Mục lục
Mục lục.................................................................................1
Lời mở đầu ...........................................................................2
Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế và đối với doanh nghiệp
nhà nớc............................................................................................3
thực trạng đầu t tín dụng đối với doanh nghiệp quốc doanh ở ngân
hàng công thơng hoàn kiếm..........................................................17
Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu t đối
với Doanh nghiệp Nhà nớc ở Ngân hàng Công thơng Hoàn kiếm.40
Kết luận...........................................................................59
....................................................................................59
tài liệu tham khảo...............................................................60
1
Lời mở đầu
Đại hội VI của Đảng đã đề ra đờng lối đổi mới cho sự phát triển kinh
tế Việt nam theo hớng phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Theo đó chúng ta đã khuyến khích mạnh mẽ sự phát triển của
các thành phần kinh tế t nhân, kinh tế hộ gia đình cùng với việc củng cố đổi
mới hoạt động của khu vực kinh tế quốc doanh để đảm bảo cho khu vực
kinh tế này thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình.
Tuy nhiên cho đến nay cơ sở vật chất trang bị máy móc của các doanh
nghiệp quốc doanh còn có lạc hậu, thiếu thốn, công nghệ sản xuất quá cũ.
Nhu cầu vốn cho quá trình đổi mới, nâng cấp phơng tiện hoạt động sản xuất
kinh doanh ở các doanh nghiệp là rất lớn. Trong lúc đó ngân sách Nhà nớc
còn hạn hẹp, vốn tự có của các doanh nghiệp còn thấp và các doanh nghiệp
quốc doanh đang rất cần sự tài trợ vốn của hệ thống ngân hàng thơng mại.
Trên thực tế, trong thời gian gần đây hoạt động đầu t tín dụng đối với các
doanh nghiệp quốc doanh cha đợc hệ thống ngân hàng thơng mại quan tâm
thích đáng cả về mặt số lợng cả về chất lợng. Hơn nữa vốn tín dụng của các
ngân hàng cho vay trong khu vực kinh tế quốc doanh cha đợc sử dụng hợp
vốn vay ngân hàng... trong đó vốn vay ngân hàng là nguồn vốn linh động
và tiện lợi nhất.
Đối với ngân hàng thơng mại huy động và cho vay là nghiệp vụ
chủ chốt, nghiệp vụ này đợc gọi là nghiệp vụ tín dụng.
Tín dụng đợc định nghĩa là một phạm trù kinh tế phản ánh các
quan hệ kinh tế trong đó cá nhân hay tổ chức nhờng quyền sử dụng một
giá trị thể hiện bằng tiền hay hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác
với những điều kiện ràng buộc nhất định về thời hạn hoàn trả (cả gốc và
lãi), lãi suất, cách thức vay mợn và thu hồi.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các
tổ chức tín dụng với cá nhân, tổ chức kinh tế khác.
b. Phân loại tín dụng.
Tín dụng có thể đợc phân thành nhiều loại khác nhau theo các
tiêu thức khác nhau.
Theo thời hạn sử dụng tín dụng đợc phân thành ba loại:
+ Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn không quá một
năm. Tín dụng này đợc sử dụng để tài trợ cho sự thiếu hụt vốn tạm thời
nh để dữ trữ hàng hoá, tài trợ cho các chi phí sản xuất kinh doanh phát
sinh và bằng tiền mặt: Tiền lơng công nhân viên, tiền điện nớc v.v... Để
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, nhiều khi còn đợc doanh nghiệp tài
trợ tạm thời cho vốn đầu t dài hạn khi có nguồn bảo đảm chi trả trong
ngắn hạn. Đối với mỗi hộ gia đình, tín dụng ngắn hạn đợc sử dụng để
mua sắm đồ dùng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn có thời hạn từ một năm đến 10 năm, các
khoản tín dụng này đợc sử dụng để mua sắm trang thiết bị là tài sản cố
định có thời gian sử dụng lâu dài, để đầu t xây dựng các công trình có
thời hạn thu hồi vốn dới 10 năm.
+ Tín dụng dài hạn, có thời hạn trên 10 năm, thờng đợc sử dụng
để tài trợ cho quá trình đầu t xây dựng các công trình lớn, có thời gian
thu hồi vốn dài.
khi cấp cho khách hàng, kèm theo các điều kiện thuê hoặc mua một loại
tài sản nào đó. ở các ngân hàng thờng hay có các tài sản thế chấp thu hồi
từ những khách hàng mất khả năng thanh toán. Khi bán tài sản này, ngân
hàng có thể cung cấp tín dụng thuê mua cho khách hàng. Đây nh là một
hình thức bán chịu sau khách hàng phải trả lãi suất cho ngân hàng và khi
khách hàng mất khả năng thanh toán, ngân hàng có quyền thu hồi tài sản
này.
+Tín dụng uỷ nhiệm thu.
