CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG
DOANH NGHIỆP
I. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI
CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP.
1.1.Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp và các mối quan hệ tài chính
chủ yếu của doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính là một trong những hoạt động sản xuất , kinh doanh
trong doanh nghiệp được biểu hiện bằng hình thái tiền tệ nhằm giải quyết các
mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Nói cách khác, trên giác độ kinh doanh vốn hoạt động tài chính là những
mối quan hệ tiền tệ gắn liền với việc tổ chức , huy động và sử dụng vốn một cách
có hiệu quả.
Hoạt động tài chính nhằm đảm bảo thực hiện các vấn đề tài chính trong
quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như:
- Đảm bảo nguồn tài chính của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có thể
tiến hành hoạt động kinh doanh bình thường.
-Huy động vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh với chi phí nhỏ nhất.
-Đảm bảo việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả.
-Nhằm tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp.
-Qua hoạt động tài chính có thể tiến hành phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp cũng như hoạch sách tài chính cho tương lai.
Và nhiệm vụ của hoạt động tài chính này nhằm giải quyết một số câu hỏi
như:
1 1
-Nguồn đầu tư vào đâu và như thế nào.
-Nguồn tài trợ cho tài chính của doanh nghiệp lâý từ đâu...
Căn cứ vào hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp trong môi trường
kinh tế xã hội có thể thấy quan hệ tài chính của doanh nghiệp rất phong phú và đa
dạng, xuyên suốt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
Quan hệ này phát sinh trong quá trình cấp phát vốn trao đổi hàng hoá ,
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cuối mỗi kỳ báo cáo, chúng ta phải tổng kết đánh
giá tình hình tài chính của doanh nghiệp để tìm ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn, cải thiện tình hình tài chính.
1.2.Sự cần thiết phải phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động tài chính là việc miêu tả các mối quan hệ mật thiết
giữa các khoản mục và nhóm khoản mục trên báo cáo tài chính để xác định được
cácchỉ tiêu cần thiết phục vụ cho các nhà doanh nghiệp và các đối tượng khác
trong việc ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của đối tượng đó.
Dựa vào các báo cáo tài chính, các đối tượng quan tâm đến tình hình tài
chính sẽ có thể tiến hành phân tích và đưa ra nhưỡng quyết định quản lý của
3 3
mình, nhằm hoạch định những chính sách cũng như đánh giá hiệu quả kinh
doanh.
Mục tiêu phân tích đối với các doanh nghiệp nói chung.
Việc phân tích tình hình chính đối một doanh nghiệp nhằm đáp ứng các
mục tiêu sau đây:
-Cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin kinh tế cần thiết cho
chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính để giúp họ có những
quyết định đúng đắn khi tiến hành tham gia mối quan hệ kinh tế với doanh
nghiệp.
-Cung cấp thông tin về tình hình công nợ, khả năng tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá khả năng sinh lợi, cũng như tình hình ảnh hưởng làm thay đổi điều kiện kinh
doanh giúp chủ doanh nghiệp dự đoán tình hình và có hướng đi trong tương lai.
-Cung cấp thông tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng khai thác, thanh
toán và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp giúp cho việc khắc
phục những sai sót, phát huy những ưu điểm trong quá trình hoạt động kinh
doanh.
Mục tiêu của việc phân tích đối với các đối tượng kinh tế khác bên ngoài
doanh nghiệp.
Trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, sẽ bao gồm
Nội dung phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp tập trung vào các vấn
đề:
1.Đánh giá khái quát tình hình tài chính.
2.Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất-
kinh doanh.
3.Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán.
5 5
4.Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh.
5.Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
6.Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính.
7.Phân tích tình hình và khả năng thanh toán.
8.Phân tích hiệu quả và khả năng sinh lời của quá trình kinh doanh.
9.Phân tích tốc độ chu chuyển của vốn lưu động
Hình thức phân tích.
Phân tích hoạt động tài chính trong doanh nghiệp có thể tiến hành qua 3
hình thức phân tích.
