Tiểu luận rủi ro trong hoạt động của ngân hàng quốc tế - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
------**------

RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ

Lớp
Giảng viên

: QH 2014 E - TCNH3
: TS. Đinh Xuân Cường

Hà Nội, 11/2015
1


DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5
STT

Mã học viên

Họ và tên

Ngày sinh

1

14057040

Nguyễn Thị Hà


Đoàn Phương Ngân

09/11/1989

6

14057063

Bùi Trần Hồng Ngọc

18/03/1985

2


MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và hội nhập tài chính quốc tế nói riêng là một xu thế
tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay.
Không nằm ngoài xu thế đó, Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế,
tài chính quốc tế và khu vực.
Trong quá trình hội nhập đó, hệ thống các ngân hàng thương mại luôn giữ vai trò là cầu
nối quan trọng nhất giữa nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế. Hội nhập tài chính
quốc tế một mặt đem lại nhũng cơ hội cho các ngân hàng thương mại thông qua việc tiếp thu
các cồng nghệ tài chính hiện đại, da dạng hóa danh mục đầu tư, tiếp cận nhiều nguồn vốn đa
dạng, và mở rộng phạm vi kinh doanh. Mặt khác, các ngân hàng thương mại cũng phải đối
mặt với nhiều rủi ro hon do những thay đổi của môi trường kinh doanh, những thay đổi của
cấu trúc trong hệ thống ngân hàng, áp lực canh tranh từ các ngân hàng nước ngoài, cũng nhu
những rủi ro phát sinh từ chính quá trình đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ và mở rộng
phạm vi hoạt động của các ngân hàng thương mại. Rủi ro gia tăng sẽ ảnh hưởng đến sự an
toàn và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng.

động của ngân hàng, giám sát các hoạt động gây rủi ro của ngân hàng, cung cấp hệ thống hỗ
trợ cần thiết để thực thi hoạt động kiểm soát nội bộ.
- Sự cần thiết kiểm soát và quản trị rủi ro
Đánh giá độ rủi ro trong hoạt động để giảm thiểu khả năng giảm lợi nhuận, mất khả
năng thanh toán.
Gia tăng tầm quan trọng của quy định quốc tế đối với các hệ thống kiểm soát và quản
trị rủi ro.
2.1. KIỂM SOÁT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG
2.1.1. Khái niệm rủi ro thị trường
- Khái niệm: Rủi ro thị trường (RRTT) trong hoạt động ngân hàng là rủi ro tiềm ẩn
gây ra tác động tiêu cực đối với thu nhập hoặc vốn của ngân hàng thương mại (NHTM) do
những biến động bất lợi của các yếu tố trên thị trường như: lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán,
giá hàng hóa…
- Phân loại:
+ Rủi ro lãi suất: thường xảy ra khi có sự biến động lớn về lãi suất đầu vào và đầu ra,
sự chênh lệch giữa các mức lãi suất huy động lớn cũng như chênh lệch giữa các kỳ hạn huy
động và kỳ hạn đầu tư, cho vay ra thị trường. Nói chung, RRLS xảy ra khi có sự không cân
xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.
+ Rủi ro tỷ giá (biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường): Tài sản Nợ và Có của
ngân hàng và các dòng tiền quy đổi thành các đồng tiền khác nhau ảnh hưởng tới lợi nhuận
và khả năng trả nợ của hệ thống ngân hàng.
4


-

-

-


- Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng lên, chi phí cho
hoạt động ngân hàng cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi lạm phát
cao thì thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người cho vay.
- Rủi ro lãi suất cũng có thể xảy ra do trình độ thấp kém, bị thua thiệt trong việc cạnh
tranh lãi suất ở thị trường hoặc do nhiều yếu tố của nền kinh tế tác động đến lãi suất như
cung, cầu, yếu tố khác của thị trường... Khi ngân hàng có quyết định điều chỉnh lãi suất theo
hướng giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn trả, tức là khoản tiền gửi có kỳ
hạn lại không giảm tương ứng, nên cũng dẫn đến rủi ro lãi suất.
2.1.3. Rủi ro tỷ giá
Khái niệm:
5


-

-

-

-

-

Rủi ro tỷ giá là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ.
Một số rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp:
Rủi ro thị trường: khi thị trường xảy ra các biến động: Hoạt động ngoại hối mà đặc biệt là tỷ
giá luôn gắn liền và chịu ảnh hưởng của tình hình vĩ mô nền kinh tế, đặc biệt là tình hình
biến động lãi suất, xuất nhập khẩu,… những nhân tố này có tác động rất lớn đến sự biến động
của tỷ giá hối đoái.

