Cơ sỞ lý luẬn vỀ nghiỆp vỤ kẾ toán trích lẬp và sỬ dỤng dỰ phòng rỦi ro trong hoẠt đỘng cỦa NHTM - Pdf 69

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN TRÍCH LẬP VÀ
SỬ DỤNG DỰ PHÒNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
NHTM
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM:
Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng là một quá trình lịch sử
lâu dài. Ở thời kỳ đầu các ngân hàng hoạt động độc lập với nhau và thực hiện
các chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế và
phát hành giấy bạc ngân hàng. Nhưng chính sự mở rộng và phát triển của lưu
thông hàng hoá đã dẫn đến sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành
nên các ngân hàng trung ường và hệ thống các ngân hàng trung gian. Hoạt động
ngân hàng ngày càng phát triển và mở rộng đã tạo nên sự ra đời của các ngân
hàng hoạt động trong lĩnh vực riêng: NHTM, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát
triển,…
NHTM là một loại hình trung gian khá phát triển và giữ vai trò tương đối
quan trọng trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, cũng như trong nền kinh tế. Có
rất nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương maih. Luật ngân hàng của
Pháp năm 1941 đã định nghĩa: “được coi là ngân hàng là những xia nghiệp hành
nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức
khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín
dụng hay dịch vụ tài chính”. Còn theo điều 20 luật các TCTD của Việt Nam
năm 1997 : “ TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này
và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ
thanh toán”.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể thấy
NHTM là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ . Có
nghĩa là, NHTM tìm kiếm lợi nhuận thong qua các hoạt động kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ mà chủ yếu là nhận tiền gửi từ những người có nguồn vốn dư
thừa, sử dụng số tiền đó để cho vay những người có nhu cầu về vốn và cung
ng cỏc dch v thanh toỏn rng rói cho nhng ngi cú nhu cu s dng dch

lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng. Đối với ngân hàng, việc nhận các khoản
tiền gửi là cơ sở để tạo ra nguồn vốn cho hoạt động ngân hàng. Nguồn vốn huy
động là nguồn vốn lớn nhất, đảm bảo cho ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh
doanh.
* Chức năng trung gian thanh toán
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, trao đổi hàng hoá ngày càng phức tạp
thì việc thanh toán trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế bằng tiền mặt có rất nhiều
hạn chế, đó là rủi ro mất mát khi vận chuyển, chi phí thanh toán lớn... Vì thế, xuất
hiện nhu cầu thanh toán qua ngân hàng. Việc ngân hàng nhận các khoản tiền gửi,
thực hiện các yêu cầu thu chi của khách hàng chính là tiền đề để ngân hàng thực
hiện vai trò trung gian thanh toán.
Khi ngân hàng thực hiện thanh toán theo yêu cầu thu chi của khách hàng
nh trích tiền từ tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay nhập
vào tài khoản tiền gửi tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của
khách hàng thì tức là ngân hàng đã thực hiện vai trò tring gian thanh toán. Chức
năng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động kinh tế. Thanh toán
không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lu thông tiền mặt,
đảm bảo thanh toán an toàn, giúp các chủ thể kinh tế thực hiện thanh toán nhanh
chóng và hiệu quả. Nhờ đó, nó góp phần làm tăng tốc độ lu thông hàng hoá, tốc
độ luân chuyển vốn và do đó tăng hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Việc
cung cấp các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cũng góp phần tăng thu
nhập, tạo uy tín cho ngân hàng. Việc chu chuyển tiền tệ hiện nay trong bất kì một
nền kinh tế nào cũng chủ yếu là thông qua hệ thống NHTM và chỉ khi chức năng
trung gian thanh toán đợc khẳng định nh là thủ quỹ của xã hội.
* Chức năng trung gian tín dụng
Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các chủ thể kinh tế - đó là những
khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, nhờ đó ngân hàng hình
thành nên quĩ cho vay và đem cho vay đối với các chủ thể kinh tế khác đang có
nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM đã khắc phục đợc những hạn chế của
quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tài sản xã hội, thệ hiện rõ bản chất