-Phân tích trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh: Nhằm mục đích dự
doán các mục tiêu có khả năng đạt được trong tương lai để từ đó có thể lường
trước được những khó khăn về tài chính trước khi chúng xảy ra.
-Phân tích trong quá trình kinh doanh:Nhằm xác định kết quả thực hiện và
điều chỉnh kịp thời để hướng đến đạt được các mục tiêu.
-Phân tích sau quá trình kinh doanh: Nhằm xác định kết quả thực hiện so
với mục tiêu đề ra, và để lập tiếp các chỉ tiêu cho tương lai.
Phương pháp phân tích.
Có rất nhiều phương pháp để tiến hành phân tích tình hình hoạt động và
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Song, trong tất cả các phương pháp thì
phương pháp so sánh được dùng nhiều hơn cả. Khi tiến hành phân tích theo
phương pháp này thì ta sẽ xác định được xu hướng phát triển và mức độ biến
động dành cho các chỉ tiêu kinh tế.Theo phương pháp này thì phải giải quyết các
vấn đề cơ bản sau:
Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần: Phần tài sản và phần nguồn
vốn.
Phần tài sản:Các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản
hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức
tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được
phân chia như sau:
A: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.
B: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
Về mặt ý nghĩa kinh tế: Qua xem xét phần tài sản cho phép đánh giá tổng
quát năng lực và trình độ sử dụng tài sản.
Về mặt ý nghĩa pháp lý: Thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản
lý và sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai.
Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo.Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý
của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng của doanh nghiệp.
Nguồn vốn được chia ra:
A: Nợ phải trả.
B: Nguồn vốn chủ sở hữu.
Mỗi phần của bảng cân đối kế toán đều được phản ánh theo 3 cột: Mã số, số
đầu kỳ, số cuối kỳ.
Về mặt ý nghĩa kinh tế: Người sử dụng thấy được thực trạng kinh tế của
doanh nghiệp.
8 8
Về mặt ý nghĩa pháp lý: Người sử dụng bảng cân đối kế toán thấy được
trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh , về số
tài sản được hình thành từ các nguồn vay ngân hàng, vay của các đối tượng
khác....Cũng như trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ với người lao động,
với Nhà nước, với nhà cung cấp...
Hai phần của bảng cân đối kế toán là tài sản và nguồn vốn có tổng số bao
giờ cũng bằng nhau, cụ thể như sau:
Các tài khoản này luôn có số dư bên có của tài khoản tương ứng. Nhưng khi
lập bảng cân đối kế toán được phản ánh ở phần tài sản và được ghi bằng số âm.
.Đối với các chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn được ghi bằng cách lấy số
dư của các tài khoản cấp I hoặc cấp II tương ứng để ghi (các tài khoản này có số
dư Có) nhưng riêng chỉ tiêu chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỉ giá và lãi
chưa phân phối thì các chỉ tiêu này liên quan đến các tài khoản tương ứng như
tài khoản 412, tài khoản 413, tài khoản 421 có cả dư Nợ và dư Có, nên khi trình
bầy các chỉ tiêu này với số dư bên nợ thì sẽ được ghi bên phần nguồn vốn với số
âm.
.Đối với các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán thì được ghi theo sổ
các tài khoản tương ứng.
(Bảng cân đối kế toán phần phụ lục).
Bảng cân đối kế toán tuy là báo cáo quan trọng nhất trong các báo cáo tài
chính nhưng nó chỉ phản ánh một cách tổng quát tình hình tài sản của doanh
10 10
nghiệp và nó cũng không cho biết kết quả hoạt động kinh doanh trong kì như các
chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận. Như vậy để biết thêm các chỉ tiêu đó chúng
ta cần xem xét trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
1.4.2.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
1.4.2.1.Bản chất và ý nghĩa của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản
ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kì kế toán của doanh
nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác; tình hình
thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác.