Quy trình quản trị RRTT
Để quản trị RRTT có hiệu quả, NHTM đều tuân thủ các bước cơ bản :

6


Nhận diện rủi ro: Nhằm xác định các loại rủi ro và đặc tính của từng loại rủi ro mà
ngân hàng đang phải đối mặt
- Đối với lãi suất: phải có một tập hợp các yếu tố gây rủi ro tương ứng với lãi suất của từng đồng
tiền mà ngân hàng có trạng thái nội hay ngoại bảng chịu tác động của lãi suất.
- Đối với tỷ giá: hệ thống đo lường rủi ro cần tính tới các yếu tố gây rủi ro tương ứng
với từng ngoại tệ riêng lẻ mà ngân hàng có nắm giữ trạng thái. Do các con số về giá trị rủi
ro được tính toán bởi các hệ thống đo lường rủi ro được thể hiện bằng đồng bản tệ nên các
trạng thái ròng được ghi bằng ngoại tệ có thể gặp phải rủi ro hối đoái. Vì vậy, cần có các
yếu tố gây rủi ro tương ứng với tỷ giá giữa đồng nội tệ và từng ngoại tệ mà ngân hàng có
nắm giữ một trạng thái đáng kể.
Đo lường rủi ro: Nhằm lượng hóa mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập/vốn của
ngân hàng. Đây là một khâu rất quan trọng trong quy trình quản lý rủi ro. Nếu như ngân hàng
không đo lường được rủi ro thì cũng sẽ không thể kiểm soát được nó.
• VAR là một kỹ thuật thống kê nhằm ước lượng mức tổn thất tối đa (với một xác suất nào đó)
đối với một danh mục đầu tư tài sản của ngân hàng trong một thời gian nhất định. Phương
pháp này chỉ ra mức lỗ tiềm năng được kỳ vọng không vượt quá một phần trăm nhất định
trên số ngày giao dịch.
• Các phương pháp đo lường Var:
- Phương pháp phương sai – hiệp phương sai (Phương pháp thông số): theo phương pháp
này VAR là một hàm số của ma trận phương sai – hiệp phương sai của giá thị trường và mức
độ
biến
đổi
về

không cho rủi ro đó lặp lại. Khác với rủi ro tín dụng hay rủi ro tác nghiệp, ngân hàng không
thể tác động hay loại bỏ được RRTT mà chỉ có thể sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để giảm
thiểu tác động của nó đến kết quả hoạt động của ngân hàng.
Sử dụng các công cụ phái sinh để che chắn RRTT
Đây là công cụ rất hiệu quả để che chắn các RRTT trong cả ngắn hạn và dài hạn. Các
công cụ ngân hàng có thể dùng bao gồm 4 loại sản phẩm phái sinh cơ bản: Giao dịch kỳ hạn
( Foward), Giao dịch hoán đổi (Swap), Giao dịch quyền chọn (Option) và các hợp đồng
tương lai (future). Vietinbank chưa sử dụng sản phẩm hợp đồng tương lai (future).
- Sử dụng giao dịch hoán đổi (Swap): Trong giao dịch hoán đổi, hai bên đối tác ký
kết thoả thuận trong đó hai bên trao đổi các luồng tiền vào những khoảng thời gian nhất định
trong tương lai.
Các hợp đồng hoán đổi được sử dụng linh hoạt có thể giúp NHTM giảm thiểu đáng kể rủi
ro lãi suất, và rủi ro hối đoái.Khi nhận định lãi suất đi lên, ngân hàng có thể mua IRS, ngược lại khi
nhận định lãi suất đi xuống, ngân hàng lại bán IRS.Đặc biệt thông qua các hợp đồng hoán đổi lãi
suất, ngân hàng thậm chí có thể tái cơ cấu toàn bộ các tài sản nợ và tài sản có để phòng ngừa rủi ro
lãi suất.
Kết quả cuối cùng của việc Ngân hàng sử dụng hợp đồng hoán đổi lãi suất là kỳ hạn
(Duration) của các TSC trong và ngoài bảng TKTS sẽ cân bằng với kỳ hạn của các TSN
trong và ngoài BTKTS, dẫn đến không còn RRLS nữa.
- Sử dụng hợp đồng quyền chọn: Giao dịch quyền chọn được thực hiện trên cơ sở
ký hợp đồng quyền chọn mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ nhất định, theo một tỷ giá đã
được xác định trước và hợp đồng sẽ được thực hiện (nhưng không bắt buộc) trong tương lai.
Như vậy, ngân hàng có thể ký kết hợp đồng quyền chọn mua hoặc bán ngoại tệ và chỉ thực
hiện hợp đồng khi thấy có lợi cho mình. Để ký kết hợp đồng này ngân hàng phải trả một
khoản phí quyền chọn, nhưng lợi nhuận có thể là không giới hạn và RRHĐ nằm trong tầm
kiểm soát của ngân hàng.
2.2.
KIỂM SOÁT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
2.2.1. Khái niệm


