MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
ST
T
Tên
Trang
1
Hình 2.1: Các loại rủi ro trong ngân hàng
4
2
Hình 2.2 Các loại rủi ro trong ngân hàng
5
3
Hình 2.3: Các hình thức rủi ro tín dụng
8
2
Khái niệm rủi ro
Theo ISO/IEC Guide 73 :
“ Rủi ro được định nghĩa là tổ hợp tất cả các sự kiện có khả năng xảy ra
và hậu quả của nó”.1
Trong lĩnh vực kinh doanh, rủi ro là những thiệt hại vô hình và nằm ngoài khả
năng kiểm soát của đơn vị kinh doanh.
1.2
Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi.
Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã làm đa dạng hoá các thành phần
kinh tế, tạo sự bình đẳng trong hoạt động của các thành phần này và thúc đẩy sự cạnh
tranh lẫn nhau một cách lành mạnh.
Rủi ro tuy là sự bất trắc gây thiệt hại không mong đợi song lại là hiện tượng
đồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnh
tranh. Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triển
kinh tế. Rủi ro vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế không
có hiệu quả. Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên của các doanh nghiệp yếu
kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, thích nghi của các doanh nghiệp, tạo xu hướng phát triển
ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng
Thương mại cũng không nằm ngoài sự tác động trên. Thậm chí, với hoạt động ngân
hàng, hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào của ngân hàng
1“ Risk can be defined as the combination of the probability of an event and its consequences”.
4
rủi ro luật pháp
rủi ro hàng hóa
rủi ro hoạt động
rủi ro thanh khoản
rủi ro tín dụng
rủi ro tiền tệ
Nguồn: Matthews K. and Jompson J. et al.,p.210
6
Theo cách phân loại của Besis (2002)
Hình 2.2 Các loại rủi ro trong ngân hàng
tín dụng
lãi suất
thị trường
rủi ro ngân hàng
thanh khoản
chắn, vì vậy ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng.
Do đó rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của
ngân hàng. Theo Nguyễn Văn Tiến (2012) :
“ rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được
đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán gốc và lãi không
đúng kỳ hạn”.
Hoặc có thể hiểu “rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính ( trực tiếp hoặc
gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam
kết hoặc mất khả năng thanh toán”. ( theo quan điểm của Hồ Diệu , 2002).
.1.2
Nguyên nhân rủi ro tín dụng
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng được Pavla Vodová (2003) chia ra làm 3
nguyên nhân chính: nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân từ phía ngân hàng
và các nguyên nhân khách quan khác từ môi trường bên ngoài.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng:
+ Khả năng quản lý doanh nghiệp kém: Hiện nay khách hàng của ngân
hàng vẫn còn một phần lớn là các doanh nghiệp nhà nước có tài sản thế chấp đủ
tiêu chuẩn nhưng lại có khả năng quản lý kinh doanh kém. Không chỉ có các
doanh nghiệp Nhà nước mà các doanh nghiệp quốc doanh cũng chưa có sự chú
trọng đúng mức đến việc nâng cao trình độ của bộ máy quản lý. Đây cũng là
một nguyên nhân không nhỏ dẫn đến nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng cho ngân
hàng.
8
+ Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Ngoài
việc ghi chép đầy đủ, chính xác các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh
Các hình thức rủi ro tín dụng: theo quan điểm của Besis (2002), rủi ro tín dụng
bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.2
Hình 2.3 Các hình thức rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Rủi ro lựa chọn
Rủi ro bảo đảm
Rủi ro danh mục
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nội tại
Rủi ro tập trung
Nguồn: Joel Bessis, 2002, p. 13-14
-
Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân
tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiêu quả để
ra quyết định cho vay.
Định nghĩa
Rủi ro thanh khoản được định nghĩa ( Karaviti Stavroula, 2009) như sau:
“ Rủi ro thanh khoản liên quan tới việc ngân hàng không có khả năng
cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho các giao dịch hằng ngày”.3
Theo Nguyễn Văn Tiến (2012) : “ Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng
không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn
bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp”. Rủi ro thanh khoản xảy ra
3Liquidity risk is referred to the bank.s inability to make its daily money transactions.
11
khiên cho ngân hàng phải đình trệ hoạt động, gây thua lỗ, mất uy tín và nếu nghiêm
trọng có thể dẫn đến phá sản.