1.4.2.2.Nội dung và kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Báo cáo gồm ba phần chính: Phần I - Lãi, lỗ; Phần II
- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước; Phần III - Thuế GTGT được
khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán
nội địa.
Phần I. Lãi lỗ: Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của
-Doanh nghiệp đã bằng cách nào kiếm được tiền và chi tiêu như thế nào.
-Quá trình đi vay và trả nợ của doanh nghiệp.
-Quá trình mua bán lại chứng khoán vốn của doanh nghiệp và của các
doanh nghiệp khác.
12 12
-Quá trình thanh toán cổ tức và các quá trình phân phối khác cho chủ sở
hữu và cho các đối tượng khác.
-Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Như vậy, qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ những người quan tâm đến doanh
nghiệp sẽ biết được những hoạt động nào là hoạt động chủ yếu tạo ra tiền và đã
được sử dụng vào những mục đích gì và việc sử dụng đó đã hợp lý hay không?.
1.4.3.2.Kết cấu.
Trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện tình hình của 3 hoạt động chủ yếu
mà có khả năng biến đổi dòng tiền, được thể hiện như sau:
-Hoạt động sản xuất kinh doanh.
-Hoạt động đầu tư.
-Hoạt động tài chính.
Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động chủ yếu, gắn với chức năng
hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm các dòng thu và chi liên quan đến quá trình
hoạt động, sản xuất, kinh doanh trong kì hạch toán.
Hoạt động đầu tư:Bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc mua sắm và
bán tài sản cố định ngoài niên hạn( dài hạn).
Hoạt động tài chính: Bao gồm các hoạt động liên quan đến vốn chủ sở
hữu(vốn quỹ) của doanh nghiệp.
Căn cứ vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ mà người ta tiến hành phân tích các
dòng tiền . Qua việc phân tích này để thấy dòng tiền đó thuộc hoạt động nào và
hiệu quả của hoạt động đó.
1.4.3.3.Phương pháp lập.
-Theo phương pháp trực tiếp:
13 13
1.4.4.1.Bản chất và ý nghĩa.
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo
tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong
kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng chi tiết.
1.4.4.2.Kết cấu.
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp; nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp áp
dụng; tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn gốc vốn
quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉ tieu theo nội dung đã quy định
trong thuyết minh báo cáo tài chính , ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể trình bày
thêm các nội dung khác nhằm giải thích chi tiết hơn tình hình và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
1.4.4.3.Phương pháp lập.
Nguyên tắc chung:
-Trình bày gắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu ở phần trình bày bằng lời.Với phần số
liệu thì phải thống nhất với số liệu trên các báo khác.
-Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại
doanh nghiệp phải thống nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có gì thay đổi phải
trình bày rõ ràng lý do thay đổi.
-Trong các biểu số liệu, cột kế hoạch thể hiện số liệu kế hoạch của kỳ báo
cáo ; cột số thực hiện kỳ trước thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo cáo.
-Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ
sử dụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm.
15 15
Trong thuyết minh báo cáo tài chính phải thể hiện các chỉ tiêu sau:
-Chi phí sản xuất , kinh doanh theo yếu tố: Chỉ tiêu này phản ánh toàn
bộ chi phí sản xuất , kinh doanh phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp , bao gồm
thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp là khả quan hay không khả
quan.
Trước hết, cần tiến hành so sánh tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn giữa
cuối kỳ với đầu năm. Bằng các này sẽ thấy được quy mô vốn mà đơn vị sử dụng
trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Cần lưu ý là số tổng
cộng của “ Tài sản” và “ Nguồn vốn” tăng, giảm do nhiều nguyên nhân nên chưa
thể biểu hiện đầy đủ tình hình tài chính của doanh nghiệp được. Như vậy, cần đi
sâu phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong “Bảng cân đối kế toán”.