Tín dụng uỷ nhiệm thu là hình thức tín dụng mà ngân hàng dành
lấy quyền đòi các khoản nợ của khách hàng khi cho khách hàng vay vốn.
Theo hợp đồng, nếu sau này các con nợ không có khả năng thanh toán,
ngân hàng có quyền quay lại đòi nợ khách hàng hay không có quyền đòi
nợ khách hàng. Hình thức tín dụng này có chi phí lớn, là tổng của chi phí
hoa hồng cho vay uỷ nhiệm thu và tiền lãi tính trên vốn cung cấp cho
khách hàng. Song khi sử dụng tín dụng này, khách hàng đã tiết kiệm đợc
chi phí theo dõi, thu hồi nợ khê đọng, còn ngân hàng thì chịu mức rủi ro
cao hơn.
4
+Tín dụng tiêu dùng.
Tín dụng tiêu dùng là tín dụng cung cấp cho cá nhân, hộ gia đình
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân nh mua nhà, mua xe hay các vật
dụng khác. Loại tín dụng này thờng là tín dụng ngắn hạn gắn liền với
việc mua sắm tiêu dùng của khách hàng. Và nếu là tín dụng trung, dài
hạn thì hình thức trả nợ là trả theo chuỗi niên khoản.
+Tín dụng bảo lãnh.
Có thể nói đây là một dịch vụ của ngân hàng vì ngân hàng không
trực tiếp xuất quỹ cho khách hàng sử dụng mà chỉ đa ra các cam kết bảo
lãnh cho các khoản nợ của khách hàng, tạo điều kiện cho các khách hàng
vay vốn ở đối tác thứ ba. Ngân hàng cam kết sẽ trả thay các khoản nợ
cho khách hàng nếu khách hàng mất khả năng thanh toán.
Tín dụng không những mang lợi lại cho các bên tham gia mà còn có lợi
5
cho toàn bộ xã hội nói chung khi nó tạo điều kiện cho quá trình lu thông
vốn giữa các cá nhân, các ngành, nó đáp ứng đợc nhu cầu đầu t, nhu cầu
tiêu dùng, khuyến khích nhu cầu tiêu dùng sản phẩm xã hội và đem lại
sự tăng trởng cho nền kinh tế.
2. Tín dụng đối với nền kinh tế thị trờng.
Tín dụng ngân hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho toàn bộ
nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài trợ cho các ngành công nghiệp, thơng
nghiệp, nông nghiệp... nó tạo ra khả năng tiêu dùng cho dân c, khuyến
khích nhu cầu tiêu dùng sản phẩm từ đó tạo nên sự tăng trởng mạnh mẽ
cho nền kinh tế.
Trong các ngành sản xuất kinh doanh, từ khâu sản xuất, lu thông
đến tiêu dùng đều có sự tham gia của tín dụng:
Trong sản xuất, tín dụng tài trợ cho qua trình đầu t xây dựng các
nhà máy công xởng, mua sắm máy móc trang thiết bị cho sản xuất, tín
dụng tài trợ cho các chi phí sản xuất kinh doanh nh dự trữ nguyên vật
liệu cho sản xuất, tiền lơng, tiền công... là những đầu vào không thể
thiếu cho quá trình sản xuất. Tín dụng không những duy trì khả năng sản
xuất cho các doanh nghiệp mà còn thúc đẩy quá trình sản xuất nhanh
chóng nhờ sự tài trợ cho đầu t xây dựng, mua sắm trang thiết bị mới, đổi
mới công nghệ.
Trong lu thông hàng hoá, tín dụng tài trợ cho việc xây dựng kho
tàng bến bãi mua sắm phơng tiện lu thông tài trợ cho lợng dự trữ hàng
hoá và các khoản chí phí khác phát sinh trong quá trình kinh doanh.
Trong tiêu dùng nhờ các khoản tín dụng mà mong muốn mua
sắm của ngời tiêu dùng trở thành nhu cầu thực sự, tín dụng tạo ra khả
năng chi trả cho ngời tiêu dùng.
Nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhu cầu vốn cho sản
xuất, tiêu dùng ngày càng cao do vậy vai trò của tín dụng ngân hàng cho
Đối với nớc ta hiện nay cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu thiếu thốn, nhu cầu
vốn cho đầu t xây lắp sửa chữa rất lớn.
Ngoài ra trong nền kinh tế thị trờng luôn xuất hiện sự phân cách
giữa ngời giàu và ngời nghèo, tín dụng ngân hàng có thể tạo nên sự công
bằng cho xã hội thông qua việc cho vay đối với những hộ gia đình có
khó khăn trong kinh tế với mức lãi suất hợp lý, giúp họ có đợc khả năng
sản xuất, tạo ra thu nhập.
II. Tín dụng ngân hàng đối với các doanh
nghiệp nhà nớc.
1. Doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng.
Thực tiễn trên thế giới, nền kinh tế hàng hoá của bất kì một nớc
nào cũng đều cần có sự quản lý của nhà nớc, dù đó là nớc phát triển,
đang phát triển hay kém phát triển, dù đó là nớc xã hội chủ nghĩa hay n-
ớc t bản chủ nghĩa, vấn đề khác nhau chỉ là ở chỗ mức độ và hình thức
can thiệp. Vai trò diều tiết , đem lại sự cân bằng cho nền kinh tế của nhà
nớc là không thể thiếu. Nhà nớc có thể can thiệp vào nền kinh tế bằng
nhiều công cụ vĩ mô khác nhau, trong đó phải kể đến công cụ vật chất
của khu vực kinh tế nhà nớc bao gồm nhiều công ty độc quyền nhà nớc,
chiếm giữ các ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn mà nhà nớc đầu t 100%
vốn hay chiếm giữ một tỷ lệ vốn chi phối thông qua chế độ tham dự.
a. Định nghĩa doanh nghiệp nhà nớc
Doanh nghiệp nhà nớc là một tổ chức kinh doanh, do nhà nớc
thành lập đầu t vốn và quản lý với t cách là chủ sở hữu, đồng thời là một
pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trớc pháp luật.
Ngoài doanh nghiệp 100% vốn đầu t của nhà nớc còn có các
doanh nghiệp cổ phần, trong đó nhà nớc chiếm nột tỷ lệ vốn cao, đủ để
chi phối hoạt động của nó khi cần thiết.
7
b. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc.
Doanh nghiệp nhà nớc, ngoài vai trò tạo ra sản phẩm xã hội,
có sự chuẩn bị đầy đủ, chu đáo từ trớc, sớm làm dịu các cơn sốt, tạo điều
kiện thuận lợi cho sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Vấn đề khó khăn đặt ra là làm sao để các doanh nghiệp nhà nớc
vừa là công cụ quản ký vĩ mô của nhà nớc lại vừa là doanh nghiệp làm ăn
có lãi, đòi hỏi nhà nớc phải có một cơ chế quản lý thích hợp cho từng
loại hình doanh nghiệp nhằm giúp chúng đứng vững trong cạnh tranh,
hoàn thành đợc nhiệm vụ ổn định thị trờng.
+ Một hệ thống doanh nghiệp nhà nớc hoạt động có hiệu quả là
tác nhân quan trọng để nhà nớc làm đối trọng với các thành phần kinh tế
khác trong việc kiềm chế sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế do
thành phần kinh tế t nhân gây nên khi họ chạy theo lợi nhuận đơn thuần.
8
Kiềm chế sự lũng đoan của các thành phần kinh tế khác cũng nh tác
nhân từ bên ngoài trong từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế. Nhờ đó, nhà
nớc có thể hóng nền kinh tế phát triển theo chiến lợc đã chọn.
+ Khu vực kinh tế quốc doanh có vai trò là ngời mở đờng hỗ trợ
cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Hệ thống doanh nghiệp quốc doanh hoạt động có hiệu quả là lực
lợng vật chấ để liên kết lôi kéo các thành phần kinh tế khác phát triển
theo đúng định hớng phát triển kinh tế xã hội, hớng các thành phần kinh
tế khác vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm thực hiện thành
công các chiến lợc kinh tế, với vai trò này, doanh nghiệp nhà nớc là yếu
tố đảm bảo, là tác nhân kích thích đối với các thành phần kinh tế khác,
cụ thể, doanh nghiệp nhà nớc tạo ra cơ sở hạ tầng, tạo môi trờng thuận
lợi để các thành phần kinh tế khác phát triển. Hơn nữa, doanh nghiệp nhà
nớc tạo ra sự an toàn, hiệu quả cho sản xuất kinh doanh, cho sự phát triển
kinh tế xã hội.
Ngoài vai trò trên, doanh nghiệp nhà nớc còn là đơn vị thực
hiện các mục tiêu xã hội, đó là tạo sự công bằng, hỗ trợ cho các ngành
kinh tế kém phát triển, ít sinh lãi, làm tăng công ăn việc làm cho nền
quân hàng năm của hệ thống doanh nghiệp nhà nớc là 11.2%, cao hơn
tốc độ tăng trởng chung của nền kinh tế - khoảng 8.7%. Chúng ta có thể
thấy sự lớn mạnh của doanh nghiệp nhà nớc qua một số chỉ tiêu sau:
+ Doanh nghiệp nhà nớc chiếm tỷ trọng cao về các ngành xuất
nhập khẩu, tốc độ tăng ngạch xuất nhập khẩu bình quân hàng năm đạt
20%. Hệ thống doanh nghiệp nhà nớc cũng chiếm trên 90% số dự án liên
doanh với nớc ngoài.
