KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH - Pdf 62

KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC
DOANH.
1.1.1. Khái quát về kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong nền kinh tế Việt Nam, KTNQD là một bộ phận cấu thành của nền
kinh tế quốc dân bao gồm hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp, HTX đến các công ty tư
nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần... hoạt động trên tất cả các lĩnh vực công
nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Với lĩnh vực tham gia
rộng rãi như vậy, thành phần KTNQD đã tạo ra một phần không nhỏ GDP, thúc
đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hút lao động, tận dụng khai thác tiềm năng
của đất nước.
Ở nước ta, Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định nước ta có
các thành phần kinh tế như sau: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá
thể, Kinh tế tư bản tư nhân và Kinh tế tư bản nhà nước. Trong đó kinh tế quốc
doanh thực hiện tốt vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể để trở thành nền
tảng của nền kinh tế quốc dân.
Đảng ta xuất phát từ thực tế của đất nước và vận dụng quan điểm của
V.I.Lênin: "Coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của
thời kỳ quá độ". Từ đó sở hữu tư nhân được thừa nhận, KTNQD được tồn tại
và phát triển bình đẳng cùng kinh tế Nhà nước.
Kinh tế quốc doanh: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà
nước về tư liệu sản xuất chủ yếu, gồm những đơn vị mà toàn bộ vốn thuộc về
nhà nước hoặc phần của nhà nước chiếm tỷ trọng khống chế. Đại diện của các
thành phần kinh tế này là các DNNN, đó là các TCKT do Nhà nước đầu tư vốn
thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. (Luật DNNN -
Điều 1).
Kinh tế hợp tác: Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm
những đơn vị kinh tế do người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh

TNHH, công ty cổ phần được pháp luật quy định.
Công ty TNHH, công ty cổ phần: Gọi chung là công ty, là DN trong đó các
thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với
phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm
vi vốn góp của mình vào công ty.
DN tư nhân: Là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp
định, do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về mọi hoạt động của DN.
Bên cạnh các thành phần kinh tế cơ bản kể trên cũng còn một số hình
thức kinh tế khác cùng song song tồn tại đó là những hình thức liên doanh liên
kết giữa các chủ thể trong nước cũng như trong nước với nước ngoài.
1.1.2. Đặc điểm và xu hướng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh.
1.1.2.1. Đặc điểm của khu vực KTNQD.
Suốt một thời gian dài, nước ta xây dựng kinh tế XHCN theo mô hình
"Quốc doanh hoá" và "Tập thể hoá", các thành phần KTNQD gần như bị xoá bỏ.
KTNQD mới thực sự khởi sắc sau khi có Luật DN tư nhân và Luật công ty được
Nhà nước ban hành năm 1991. Chính những biến cố lịch sử nói trên đã quyết
định nên đặc điểm của thành phần KTNQD ở nước ta.
Thứ nhất là cơ sở sản xuất phân tán, manh mún, thiết bị kỹ thuật công
nghệ lạc hậu rất nhiều so với thế giới. Phần lớn các dây chuyền máy móc thuộc
thập kỷ 60 - 70 nên năng suất lao động thấp, chất lượng xấu, giá thành cao,
sức cạnh tranh của sản phẩm kém. Hiện tại các DNNQD có công nghệ tiên tiến,
hiện đại không nhiều chỉ có một số xí nghiệp liên doanh, công ty có vốn đầu tư
nước ngoài được trang bị máy móc dây chuyền mới, còn hầu hết các đơn vị có
vốn đầu tư trong nước còn sử dụng công nghệ thủ công, dây chuyền thiết bị
chắp vá, thiếu đồng bộ. Theo các số liệu điều tra năm 1998 chỉ có 25% số DN và
20,5% số công ty tư nhân sử dụng công nghệ hiện đại, 33,5% số DN và 18,7%
số công ty tư nhân sử dụng công nghệ truyền thống, 38,5% số DN và 60,5% số
công ty tư nhân kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại.
Hơn nữa trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, lại bị Mỹ cấm vận trong