-Hệ số tài trợ (hay còn gọi là hệ số tự tài trợ):
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số tài trợ
Tổng số nguồn vốn
Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính của
doanh nghiệp, nó cho biết vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số
nguồn vốn. Chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng càng cao trong tổng số nguồn vốn và càng
cao so với kỳ trước, chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp
càng cao bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số
vốn của mình.
-Hệ số thanh toán hiện hành:
Tổng số tài sản
Hệ số thanh toán hiện hành =
Tổng số nợ phải trả
Hệ số thanh toán hiện hành là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng
thanh toán tổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này có vai trò
17
=
17
quan trọng trong việc xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp . Nếu doanh
nghiệp có chỉ số này luôn lớn hơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được
khả năng thanh toán và ngược lại.
nghiệp quá nhiều, bảo đảm thừa khả năng thanh toán; còn nếu nhỏ hơn 0,1 thì
doanh nghiệp lại không đủ tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn.
-Hệ số thanh toán nợ dài hạn:
Giá trị còn lại của TSCĐ hình thành bằng
nguồn vốn vay dài hạn hoặc nợ dài hạn
=
Tổng số nợ dài hạn
Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ
dài hạn bằng nguồn vốn khâú hao tài sản cố định mua sắm bằng nguồn vốn vay
dài hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Hệ số thanh toán nợ dài hạn >=1, doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ
dài hạn bằng nguồn vốn khấu hao tài sản cố định mua sắm bằng nguồn vốn vay
dài hạn, ngược lại nếu hệ số này càng nhỏ hơn 1 càng chứng tỏ khả năng thanh
toán nợ dài hạn của doanh nghiệp thấp, doanh nghiệp buộc phải dùng các nguồn
vốn khác để trả nợ.
Ngoài các chỉ tiêu trên, khi phân tích cần xem xét chỉ tiêu Vốn hoạt động
thuần( Vốn luân chuyển thuần).
Vốn hoạt động Tổng giá trị thuần Tổng số nợ
= -
thuần của giá tri tài sản lưu động ngắn hạn
Một doanh nghiệp muốn không bị hoạt động gián đoạn thì cần thiết phải
duy trì một mức vốn hoạt động thuần hợp lý để thảo mãn việc thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn và dự trữ hàng tồn kho.
Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng thanh toán
càng cao, ngược lại thì doanh nghiệp sẽ mất dần khả năng thanh toán.
19
Hệ số thanh toán
nợ d i hà ạn
19
2.1.2. Phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
chiếm dụng.
+ Vế trái < Vế phải:
Do thiếu nguồn vốn để trang trải tài sản nên chắc chắn doanh nghiệp phải
đi vay hoặc chiếm dụng vốn từ bên ngoài.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, khi nguồn vốn chủ sở hữu không
đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh thì doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sung
vốn kinh doanh. Loại trừ các khoản vay quá hạn thì các khoản vay ngắn hạn, dài
hạn( của ngân hàng hay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước) chưa đến
hạn trả, dùng cho mục đích kinh doanh đều được coi là nguồn vốn hợp pháp. Do
vậy, về mặt lý thuyết, lại có quan hệ cân đối (2) sau đây:
B.NGUỒN VỐN + A.NGUỒN VỐN [ I (1,2) + II ] = A.TÀI SẢN [I + II + IV
(2,3) + VI ] + B.TÀI SẢN [ I + II +III ] (2)
Cân đối (2) hầu như không xẩy ra mà trên thực tế, thường xẩy ra một trong
hai trường hợp:
+Vế trái > Vế phải:
Trong trường hợp này, do không sử dụng hết nguồn vốn nên nguồn vốn dư
thừa của doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng.
+ Vế trái < Vế phải:
Ngược với trường hợp trên, trong trường hợp này, do thiếu nguồn bù đắp
ch tài sản kinh doanh nên doanh nghiệp buộc phải đi chiếm dụng vốn.
Mặt khác, do tính cân bằng của bảng cân đối kế toán, tổng số tài sản luôn
luôn bằng tổng số nguồn vốn nên cân đối (2) có thể viết lại như sau:
[A.I (1,2), II + B ]. NGUỒN VỐN + [ A.I (3,4,...,80, III ].