Sau đó nhà quản trị ngân hàng dự tính con số vay vốn tối đa tiềm năng và cần có lượng dự
trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp lý, tương đương với 100% phần chênh lệch giữa
tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng
Do đó:
Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng= ∑ Tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm X
(nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 X (quy mô cho vay tối đa tiềm
năng – tổng dư nợ hiện tại)
Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản:
Nhu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên chỉ số thanh khoản và các chỉ báo khác của
trạng thái thanh khoản, cụ thể như sau:
Chỉ số thanh khoản: đo lường tổn thất mà một ngân hàng gánh chịu khi phải bán tháo (bán
ngay lập tức) tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản so với mức giá của tài sản đó trên thị
trường (ở điều kiện bình thường). Công thức đo lường chỉ số thanh khoản được xác định như
sau:
I=∑(wi x (Pi/P*i))
Trong đó:
Wi: Tỷ trọng của tài sản thứ i trong danh mục tài sản

9


Pi: Giá bán tháo tài sản của tài sản thứ i
P*i: Giá thị trường của tài sản thứ i
Các chỉ báo trạng thái thanh khoản khác:
Chỉ số dự trữ thanh toán/ Tổng tài sản có
Tỷ lệ khả năng chi trả
Tiền đi vay/ Tổng tài sản
Chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi
Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản
Cam kết tín dụng/ Tổng tài sản

việc dự trữ tài sản thanh khoản trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được giải
quyết bằng việc vay thanh khoản
Các nhu cầu thanh khoản của ngân hàng được chia thành 3 bộ phận: nhu cầu thanh khoản
thường xuyên, nhu cầu thanh khoản thời vụ và nhu cầu thanh khoản đột xuất
+ Các nhu cầu thanh khoản thường xuyên phát sinh khá thường xuyên, đều đặn hàng ngày,
tương đối ổn định nên ngân hàng có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, các nhu cầu này
được đáp ứng bằng các tài sản có dự trữ dưới dạn tiền mặt, tiền gửi, các giấy tờ có giá có tính
thanh khoản cao
+ Các nhu cầu thanh khoản thời vụ tuy không phát sinh thường xuyên nhưng ngân hàng có
thể dự đoán và kế hoạch hóa được, do đó ngân hàng thường chủ động ký các cam kết, các
hợp đồng vay vốn trước với các tổ chức tín dụng khác, xác định trước khối lượng, thời hạn,
lãi suất phải trả... Do chủ động ký kết hợp đồng vay mượn trước nên phương án này khắc
phục được nhược điểm của 2 phương án trên
+ Các nhu cầu thanh khoản phát sinh đột xuất, bây ngờ không thể dự đoán trước được, buộc
ngân hàng phải vay mượn trên thị trường tiền tệ để đáp ứng
2.3.
KIỂM SOÁT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
2.3.1. Định nghĩa:

Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng, những
thiệt hại, mất mát mà ngân hàng gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn không
trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kể lý
do gì.
2.3.2. Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Nguyên nhân khách quan
+ Sự biến động của nền kinh tế như suy thoái kinh tế, sự không ổn định của nền kinh tế, lạm
phát gia tăng...
+ Hành lang pháp lý còn chưa đồng bộ, đầy đủ, còn những kẽ hở dẫn tới không kiểm soát
được hết các đối tượng lừa đảo trong việc quản lý vốn tín đụng gây khó khăn cho ngân hàng


2.4.
KIỂM SOÁT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG
2.4.1. Khái niệm rủi ro hoạt động

Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do
con người, do các hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài
2.4.2. Nguyên nhân
- Con người bên trong: nhân viên, cá nhân cố ý báo cáo sai, trộm cắp giao dịch nội gián để
tư lợi….
12


- Con người bên ngoài: giả mạo thẻ ngân hàng, chứng từ ngân hàng, xâm nhập hệ thống
thông tin…
- Pháp lý: khiếu nại, khiếu kiện của người lao động, phân biệt đối xử…
- Lỗi quản lý, xử lý: sai sót dữ liệu thong tin đầu vào, lỗi quản lý tài sản bảo đảm, giấy tờ
không đầy đủ…
2.4.3. Một số phương pháp đo lường rủi ro hoạt động:
- Sử dụng các phát hiện của kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.
- Thu nhập và phân tích số liệu tổn thất (nội bộ và bên ngoài)
- Thống nhất các quy trình nghiệp vụ để xác định các rủi roc hung, rủi ro riêng của nghiệp vụ
đó và mối lien hệ của các rủi ro này.
- Chỉ số kết quả kinh doanh và rủi ro để đánh giá cụ thể đối với các yếu tố tác động đến các
rủi ro trọng yếu…
2.4.4. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro hoạt động
- Thứ nhất, cần xây dựng cho mình một khung quản trị rủi ro hoạt động thích hợp, xác định
được các chỉ tiêu đo lường rủi ro hoạt động xuất hiện ở các nghiệp vụ kinh doanh, đưa ra các
kế hoạch kiểm soát xử lý rủi ro nhằm hạn chế thấp nhất chi phí.
- Thứ hai, xây dựng ý thức về quản trị rủi ro hoạt động trong hệ thống, lựa chọn các lĩnh vực