+ Doanh nghiệp nhà nớc chiếm vị trí quan trọng trongcác nguồn
thu cảu ngân sách Nhà nớc, tốc độ thu ngân sách từ các doanh nghiệp
nhà nớc tăng bình quân hàng năm là 50%, trong khi các khoản tài trợ
trực tiếp hay gián tiếp từ ngân sách giảm đi một cách đáng kể.
+ Hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nớc đợc cải
thiện một cách rõ rệt. Nếu năm 1996 mỗi đồng vốn tạo ra đợc 2,41 đồng
doanh thu, 0,07 đồng lợi nhuận thì năm 1999, mỗi đồng vốn đã tạo ra đ-
ợc 3,46 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận.
Hiêụ quả sự dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nớc qua các
năm
(Tính trên 1000 đồng vốn. Đơn vị: đồng)
Chỉ tiêu 1994 1998 2000 2001
Doanh thu
Lợi nhuận
Nộp ngân sách
LN/DT(%)
2850
142
450
4.98
3458
193
322
Theo báo cáo thống kê, năm 2001, sản xuất của ngành công
nghiệp tăng 13.7% so với năm 2000 thì khu vực công nghiệp trung ơng
chỉ tăng 10.4%, sản xuất của các doanh nghiệp thuộc bộ công nghiệp chỉ
tăng 8.4%. Riêng địa phơng Hà nội, công nghiệp chỉ tăng 3.4% trong đó
khu vực kinh tế quốc doanh giảm 4%, công nghiệp địa phơng Đà nẵng
tăng 2.4% trong đó công nghiệp quốc doanh giảm 4%. Các chỉ tiêu lợi
nhuận, nộp ngân sách cũng có chiều hớng tơng tự.
Hiện nay, số lợng doanh nghiệp nhà nớc vẫn còn nhiều và quá
nhỏ về quy mô, vẫn có sự dàn trải không cần thiết, vợt khả năng hiện có
của Nhà nớc. Năm 2001 vẫn có trên 30% doanh nghiệp nhà nớc có số
vốn dới một tỷ đồng, trong đó có đến 50% doanh nghiệp có vốn dới 500
triệu đồng. Tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp nhà nớc là khá
phổ biến và nghiêm trọng vốn lu động của Nhà nớc cha đến 10% tổng
vốn hoạt động. Do đó doanh nghiệp phải trực tiếp vay nợ từ các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng. Lợi nhuận của doanh nghiệp giảm do phải
trả lãi cho ngân hàng. Quan trọng hơn là cơ sở vật chất trang thiết bị của
một số doanh nghiệp đã quá cũ kỹ lạc hậu, trong khi đó doanh nghiệp
không có đủ vốn để đổi mới, hiện đại hoá công nghệ, dẫn tới sự mất
cạnh tranh trên thị trờng.
Một số doanh nghiệp vẫn còn thua lỗ lớn. Tỷ trọng doanh
nghiệp nhà nớc thua lỗ còn rất cao chiếm trên mức 20% tổng số doanh
nghiệp nhà nớc. Hiệu quả kinh tế thấp, mức sinh lời của đồng vốn thấp,
đặc biệt là các doanh nghiệp do địa phơng quản lý. Nguyên nhân chính
của tình trạng này là trình độ quản lý của cán bộ còn non yếu, thiếu vốn,
thiếu máy móc trang thiết bị, cơ sở vật chất nói chung quá cũ, phần lớn
đợc đầu t mua sắm từ những năm 80.
Tình trạng thua lỗ nặng, mất khả năng thanh toán vẫn xảy ra ở
một số doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản,
nhng không tuyên bố phá sản do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó
có vấn đề giải quyết chính sách, chế độ cho ngời lao động.
bị mới. Mặt khác, trong một thời gian dài, doanh nghiệp nhà nớc phải
nộp khấu hao cơ bản và tỷ lệ trích quỹ phát triển sản xuất quá thấp đã
hạn chế khả năng đầu t. Hơn nữa ngân sách nhà nớc chủ yếu đợc dùng
để đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp nhà nớc ít đợc bổ trợ vốn
từ ngân sách. Tình hình này đã làm cho doanh nghiệp gặp rất nhiều khó
khăn trong việc đầu t chiều sâu và mở rộng quy mô, nâng cao chất lợng
sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nớc .
a. Nhu cầu vốn trong các doanh nghiệp nhà nớc
Nh tình trạng hiện nay của các doanh nghiệp nhà nớc, trang bị
máy móc cũ, công nghệ thấp, doanh nghiệp có quyền tự chủ cần chủ
động vay vốn ngân hàng, đặc biệt là vốn trung dài hạn để đổi mới công
nghệ sản xuất, nâng cao hiêụ quả trong hoạt động để thực sự trở thành
khu vực kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế.
b. Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhà nớc .
12
Tín dụng ngân hàng là một hoạt đông của nền kinh tế. Tuỳ theo
tính chất đặc điểm của nền kinh tế xã hội mà vai trò của tín dụng đợc thể
hiện ở những mức độ khác nhau. Trong điều kiện hoạt động của các
doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta hiện nay, tín dung ngân hàng có những
vai trò sau:
Vai trò của tín dụng trong việc huy động và tập trung vốn.