.2.2
Nguyên nhân rủi ro thanh khoản
Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản:
- Nguyên nhân tiền đề (Nguyễn Văn Tiến, 2012) bao gồm 3 nguyên nhân:
+ Thứ nhất, ngân hàng huy động và đi vay vốn thời hạn ngắn, sau đó cứ
tuần hoàn chúng để cho vay thời hạn dài hơn. Do đó, nhiều ngân hàng phải đối mặt với
sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ. Thật hiếm khi
luồng tiền ròng bên tài sản có lại vừa khít để trang trải luồng tiền ròng bên tài sản nợ.
Trong thực tế, ngân hàng luôn có một tỷ lệ đáng kể tài sản nợ phải được hoàn trả tức
thời như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn, do đó ngân
hàng phải luôn sẵn sàng thanh khoản.
+ Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất. Khi lãi
suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao
cuối cùng của ngân hàng.
.3
.3.1
Rủi ro ngoại hối
Định nghĩa
Trong môi trường toàn cầu hóa tài chính - tiền tệ - ngân hàng như ngày nay,
kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của ngân hàng nhằm phục vụ cho
nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu
hoạt động thuận lợi. Nhà quản trị ngân hàng hàng ngày càng phải đối mặt nhiều hơn
với rủi ro hối đoái.
“ Rủi ro hối đoái là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá hối đoái và
bắt nguồn từ sự không phù hợp giữa giá trị của các tài sản và nợ phải trả có gốc tiền
tệ khác nhau”(Grath, 2008).
.3.2
Nguyên nhân rủi ro hối đoái
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro hối đoái (Nguyễn Văn Tiến, 2012):
13
- Về bản chất kinh doanh ngoại hối tự nó chưa đựng rủi ro rất cao. Ngoài các rủi
ro thông thường mà các hoạt động khác cũng phải đối mặt như: rủi ro tín dụng, rủi ro
thanh khoản,… thì kinh doanh ngoại hối còn chịu thêm một rủi ro đặc biệt, đó là rủi ro
tỷ giá. Do tỷ giá biến động thường xuyên và vô lối, nên rủi ro tỷ giá được xem là rủi ro
thường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại hối
của các ngân hàng.
- Nhà kinh doanh ngoại hối chỉ chịu rủi ro tỷ giá khi duy trì trạng thái ngoại hối
Nguyên nhân rủi ro lãi suất
Theo Nguyễn Văn Tiến (2012):
“ Rủi ro lãi suất phát sinh đối với ngân hàng khi kỳ hạn đến hạn của tài
sản có không cân xứng với kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ”.
Quá trình chuyển hóa tài sản là một chức năng đặc biệt cơ bản của ngân hàng.
Quá trình chuyển hóa tài sản bao gồm: (i) việc mua các chứng khoán sơ cấp, tức là sử
dụng vốn; và (ii) phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức huy dộng vốn. Kỳ hạn và mức
độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có
thường không cân xứng với các chứng khoán sơ cấp thuộc tài sản nợ. Sự không cân
xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro
khi lãi suất thay đổi.
.5
Tầm quan trọng của việc nghiên cứu rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Theo Karaviti Stavroula ( 2009):
- Rủi ro trong hoạt động ngân hàng đa dạng tùy thuộc vào nguồn gốc phát sinh.
Một vài rủi ro xuất phát từ chức năng truyền thống của ngân hàng như là một trung
gian tài chính, một số rủi ro khác bắt nguồn từ những hoạt động phức tạp hơn.
- Mặc dù rủi ro được phân loại riêng rẽ như ở trên, tuy nhiên chúng lại phụ
thuộc vào nhau. Ví dụ, một sự gia tăng của tỷ giá hoặc tỷ lệ lãi suất làm giảm giá trị
thực của tài sản và làm tăng rủi ro vỡ nỡ của người đi vay( ví dụ người đi vay đầu tư
bất động sản), tức là làm tăng rủi ro tín dụng. Điều này cho việc đo lường rủi ro phức
tạp.
Các ngân hàng phải tính toán được lợi nhuận dự tính và ước lượng được tầm
thiệt hại của các loại rủi ro được liệt kê ở trên để đảm bảo chắc chắn rằng sẽ đạt được
mục tiêu hội đồng quản trị đã đề ra.
16
dụng được chia làm 4 giai đoạn: quá trình thẩm định, giám sát khách hàng vay,
thu nợ và dự đoán được rủi ro trong quá trình cho vay.
- Phân tán rủi ro
+ Không nên tập trung cho vay một vài lĩnh vực, khu vực vì khi đó ngân
hàng sẽ chịu ảnh hưởng của các yếu tố, khuynh hướng vận động của các khu
vực đó ( về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội).