quản trị,(iii) Tập trung và/hoặc phân cấp quản lý.
- Cuối cùng là hạn chế tối đa các nguyên nhân RRHĐ bên ngoài, xây dựng các phương án,
đưa ra tình huống để sẵn sàng đối phó cũng như khắc phục kịp thời hậu quả do các lỗi truyền
thông, thiên tai, hỏa hoạn gây ra RRHĐ. Giải pháp cơ bản cho việc đưa ra quyết định lựa
chọn thay thế là: công nhận rủi ro hiện hữu, chuyển đổi rủi ro cho bên thứ ba, tránh rủi ro
bằng cách ngừng các hoạt động kinh doanh, giảm thiểu RRHĐ bằng đo lường các rủi ro
khác. Những biện pháp này được bổ sung lien tục nhằm hạn chế tổn thất và tạo điều kiện
thuận lợi cho sự tiếp tục kinh doanh trong trường hợp không ngăn chặn được rủi ro.

2.5.
KIỂM SOÁT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO QUỐC GIA
2.5.1. Khái niệm

Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến việc thay đổi về chính trị, kinh tế, chính sách
quản lý ngoại hối- ngoại thương của một quốc gia, khiến cho nhà xuất khẩu không nhận
được tiền hàng, nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa.
2.5.2.

Các nguyên nhân chính gây ra rủi ro quốc gia

Đó chính là những nguyên nhân gây ra biến cố chính trị, xã hội, kinh tế,.. tại một nước:
- Mâu thuẫn về sắc tộc, đảng phái, tôn giáo đe dọa sự ổn định nội bộ của một nước
- Xung đột xã hội thông qua các cuộc biểu tình, đình công, bạo động chiến tranh.
- Vấn đề nợ nước ngoài chồng chất khiến cho Chính phủ nước nhập khẩu buộc phải đưa ra
biện pháp cấm thanh toán hoặc chuyển ngoại tệ ngoại hối ra nước ngoài
- Dự trữ ngoại hối ở mức thấp và cán cân thanh toán của quốc gia bị thâm hụt nặng nề khiến
cho Chính phủ nước nhập khẩu buộc phải đưa ra biện pháp cấp bách dừng thanh toán với
nước ngoài

14

phủ.
- Môi trường xã hội, pháp luật và chính trị
2.5.5. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro quốc gia
- Tích cực rà soát môi trường kinh doanh: Nhà quản lý cần tích lũy vốn hiểu biết sâu sắc về
nền tảng chính trị và luật pháp của quốc gia dự kiến hoạt động kinh doanh. Cần tập trung vào
việc rà soát nhằm đánh giá những nguy cơ và rủi ro có thể xảy ra với Ngân hàng của mình.
15


Việc rà soát này sẽ giúp cho Ngân hàng nâng cao hoạt động của mình sao cho phù hợp với
mục tiêu và tiêu chuẩn của luật pháp và thể chế chính trị tại đất nước đó, tiến tới tạo nên môi
trường thuận lợi để kinh doanh thành công
Sau khi đã tìm hiểu về tình hình chính trị và những nguy cơ ở môi trường kinh doanh dự
kiến, Ngân hàng sẽ xây dựng và áp dụng những chiến lược hướng tới việc quản lý có hiệu
quả các mối quan hệ với những nhà làm luật và các mối quan hệ có lợi khác ở nước chủ nhà.
Tiếp đến, Ngân hàng có thể từng bước tiến hành các biện pháp giảm thiểu nguy cơ gặp phải
những rủi ro quốc gia đe dọa hoạt động kinh doanh của mình.
- Ngân hàng cần thường xuyên theo dõi tình hình kinh tế chính trị của quốc gia, khi có dấu
hiệu thay đổi ảnh hưởng tiêu cực, Ngân hàng cần có những biện pháp phòng ngừa như hạn
chế giao dịch với các thị trường có rủi ro, nếu giao dịch như L/C thì yêu cầu khách hàng ký
quỹ 100% giá trị của L/C, tài trợ XNK thì thực hiện theo hình thức truy đòi
- Bảo vệ thông qua Hợp đồng hợp pháp
Một bản hợp đồng hợp pháp sẽ chỉ rõ quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên và là văn bản hết
sức quan trọng khi những mối quan hệ trở nên xấu đi. Có sự khác biệt rất lớn về luật hợp
đồng giữa các quốc gia khác nhau và các Ngân hàng cần phải theo sát quy chuẩn của nước sở
tại.

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status