Ngân hàng đã huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi cha sử
dụng trong các doanh nghiệp, dân c để cho vay đối với các doanh
nghiệp, cá nhân, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Quá trình kinh doanh tín dụng ngân hàng bắt đầu từ việc huy
động vốn và trên cơ sở có nguồn vốn đó đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày
càng cao của nền kinh tế. Cũng nh các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp
nhà nớc trong quá trình hoạt động luôn ở trong tình trạng tồn tại những
nguồn vốn tạm thời cha sử dụng, có nhu cầu gửi vào ngân hàng để hởng
hợp đồng kinh tế có giá trị, bỏ lỡ các cơ hội tiêu dùng chỉ vì thiếu vốn
tạm thời.
Tín dụng ngân hàng tài trợ cho ngành kinh tế chủ lực, ngành
kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế kém phát triển
Đối với nớc ta, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ,
lạc hậu, đầu t phát triển cho các ngành kinh tế chủ lực, cho các ngành
kinh tế mũi nhọn vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài mới có
thể đuổi kịp các nớc trong khu vực, các nớc trên thế giới. Tín dụng ngân
hàng đã góp phần phát triển các ngành kinh tế này thông qua việc cho
vay dới các hình thức khác nhau, qua đó góp phần vào qua trình tăng tr-
ởng của nền kinh tế .
Trong nền kinh tế thị trờng, vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nớc
rất quan trọng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sao cho sử dụng
toàn bộ tài nguyên và sức lao động hiệu quả nhất. Do vậy, nhà nớc phải
u tiên phát triển một số ngành kinh tế ít sinh lợi, một số ngành kinh tế
kém phát triển. Trong việc làm này Nhà nớc cũng cần sự hỗ trợ của tín
dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển quan hệ đối ngoại.
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển kinh tế của một nớc luôn
gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới. Sự hợp tác bình đẳng, đôi
bên cùng có lợi giữa các nớc trên thế giới và khu vực đang đợc phát triển
đa dạng cả về nội dung và hình thức, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đó
là nhân tố hết sức quan trọng tạo điều kiện cho sự hoà nhập vào nền kinh
tế thế giới và cho sự phát triển kinh tế của mỗi nớc, đặc biệt là các nớc
đang phát triển, trong đó có nớc ta. Tín dụng ngân hàng đã trở thành một
trong các phơng tiện nối liền kinh tế các nớc với nhau qua việc đầu t vốn
ra nớc ngoài và tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ.
Để thực hiện đợc quá trình đầu t ra nớc ngoài hay các hoạt động thơng
mại giữa các nớc, yếu tố đầu tiên có ý nghĩa quyết định là vốn bằng tiền.
Lợng vốn cần cho các hoạt động này là rất lớn và doanh nghiệp thờng
xuất nhập khẩu, sản xuất xi măng, cà phê...
Thời gian qua, ngân hàng thơng mại đã tăng tỷ trọng vốn cho vay
trung và dài hạn để đầu t vào xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản,
đổi mới thiết bị sản xuất, đáp ứng các nhu cầu bức thiết của nền kinh tế.
Ngoài các khoản vốn huy động để cho vay trong nớc, hệ thống
ngân hàng thơng mại đã thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay
các khoản vốn từ bên ngoài. Số vốn bảo lãnh ớc tính trong năm 2001 là
460 triệu USD, chủ yếu là để nhập khẩu những mặt hàng cần thiết và đầu
t đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
đứng vững và phát triển mạnh mẽ trên thị trờng.
Cùng với việc đầu t tín dụng vào các doanh nghiệp nhà nớc chủ
lực, hệ thống ngân hàng thơng mại còn đầu t vào các doanh nghiệp nhà
nớc địa phơng cũng nh các doanh nghiệp khác thuộc các bộ các ngành
trong nớc với số vốn hàng nghìn tỷ đồng, giúp cho các doanh nghiệp này
phát triển, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác thuộc khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh.
Với tình hình kinh tế không ổn định, môi trờng pháp lý cha đầy
đủ, cha thống nhất của một nền kinh tế đang phát triển, việc đầu t tín
dụng đối với các doanh nghiệp nhà nớc cũng gặp phải một số khó khăn
trở ngại nhất định:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nớc có số vốn lu động đợc cấp quá
nhỏ, với quy chế hiện hành doanh nghiệp không thể vay vốn ngân hàng
gấp nhiều lần vốn tự có. Do đó, trong nhiều trờng hợp đã cố gắng hết khả
năng, doanh nghiệp vẫn không có đủ vốn hoạt động và đó cũng là vấn đề
khó khăn cho các ngân hàng thơng mại trong việc cung cấp tín dụng, nó
đã hạn chế lợng tín dụng cấp cho mỗi doanh nghiệp. Tuy vậy, thực tế
15
hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp nợ ngân hàng những khoản lớn gấp
ba bốn lần so với vốn tự có.