thiếu đối với bất kì một nền kinh tế nào.
1.2 dự phòng rủi ro trong hoạt động của nhtm:
1.2.1 Rủi ro - nhân tố tất yếu trong hoạt động NHTM:
Có thế nói, hoạt động của NHTM gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh tế.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động và dịch vụ của ngân hàng ngày
càng xuất hiện nhiều hơn, tham gia vào mọi hoạt động của nền kinh tế và đời sống
con ngời. Cũng vì thế, hoạt động ngân hàng trở thành lĩnh vực nhạy cảm, là hệ
thần kinh của nền kinh tế.
Đối tợng kinh doanh của NHTM là tiền tệ và hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Do đó, hoạt động của
ngân hàng rất nhạy cảm với mọi biến động của nền kinh tế. Những biến động về
giá cả, về quan hệ cung cầu, về chu kì phát triển của nền kinh tế, về lạm phát, về
thất nghiệp,... đều có ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
Nguồn vốn hoạt động của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo
lập và huy động đợc để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, bao gồm vốn huy
động, vốn đi vay, vốn khác và vốn tự có. Trong đó, vốn huy động là nguồn vốn
chủ yếu và đóng vai trò quan trọng nhất.Tuy nhiên nguồn vốn này lại không thuộc
sở hữu của ngân hàng mà là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân c, đợc tạo lập
từ nhiều hình thức khác nhau nên tính ổn định thấp, dễ biến động. Vì thế, hoạt
động của ngân hàng trở nên rất rủi ro.
Hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng hiện nay đã đợc đa dạng hoá nh-
ng hoạt động chủ yếu vẫn là cấp tín dụng, chiếm tỉ trọng tới 60% - 70% trong
tổng tài sản có của các NHTM. Tuy nhiên, khi ngân hàng cho khách hàng vay,
ngân hàng phải gánh chịu rủi ro. Món vay có thể đợc trả lại đầy đủ nhng cũng có
thể trở nên khó đòi và ngân hàng có thể mất toàn bộ số tiền cho vay. Nh vậy, tín
dụng hoạt động chủ yếu của ngân hàng lại là mảng kinh doanh chứa đựng rất
nhiều rủi ro.
Thêm vào đó, đối tợng khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, từ cá nhân,
hộ gia đình, đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổng công ty... và hoạt động

vì thế hoạt động ngân hàng chứa đựng cả rủi ro ngoại hối. Khi ngân hàng duy trì
một trạng thái hối đoán mở, mở trờng hoặc mở đoản, thì khi tỷ giá biến động, giá
trị tài sản có ròng bằng ngoại tệ sẽ thay đổi và rủi ro ngoại hối xảy ra khi giá trị
này âm. Ngoài ra, khi kì hạn tài sản có ngoại tệ và tải sản nợ ngoại tệ không cân
xứng nhau thì rủi ro có thể xảy ra với ngân hàng khi lãi suất ngoại tệ biến động t-
ơng tự nh rủi ro lãi suất.
1.2.2.3 Rủi ro thanh khoản:
Rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không có đủ nguồn vốn hoặc
không thể tìm đợc nguồn từ bên ngoài để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của
mình. Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những ngời gửi tiền đồng thời có nhu cầu
rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Rủi ro thanh khoản xảy ra đối với các ngân
hàng là thờng xuyên. Nguyên nhân chính xuất phát từ đặc điểm mang tính đặc thù
của bảng cân đối tài sản của ngân hàng: đó là các ngân hàng dùng các nguồn vốn
ngắn hạn bên tài sản nợ để tài trợ cho các tài sản dài hạn bên tài sản có. Trong
điều kiện bình thờng, nhu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể dự đoán trớc
đợc và đợc đảm bảo bằng tiền mặt dự trữ hoặc các tài sản có có tính lỏng cao. Tuy
nhiên, trong trờng hợp đặc biệt, khi ngời dân mất lòng tin vào ngân hàng hoặc nhu
cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính trớc đợc, đòi hỏi
ngân hàng phải chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn mức bình thờng thì ngân
hàng có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Trong trờng hợp đó, ngân hàng sẽ
phải bán các tài sản có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầu của ngời gửi tiền.
Vì vậy, rủi ro thanh khoản có thể ảnh hởng rất lớn đến hoạt động ngân hàng.
1.2.2.4 Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trờng hợp ngân hàng không thu đợc đầy đủ
cả gốc và lãi của khoản vay hoặc là thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kì hạn.
Khi ngân hàng cung cấp bất kì một khoản tín dụng nào cho khách hàng thì nó
phải thoả mãn ba nguyên tắc: khoản tín dụng đó phải đợc sử dụng đúng mục đích
và có hiệu quả, phải có bảo đảm tín dụng và phải đợc hoàn trả cả gốc và lãi theo
đúng kì hạn đã cam kết. Tuy nhiên, khi ngân hàng đã cấp tín dụng cho khách
hàng, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà khoản vay đó không đợc hoàn trả đúng

rủi ro. Khi các đối tác của ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ các nghĩa vụ tài chính đã cam kết trong các nghiệp vụ bảo lãnh vay vốn, bảo
lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán và các cam kết về nghiệp vụ hoán
đổi ngoại tệ... thì ngân hàng sẽ phải sử dụng vốn kinh doanh của mình để thực
hiện các nghĩa vụ bảo lãnh, khi ấy tài sản ngoại bảng chuyển thành tài sản nội
bảng và ngân hàng gặp phải rủi ro. Do sự phong phú, đa dạng của các hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status