Thứ tư là khả năng quản lý của DNNQD vừa yếu lại vừa thiếu, đặc biệt
trong việc lập kế hoạch tài chính. Việc lập kế hoạch tài chính, xây dựng phương
án sản xuất có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ, khả năng
quản lý kinh doanh của các DN, khả năng dự đoán về sự biến động của ngành,
của nền kinh tế... Do vậy DNNQD khó có thể xây dựng được kế hoạch tài chính,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi, trong khi thói quen sử dụng các dịch
vụ tư vấn mang tính chuyên nghiệp chưa hình thành. Đa số các DN tư nhân
quản lý DN bằng kinh nghiệm theo cách suy nghĩ, hiểu biết của riêng mình.
Nhiều người trong số họ chưa qua trường lớp đào tạo nên ít hiểu biết về pháp
luật, yếu kém về năng lực và kiến thức.
Thứ năm, môi trường sản xuất kinh doanh chưa ổn định. Các thành phần
KTNQD phát triển thất thường lúc lên, lúc xuống tuỳ thuộc vào chính sách
quản lý cụ thể của Nhà nước (chính sách thuế, lãi suất cho vay, chính sách xuất
nhập khẩu...). Môi trường kinh doanh đối với các thành phần KTNQD không
thuận lợi ngay từ khâu ban đầu là thủ tục đăng ký kinh doanh và thành lập
DN. Thủ tục này kể từ khi có Luật DN (được bắt đầu thực hiện từ ngày
1.1.2000) đã giảm đi được nhiều khâu, song vẫn còn gây khó khăn cho các nhà
kinh doanh muốn thành lập DN, như đăng ký kinh doanh đối với các loại hình
DN thuộc mọi ngành nghề đều phải tập trung về Sở kế hoạch - đầu tư tỉnh, gây
khó khăn cho các tổ chức cá nhân muốn thành lập DN ở địa phương xa tỉnh.
Bên cạnh đó còn có sự sách nhiễu, phiền hà của các cán bộ đăng ký kinh doanh
làm cho các cá nhân, tổ chức tốn kém cả về thời gian lẫn tiền bạc.
Việc thanh tra, kiểm soát chồng chéo hiện nay của các lực lượng thanh
tra, kiểm tra đang gây nhiều khó khăn cho các DN. Mỗi lực lượng tiến hành
thanh tra, kiểm tra theo cách của mình, thậm chí sai pháp luật, vượt quá quyền
hạn và phạm vi thanh tra.
Một trong những lĩnh vực mà khu vực DNNQD không có nhiều ưu đãi so
với các DNNN là quan hệ TD với NH. DNNQD luôn bị coi là những khách hàng
nhỏ, hoạt động theo kiểu chộp giật, quy mô hoạt động nhỏ, vốn tự có thấp và
uy tín chưa cao, ngoài trừ DN có vốn đầu tư nước ngoài, DN liên doanh. Ngoài