Thứ hai, sự yếu kém về quản lý, về tình hình tài chính và sự lạc
hàng Nhà nớc Việt Nam, đợc thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951 theo
sắc lệnh của chủ tịch nớc Hồ Chí Minh.Trớc tháng 3 năm 1988, tức trớc
nghị định 53/HĐBT: Đổi mới hoạt động ngân hàng, nhiệm vụ của
ngân hàng là phục vụ công tác tiền tệ, tín dụng, thanh toán trên địa bàn
quận Hoàn Kiếm, vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa thực hiện chức
năng ngân hàng hoạt động theo kế hoạch của Nhà nớc và đợc Nhà nớc
bao cấp, do đó có sự đầu t tín dụng tràn lan kém hiệu quả.
Cùng với sự đổi mới nền kinh tế, hệ thống ngân hàng với vai trò
là động lực cho sự phát triển, cũng đợc đổi mới bắt đầu từ Nghị định 53/
HĐBT ngày 26/3/1988 của hội đồng bộ trởng (nay là chính phủ), đặc
biệt là sự ra đời của hai pháp lệnh ngân hàng năm 1994 (pháp lệnh ngân
hàng nhà nớc và pháp lệnh về ngân hàng công ty tài chính và tổ chức tín
dụng). Hệ thống ngân hàng Việt nam đã có sự chuyển biến căn bản. Đó
là việc chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân
hàng hai cấp, trong đó:
+ Ngân hàng nhà nớc Việt nam với t cách là ngân hàng của các
ngân hàng, cùng với hệ thống chi nhánh ở các tỉnh thành phố trực thuộc
trung ơng, thực hiện chức năng quản lý nhà nớc thông qua các chính
sách về tiền tệ, về tín dụng...
+ Các ngân hàng thơng mại bao gồm ngân hàng thơng mại quốc
doanh, ngân hàng thơng mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh
ngân hàng nớc ngoài, các hợp tác xã tín dụng... chuyên doanh theo từng
lĩnh vực và hoạt động theo phơng thức hạch toán kinh doanh độc lập.
Nh vậy trong hệ thống ngân hàng hai cấp đã phân chia rõ vai trò,
nhiệm vụ của các ngân hàng. Đó là nhiệm vụ quản lý hệ thống tài chính,
tiền tệ của ngân hàng nhà nớc và nhiệm vụ kinh doanh của ngân hàng th-
ơng mại, tránh đợc sự xen kẽ, chồng chéo vai trò nhiệm vụ của nhau.
Với sự đổi mới này, ngân hàng Nhà nớc quận Hoàn Kiếm,
đóng ở số 10 Lê Lai chuyển thành một ngân hàng thơng mại cấp quận,
trực thuộc Ngân hàng Công thơng Trung ơng. Từ đó đến nay, với vai trò
Tuy vậy trong thời gian gần đây, ngân hàng đã từng bớc đi vào
ổn định và hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn.
2. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ các phòng ban và hoạt động cơ
bản của ngân hàng
a. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban
Ngân hàng có đến 175 cán bộ công nhân viên, hầu hết cán bộ
trong ngân hàng đều có trên 5 năm công tác, số cán bộ đạt trình độ đại
học và trên đại học chiếm trên 80% tổng số cán bộ công nhân viên. Đội
ngũ cán bộ ngân hàng nhìn chung trẻ tuổi, có trình độ nghiệp vụ khá,
năng động và đoàn kết trong công tác, thờng xuyên chú trọng đến việc
đổi mới công tác tổ chức cán bộ, chú ý bồi dỡng trình độ nghiệp vụ của
bản thân và tận tình trong việc bồi dỡng đội ngũ cán bộ trẻ.
Ngân hàng công thơng Hoàn kiếm đợc tổ chức thành 8 phòng
ban tại trụ sở chính và các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm nằm rải rác
trên địa bàn quận.
18
Hệ thống tổ chức của chi nhánh ngân hàng công thơng Hoàn
kiếm có thể đợc minh hoạ bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của ngân hàng công thơng Hoàn kiếm
+ Ban giám đốc: Ban giám đốc gồm một phó giám đốc và hai
phó giám đốc. Trong hai phó giám đốc, một phó quản lý hoạt động kinh
doanh của chi nhánh, một phó phụ trách công tác hành chính. Ban giám
đốc trực tiếp đề ra các quết định, hớng dẫn thi hành, quản lý hoạt động
của tất cả các phòng ban trong chi nhánh trong phạm vi quyền hạn của
mình. Ban giám đốc là ngời thông qua các quyết định kinh doanh, ký
các văn bản hợp đồng liên quan đến chi nhánh.