+ Ngân hàng thương mại không nên dồn vốn đầu tư vào một vài khách
hàng vì nếu khách hàng đó gặp khó khan trong kinh doanh thì ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt dộng của ngân hàng thương mại đó. Do đó, cần phải tôn trọng giới hạn
an toàn. Bất kỳ một khoản vay nào vượt giới hạn quy định so với vốn của ngân
hàng đều có thể rơi vào trạng thái rủi ro.
+ Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh là nhân tố hết sức quan trọng trong
điều kiện nền kinh tế thị trường đầy biến động. Việc đa dạng hóa hoạt động kinh
doanh sẽ phân tán được rủi ro cho các ngân hàng.
+ Cho vay hợp vốn là để cung cấp các khoản vay tín dụng lớn mà một
ngân hàng khó có đủ khả năng cho vay, khó xác định mức rủi ro, mạo hiểm.
Việc các ngân hàng tham gia cho vay hợp vốn sẽ giúp cho các ngân hàng có thể
san sẻ rủi ro.
+ Bảo hiểm tín dụng có thể được thực hiện dưới các loại bảo hiểm hoạt
động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền vay…
+ Lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp các khoản cho vay bị rủi ro.
- Duy trì quan hệ khách hàng lâu dài : điều này có thể giảm chi phí tập
hợp thông tin, sàng lọc thông tin và ngân hàng tránh được việc lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đức từ phía khách hàng
- Thực hiện tốt các hình thức đảm bảo tín dụng ( Cầm cố , thế chấp , bảo
lãnh…)
Biện pháp làm giảm rủi ro hối đoái
18
Rủi ro hối đoái là loại rủi ro biến động của tỷ giá hối đoái. Để giảm rủi ro biến
động của tỷ giá hối đoái người ta thường sử dụng các biện pháp sau:
- Hợp động ngoại hối kỳ hạn : là sự thỏa thuận giữa hai bên để mua hay bán một
lượng ngoại tệ nhất định, tại một tỷ giá cố định, tại một thời điểm xác định trong tương
lai (Nguyễn Văn Tiến, 2012).
Hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn nhằm tránh rủi ro về tỷ giá. Việc tránh
những rủi ro về tỷ giá được thể hiện ở chỗ những khoản ngoại tệ trong tương lai người
ta mới cần đến và mới không phải tính bằng giá mua bán ngay thời điểm mà tỷ giá đó
được xác định ngay khi hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận.
Các điều kiện của hợp đồng tương lai có thể dễ được xem xét lại khi cần thiết.
- Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là một công cụ tài chính, cho phép người mua
hợp đồng có quyền (chứ không phải nghĩa vụ), mua hoặc bán một đồng tiền này với
một đồng tiền khác tại tỷ giá cố định đã thỏa thuận trước tại một thời gian nhất định
trong tương lai.
- Đa dạng hóa nguồn vốn ngoại tệ của ngân hàng
Ngoài các biện pháp trên, ngân hàng còn có thể áp dụng biện pháp lựa chọn
ngoại tệ, bảo hiểm ngoại tệ để giảm rủi ro hối đoái.
.4
Biện pháp làm giảm rủi ro thanh khoản
Theo Barfield, R. and Venkat, S. (2009) để giảm rủi ro thanh khoản, ngân hàng
thường phải thực thi các giải pháp sau:
- Tính toán nhu cầu khả năng thanh toán: Để tính được khả năng thanh toán đòi
phòng tránh, hạn chế rủi ro.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A.
Tài liệu trên mạng
Thư viện học liệu mở Việt Nam. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng. trực
tuyến tại , truy
cập [ ngày 24/07/2014].
B.
Tài liệu bằng văn bản
I, Trong nước:
1, Nguyễn Văn Tiến (2012). Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất
bản thống kê, Hà Nội.
2, Hồ Diệu (2002). Tín dụng ngân hàng. Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
II, Nước ngoài:
1, Asare-Bekoe, K. M. (2010). A risk based assessment of ecobank
Ghana limited. Master of Science, Copenhagen Business School.
2, Barfield, R. and Venkat, S. (2009). Liquidity risk management. UK:
PricewaterhouseCoopers.
3, Grath, A. (2008). The handbook of International trade and finance.
London and Philadelphia, Kogan Page.
4, Iacobescu Manta, A. G. (2009). Risk management in banking. PhD,
University of Craiova, Faculty of Economics and Business Adminstration.
5, Matthews, K. and Thompson, J. (2008) .The Economics of Banking.2nd