NGUỒN VỐN =[ A.I,II,III,IV,V (2,3), VI + B.I,II,III ] .TÀI SẢN + [A.
21 21
III,V (1,4,5) + B. IV ] . TÀI SẢN (3)
Biến đổi cân đối (3) ta có:
[A.I (1,2),II + B ] . NGUỒN VỐN - [A.I,II,III,IV.V (2,3), VI + B.I,
II,III ] .TÀI SẢN = [A.III,V(1,4,5) + B.IV ] .TÀI SẢN - [A.I (3,4,..,8),
III ] . NGUỒN VỐN (4)
nợ( ngân hàng, nhà cung cấp...) là cao. Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ
yếu trong tổng số nguồn vốn (cả về số tuyệt đối và tương đối) thì khả năng đảm
bảovề mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp.
Để tiến hành phân tích cơ cấu nguồn vốn ta cần lập bảng “Phân tích cơ cấu
nguồn vốn”.
( Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn phần phụ lục).
2.2.Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh .
2.2.1.Phân tích tổng quát báo cáo kết quả kinh doanh.
Để kiểm soát các hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp cần xem xét tình hình biến động của các khoản mục trong báo cáo kết quả
kinh doanh. Khi phân tích cần tính ra và so sánh mức và tỷ lệ biến động giữa kì
phân tích so với kì gốc trên từng chỉ tiêu trong phần I “Lãi, lỗ” của báo cáo “Kết
quả kinh doanh”. Như vậy, người phân tích sẽ biết được tình hình biến động cụ
thể của từng chỉ tiêu liên quan đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn
nữa, chúng ta cần so sánh từng chỉ tiêu trên với doanh thu thuần( coi doanh thu
thuần là gốc). Thông qua việc so sánh này, người sử dụng thông tin sẽ biết được
hiệu quả kinh doanh trong kì của doanh nghiệp so với các kì trước là tăng hay
giảm hoặc so với các doanh nghiệp khác là cao hay thấp.
Có thể lập bảng phân tích tổng quát báo cáo “Kết quả kinh doanh”.
( Bảng phân tích tổng quát báo cáo kết quả kinh doanh phần phụ lục).
2.2.2.Phân tích phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước” của
báo cáo “Kết quả kinh doanh”.
Việc phân tích được thực hiện bằng cách so sánh cả về số tuyệt đối và
tương đối giữa cuối kì với đầu kì trên tổng số các khoản phải nộp Nhà nước cũng
23 23
như từng khoản phải nộp.Nếu cuối kì giảm so với đầu kì cả về số tuyệt đối và số
tưong đối chứng tỏ doanh nghiệp chấp hành tốt kỉ luật thanh toán với Ngân sách
Nhà nước , không dây dưa, chây ì và ngược lại.Bên cạnh đó cần so sánh số phải
nộp Ngân sách Nhà nước trong kì nay với số phải nộp trong các kì trước trên
từng khoản thuế, phí, lệ phí cũng như tổng số các khoản nghĩa vụ về cả số tuyệt
chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính”.Việc so sánh này sẽ cho biết được mức
độ ảnh hưởng của lượng tiềnlưu chuyển thuần trong từng hoạt động đến chỉ tiêu
“Lưu chuyển tiền thuần trong kì”.
Cuối cùng đi sâu so sánh tình hình biến động của từng mục. khoản mục
trong từng hoạt động đến lượng tiền lưu chuyển giữa kì này với kì trước. Qua đó,
nêu các nhận xét và kiến nghị thích hợp để thúc đẩy lượng tiền lưu chuyển trong
từng hoạt động.
Có thể lập bảng phân tích sau đây:
(Bảng phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ phần phụ lục).
25
x 100=
Tỷ trọng tiền tạo
từ hoạt động kinh
doanh so với tổng
lượng tiền lưu
chuyển trong kỳ
25