1.1.2.2. Xu hướng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh.
1.1.2.2.a. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu tư trong nước.
Với chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã kích thích phát huy
nội lực trong nền kinh tế. Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh theo quy
định của pháp luật. Thành phần KTNQD có vốn đầu tư trong nước đã phát huy
được thế mạnh của nó, khu vực này bao gồm hai loại hình: DNNQD và Kinh tế
hộ gia đình.
Loại hình DN: Bao gồm những công ty đăng ký với số vốn không thấp hơn
mức vốn pháp định do Nhà nước quy định, hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
DNNQD hoạt động dưới nhiều hình thức: DN tư nhân do một tư nhân làm chủ,
công ty cổ phần do những người nắm giữ cổ phiếu làm chủ, hoặc tham gia
dưới hình thức HTX. Trong điều kiện nước ta hiện nay phổ biến nhất là hai loại
hình công ty tư nhân và công ty TNHH bởi nhiều lý do, trong đó lý do quan
trọng nhất là số vốn cần thiết cho việc thành lập và hoạt động nhỏ, còn sự phát
triển của công ty cổ phần vẫn còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam.
Trong những năm qua số lượng DNNQD tăng lên khá nhanh, theo ước
tính hiện nay có khoảng 25.000 DNNQD đang hoạt động. Trong khi đó số
DNQD lại có xu hướng giảm xuống do tiến trình cổ phần hoá hoặc do kinh
doanh kém hiệu quả dẫn đến giải thể, phá sản của một loạt các DNNN. Vì vậy
một bộ phận lớn người lao động có trình độ, tay nghề đã chuyển từ DNNN
sang làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân do khu vực này đang làm ăn có hiệu
quả.
Nhưng một hạn chế lớn nhất đối với các DNNQD ở nước ta là vốn cho đầu
tư mở rộng sản xuất. Với nguồn vốn tự có chủ yếu dưới dạng nhà xưởng, máy
móc thiết bị do vậy sau một thời gian hoạt động sản xuất trang thiết bị trở nên
lỗi thời không còn thích ứng được với nhu cầu thị trường. Để tồn tại và phát
triển thì phải đổi mới dây chuyền thiết bị, trang bị công nghệ hiện đại. Trong
khi đó nguồn vốn tự có lại có hạn, nguồn vốn đi vay cũng bị hạn chế bởi quy mô
và tài sản có. Như vậy, trong tương lai không xa một xu hướng tất yếu xảy ra
đối với các DN này là sự sát nhập cùng chung vốn vào sản xuất kinh doanh. Đó

1.1.2.2.b. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu tư nước ngoài.
Kể từ khi Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, tham gia vào các quan
hệ kinh tế quốc tế, đã xuất hiện nhiều tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam,
hàng năm khu vực này đóng góp một tỷ lệ lớn vào GDP, góp phần chuyển giao
công nghệ, khoa học quản lý hiện đại, thu hút lao động trong nước với mức
lương cao, đào tạo công nhân kỹ thuật, rèn luyện phong cách lao động công
nghiệp hoá.
Trong những năm gần đây, hoạt động đầu tư nước ngoài đang được
nhiều người quan tâm và trên thực tế hoạt động này đã và đang đóng góp một
phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước, mở rộng và thúc đẩy các
quan hệ kinh tế quốc tế, từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Hoạt
động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu từ cuối năm 1987 và được đánh
dấu bằng sự ra đời Luật đầu tư nước ngoài. Từ đó tới nay hoạt động đầu tư
nước ngoài ngày một tăng lên cả về tổng số vốn đầu tư, số lượng dự án đầu tư,
số nước tham gia và các lĩnh vực đầu tư. Tuy vậy, từ năm 1997 đến nay hoạt
động đầu tư nước ngoài có phần giảm sút so với các năm trước, đây đang là
vấn đề được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà kinh tế. Phải thừa nhận rằng
đầu tư nước ngoài giảm sút trong mấy năm qua có nhiều nguyên nhân như
ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á, môi trường
đầu tư chưa hấp dẫn, thủ tục hành chính rườm rà, chính sách thuế thiếu ổn
định. Nhưng với lợi thế ở nước ta có nguồn lao động dồi dào, chịu khó, có
nguồn nguyên liệu rẻ, cùng với việc thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu
tư nước ngoài của Chính phủ như cải cách thủ tục hành chính, chính sách thuế,
giảm giá cho thuê đất. Chắc chắn trong tương lai khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài sẽ phát triển một cách nhanh chóng, sẽ có ngày càng nhiều
những dự án kinh doanh có hiệu quả tạo công ăn việc làm cho người lao động
và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.3. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong những năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn song được sự
khuyến khích của Đảng và Nhà nước, khu vực KTNQD đã dần dần khẳng định

Thứ hai, sự phát triển KTNQD đã thu hút một lực lượng lớn lao động,
giảm sức ép về tình hình thất nghiệp cho đất nước.
Như chúng ta đã biết, khu vực KTNQD với quy mô vốn đầu tư không nhiều
có thể dễ dàng thành lập bởi một cá nhân hay một số cổ đông liên kết lại dưới
dạng công ty TNHH, công ty cổ phần... có mặt trong tất cả các ngành nghề như:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status