+ Phòng kinh doanh: Tất cả các nghiệp vụ tín dụng phát sinh
trong quá trình hoạt động đều phải thông qua phòng kinh doanh (trừ
nghiệp vụ mua bán ngoại tệ và chi trả kiều hối là thực hiện trực tiếp tại
phòng thanh toán quốc tế). Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu của phòng này,
kiểm
soát
Phòng
vi
tính
Phòng
hành
chính
Phòng
giao
dịch
Phòng
kinh
doanh
Các
quỹ
TK
thanh toán trực tiếp giao dịch với khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ
thanh toán hộ khách hàng và thu phí dịch vụ và hạch toán các nghiệp vụ
cho vay, nhận gửi... phát sinh trong ngày. Kế toán nội bộ hạch toán các
khoản chi phí, thu nhập phát sinh trong quá trình hoạt động và hạch toán
các khoản vốn điều chuyển.
+ Phòng thanh toán quốc tế: Phòng này còn có tên gọi là phòng
kinh doanh đối ngoại vì nhiệm vụ của nó là xử lý tất cả các nghiệp vụ
liên quan đến ngoại tệ. Các nghiệp vụ thanh toán quốc tế chủ yếu là mở
cầu của khách hàng và tập hợp, gửi lên ban giám đốc để ban giám đốc đề
ra những quyết định đúng đắn trong hoạt động.
b.Hoạt động cơ bản của ngân hàng.
Ngân hàng công thơng chi nhánh Hoàn kiếm thực hiện đầy đủ
các nghiệp vụ của một ngân hàng thơng mại: huy động, cho vay, trung
20
gian thanh toán... Các khoản huy động là tiền tiết kiệm của dân c, tiền
gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, các khoản tiền huy động từ phát
hành kỳ phiếu, tiền vay các tổ chức tín dụng, ngân hàng thơng mại
khác...Các khoản cho vay bao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài
hạn, cho vay đối với ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, thơng
nghiệp... Lãi cho vay là nguồn thu nhập chính của ngân hàng. Ngoài ra,
ngân hàng còn có các nguồn thu nhập khác nh thu nhập từ phí thanh toán
hộ, thu nhập từ dịch vụ bảo lãnh...
II. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân
hàng thơng mại nói chung và của ngân hàng
công thơng Hoàn kiếm nói riêng trong thời gian
qua.
1. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thơng mại.
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế hệ thống ngân hàng thơng
mại đã có những chuyển mình mạnh mẽ trong thời gian qua, từ mặt cơ sở
vật chất, trình độ nghiệp vụ quản lý cũng nh về mặt hoạt động.
Về mặt cơ sở vật chất, từ một hệ thống ngân hàng với cơ sở vật
chất nghèo nàn lạc hậu khi chuyển sang hệ thống ngân hàng hai cấp đến
nay, hầu hết các ngân hàng đã đợc trang bị đầy đủ cơ sở vật chất hiện
đại, đó là máy tính, máy rút tiền tự động, trang thiết bị khác phục vụ cho
quá trình hoạt động. Tuy nhiên, so với các nớc trên thế giới và trong khu
vực thì cơ sở vật chất của hệ thống ngân hàng nớc ta còn rất lạc hậu, cần
phải đầu t xây dựng mới, nâng cấp thêm nữa để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của nền kinh tế.
mới trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu
cầu ngày càng cao của xã hội. Trong hoạt động, ngân hàng đã từng bớc
thoát khỏi từ những nghiệp vụ tiền tệ tín dụng cổ truyền, phát huy mở
rộng các nghiệp vụ mới nh kinh doanh mua bán vàng bạc, ngoại tệ thực
hiện nghiệp vụ tín dụng thuê mua, chiết khấu chứng từ, nghiệp vụ bảo
lãnh mua bán hàng hoá, dịch vụ chuyển tiền nhanh trong nớc, nghiệp vụ
thanh toán quốc tế... Ngân hàng ý thức đợc rằng một nền kinh tế thị tr-
ờng đang phát triển hàm chứa một sự canh tranh khốc liệt. Với thị trờng
Hà nội, bao gồm nhều thành phần kinh tế hoạt động, từ các ngân hàng
quốc doanh, ngân hàng cổ phần đến các chi nhánh ngân hàng thơng mại
nớc ngoài thì chỉ có ngân hàng nào có cơ sở vật chất hiện đại, cung cấp
các dịch vụ đa dạng, tiện lợi thì mới có thể đứng vững và phát triển đợc
trên thị trờng, do vậy, ngân hàng công thơng Hoàn kiếm đã và đang hiện
đại hoá, đa dạng hoá các nghiệp vụ của mình bằng công nghệ hiện đại,
không chỉ ở trung tâm mà đến từng quầy giao dịch, quỹ tiết kiệm.
