34%, của năm 1997 là 120,75% và
108,15%, của năm 1998 là 116,88% và 105,8%. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp
phần đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao. Trong giai đoạn 1991-1997, nước
ta đạt mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm khoảng 8,4%. Trong giai đoạn
này nguồn vốn FDI chiếm khoảng 26% -30% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
Những tính toán sơ bộ cho thấy nếu thời gian qua không có nguồn vốn này thì mức
tăng trưởng có thể không vượt quá 5% bình quân năm và nếu không có cả nguồn
ODA thì mức tăng trưởng hàng năm có thể chỉ khoảng 3% - 4% trong điều kiện phát
huy tốt nội lực.
Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP ngày càng gia tăng và có xu
hướng tương đối ổn định, từ 2% năm 1992 lên trên 9% năm 1997 và đạt 12,7%
năm 2000. Điều đó cho thấy hoạt động FDI giữ vai trò ngày càng quan trọng đối với
sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta.
Bảng 11: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm (%)
Năm 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ
8.7 8.08 8.83 9.54 9.34 8.15 5.76 4.77 6.75
Đóng góp
của FDI
2.0 3.6 6.1 6.3 7.39 9.07 10.03 11.75 12.7
Nguồn : Kinh tế VN và Thế giới 2000-2001 - Thời báo kinh tế Việt Nam
Bên cạnh đó, ta thấy có mối quan hệ giữa sự gia tăng của GDP và xu hướng vận
động của dòng vốn FDI. Hệ số tương quan Pearson bằng 0,882 cho thấy mối quan hệ
này tương đối chặt chẽ và là tương quan thuận chiều, nghĩa là sự tăng lên của vốn
đầu tư nước ngoài sẽ làm tăng GDP.
năm 2000. Tổng doanh thu thời kỳ 1998-2000 đạt 21.641 triệu USD. Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài đã đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách Nhà nước: 195
triệu USD năm 1995, 263 triệu USD năm 1996, 317 triệu USD năm 1998. Trong giai
đoạn 1988-2000, các doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách tổng cộng
khoảng 1749 triệu USD, đây là một con số thực sự có ý nghĩa, góp phần làm giảm
bớt tình trạng thâm hụt và nâng cao khả năng chi cho đầu tư phát triển từ ngân
sách nhà nước.
Số liệu về doanh thu và nộp ngân sách Nhà nước của khu vực FDI:
Bảng 12: Doanh thu và nộp NSNN của khu vực FDI
Đơn vị : triệu USD
Năm 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Doanh thu
228 505 1026 2063 2743 3851 3910 4600 5500
Nộp NSNN
- - 128 195 263 315 317 271 260
Nguồn : Kinh tế VN và Thế giới 2000-2001 - Thời báo kinh tế Việt Nam
Ta sẽ đi xem xét cụ thể hơn vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
đối với sự tăng trưởng của các ngành kinh tế nước ta trong những năm vừa qua:
♦ Đối với ngành công nghiệp
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những chiếm tỷ trọng cao
mà còn có xu hướng tăng lên đáng kể trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành.
Khu vực FDI luôn tạo ra hơn 25% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp. Tỷ
trọng giá trị sản xuất của khu vực này đạt được từ 25,1% năm 1995; 26,73% năm
1996; 28,9% năm 1997 đã tăng lên 31,98% năm 1998; 34,73% năm 1999 và 35,5%
năm 2000.
Tỷ trọng khu vực FDI trong GTSX công nghiệp (%)
Năm 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tỷ trọng
26.2 26,4 26,2 25,1 26,7 28,9 32 34,7 35,5
Trong ngành công nghiệp khai thác, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một phần rất lớn vào những
thành tựu về tăng trưởng kinh tế mà chúng ta đạt được trong thời gian qua và đang
khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất
nước các giai đoạn tiếp theo.
3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
Trong các mục tiêu kinh tế vĩ mô, quan trọng hàng đầu là tốc độ tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu có quan hệ mật thiết
với nhau: tăng trưởng khác nhau giữa các ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ sẽ làm
thay đổi cơ cấu kinh tế; ngược lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ làm thay đổi tốc độ
tăng trưởng, nếu chuyển dịch cơ cấu theo hướng tiến bộ phù hợp với những điều