Dù qua bao thăng trầm của nền kinh tế cũng nh của hoạt động
trong hệ thống ngân hàng thơng mại, đến nay ngân hàng đã khẳng định
đợc vị trí của mình trên thơng trờng, đứng vững và phát triển trong cơ
chế mới của nền kinh tế thị trờng. Ngân hàng đã chủ động mở rộng
mạng lới giao dịch, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh dịch vụ tiền tệ,
ngân hàng đã liên tục tăng cả về nguồn vốn, cả về sử dụng vốn, thay đổi
cơ cấu đầu t, phục vụ sự phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên trong những năm gần đây tốc độ tăng trởng của nền
kinh tế nớc ta có xu hớng chững lại, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp
nhiều khó khăn. Các tổ chức kinh tế trong nớc, kể cả các doanh nghiệp
quốc doanh, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hầu hết rơi vào tình trạng
kinh doanh thua lỗ. Tình trạng thiếu vốn đầu t mua sắm thiết bị, máy
móc nên vẫn dùng công nghệ cũ, lạc hậu, kém hiệu quả dẫn đến sản
phẩm sản xuất có chất lợng kém, không đủ sức cạnh tranh với hàng nhập
và sản phẩm của các công ty liên doanh kể cả về mặt chất lợng, cả về
hàng đã củng cố đựơc lòng tin của khách hàng trong quận, khách hàng
đến giao dịch với ngân hàng ngày càng đông, điều đó đợc thể hiện ở sự
tăng lên không ngừng của nguồn vốn huy động trong thời gian qua.
23
Bảng 1: Nguồn vốn huy động của ngân hàng công thơng
Hoàn kiếm
(Đơn vị: 1.000.000 đồng)
Chỉ tiêu 2000 Tỷ trọng
96
2001 Tỷ trọng
97
Tỷ lệ
97/96
I. TGKH 46947 13,89 207579 38,68 442,00
1. TGKH=VND 46511 13,76 100896 18,80 216,90
- không kỳ hạn 45415 13,44 69663 12,98 153,40
- có kỳ hạn 993 0,29 31196 5,81 314,20
- tiền gửi khác 103 0.03 37 0,01
2. TGKH=ngoại tệ 436 0,13 106683 19,88
- không kỳ hạn 436 0,13 22581 4,20
- có kỳ hạn 84102 15,68
II. TGTK 290879 86,10 329116 61,32 113,15
1. TGTK=VNĐ 290504 86,00 304694 56,77 104,88
- không kỳ hạn 25952 76,82 10746 20,02 41,40
- có kỳ hạn 264552 9,18 293948 36,75 111,00
2. TGTK=ngoại tệ 375 0,11 24422 4,55
Tổng 337826 536695 158,90
Vốn ở ngân hàng công thơng Hoàn kiếm đợc huy động từ nhiều nguồn
khác nhau:
+ Tiền gửi của khách hàng, bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn và
năm 2000, nguồn ngoại tệ đã tăng lên 811 triệu đồng, đạt 0,24% nguồn
vốn, đến năm 2001, nguồn ngoại tệ huy động đợc đạt 24,4% tổng vốn
huy động hay 131.105 triệu đồng. Năm 2001 nguồn vốn băng ngoại tệ
của ngân hàng rất dồi dào, đây là điều kiên hết sức thuận lợi cho ngân
hàng trong hoạt động tài trợ cho ngoại thơng.
Nói chung nguồn vốn huy động ở ngân hàng công thơng Hoàn
kiếm thờng cao hơn các ngân hàng khác và cao hơn so với nhu cầu cho
vay. Hàng năm, ngân hàng thờng không sử dụng hết vốn huy động và
phải điều chuyển về ngân hàng công thơng trung ơng hay điều chuyển
đến các chi nhánh khác chứ không rơi vào tình trạng khó khăn thiếu vốn
nh ở một số ngân hàng khác.
b. Công tác sử dụng vốn.
Chất lợng và hiệu quả là vấn đề quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng thơng mại. Gần đây, sự phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng trên địa bàn Hà nội đã tạo cho
hoạt động tín dụng những thời cơ mới, trong khi đó, địa bàn quận Hoàn
kiếm rộng lớn, là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp, nhiều xí nghiệp,
nhiều trung tâm thơng mại, lại là một trong những quận trung tâm của
thành phố, rất thuận lợi cho ngân hàng công thơng Hoàn kiếm trong các
hoạt động của mình. Với những thuận lợi đó, trong những năm qua, ngân
hàng công thơng Hoàn kiếm đã không ngừng mở rộng quy mô của tín
dụng, cũng nh không ngừng nâng cao chất lợng của chúng.
Với nguồn vốn huy động lớn, thờng lớn hơn nhu cầu đầu t, ngân
hàng công thơng Hoàn kiếm đã không ngừng tìm kiếm cơ hội đầu t cho
vay, khối lợng tín dụng cung cấp cho nền kinh tế ở ngân hàng đã không
ngừng tăng qua các năm.
25