Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp Lắp máy và xây dựng Điện - Pdf 62

Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm tại xí nghiệp Lắp máy và xây dựng Điện.
A. SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH TỔNG
SẢN PHẨM.
I. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ
TÍNH TỔNG SẢN PHẨM.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói
chung và các doanh nghiệp sản xuất nói riêng có toàn quyền phát huy tính
năng động sàng tạo, độc lập, tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp mình để đem lại kết quả như mong muốn. Tuy nhiên các
doanh nghiệp này luôn phải chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật nếu có
của nền kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung
cầu…)và để tồn tại và phát triển được, các nhà sản xuất luôn phải quan tâm
đến các vấn đề như: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai…
và khi sản phẩm được sản xuất ra để sản phẩm tiêu thụ được thì chất lượng
sản phẩm phải tốt và giá thành thấp… và để đạt được lợi nhuận cao trong quá
trình sản xuất kinh doanh thì một trong các yếu tố quan trọng mà doanh
nghiệp cần phải quan tâm và chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Trong
điều kiện giá bán không đổi, chất lượng không đổi thì giá thành càng hạ bao
nhiều thì doanh nghiệp càng có lợi bấy nhiêu. Muốn vậy các doanh nghiệp cần
phải chú trọng đến việc làm tốt công tác kế toán tập hợp chi phí và tính tổng
sản phẩm, tính đúng, tính đủ, hợp lý và chính xác. Các chi phí sản xuất phát
sinh liên quan tới việc sản xuất sản phẩm từ đó tính toán chính xác giá thành
sản phẩm hỗ trợ cho công tác quản lý doanh nghiệp của các nhà sản xuất kinh
doanh.
1. Bản chất của chi phí sản xuất
- Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh
nghiệp phải tiêu dùng trong một quý để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, thực chất của chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn, chuyển
dịch giá trị các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá thành.
- Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất đi từ

2. Phân loại chi phí sản xuất.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh là việc sắp xếp các chi phí sản xuất
kinh doanh theo từng loại, từng nhóm khác nhau theo đặc chưng nhất định.
Xét về mặt lý luận cũng như trên thực tế, có nhiều cách phân loại khác nhau
như phân loại theo nội dung kinh tế, theo công dụng, theo vị trí, theo quan hệ
giữa các chi phí với quá trình sản xuất. Mỗi cách phân loại đều dáp ứng ít
nhiều cho mục đích quản lý hạch toán kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh ở
góc độ khác nhau. Vì vậy các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau giữ
vai trò nhất định.
a.Phân loại theo các yếu tố chi phí
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dụng kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, đặc điểm phát sinh của
chi phí, chi phí được phân theo yếu tố nhưng thực chất chỉ có 3 yếu tố đó là:
sức lao động, đối tượng lao động, và tư liệu lao động.
Tuy nhiên để có thể thông tin một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc
xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động, việc lập và kiểm tra có thể theo
yêu cầu và trình độ quản lý ở mỗi giai đoạn kinh tế xã hội nhà nước độ chi tiết
có thể khác nhau. Theo quy trình hiện hành ở nước ta toàn bộ chi phí chia làm
7 yếu tố:
-Yếu tố nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vậtv liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng và sản xuất
kinh doanh.
-Yếu tố nhiên liệu; động học sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ.
-Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phản ánh tổng số tiền
lương và phụ cấp mang tính chất phải trả cho toàn bộ công nhân viên chức
theo quy định.
-Yếu tố bảo hiểm XH, bảo hiểm y tế, KPCĐ phản ánh phần BHXH, BHYT,
KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương phải trả cho công nhân
viên chức.
-Yếu tố khấu hao tài sản cố định phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố

3. Bản chất và nội dung giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công việc, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ.
Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm hai mặt hao phí sản
xuất và kết quả sản xuất. Tất cả những chi phí phát sinh trong kỳ, kỳ trước
chuyển sang và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm
lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành.
= + -
Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc không có
sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm = tổng chi phí phát sinh trong
kỳ.
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp
hay gián tiếp vào quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm. Nhưng chi phí phát
sinh trong kỳ dựa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thuộc
các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất sản phẩm, là các khoản chi tiêu
khác có liên quan đến bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi cách tính
toán chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có
thể dẫn đến việc phá vỡ quan hệ hàng hoá, tiền tệ, không xác định được hiệu
quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng.
4.Phân loại giá thành
Để đáp ứng yêu cầu quản lý hạch toán và kế toán giá thành cũng như yêu
cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xét dưới nhiều phạm vi tính
toán khác nhau. Nhưng thực tế có 2 cách phân loại giá thành.
* Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính dựa trên cơ sở chi
phí sản xuất kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so
sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh
nghiệp.

bản của chúng đều là biểu hiện bừng tiền của những chi phí doanh nghiệp đã
bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Nó là căn cứ cơ sở, là tiền đề để tính giá thành
sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí của
doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản
phẩm thấp hay cao. Do đó giá thành sản phẩm gắn liền với chi phí sản xuất.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP.
1. Đối tượng, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi phí
sản xuất cần được tập hợp theo những phạm vi giới hạn đó.
- Nơi phát sinh (địa điểm) tại phân xưởng, tổ đội hay bộ phận sản xuất
- Nơi gánh chịu chi phí (đối tượng chi phí) sản phẩm, nhóm sản phẩm,
đơn đặt hàng hay trang mục công trình.
Các yếu tố để xác định đúng tập hợp chi phí
- Đặc điểm tổ chức sản xuất hoá doanh nghiệp.
- Quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm.
- Địa điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí.
-Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
-Đối với doanh nghiệp sản xuất đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
thường là sản phẩm, nhóm sản phẩm tại các phân xưởng bộ phận sản xuất.
1.2.Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
- Phương pháp tập hợp trực tiếp chi phí sản xuất
Áp dụng với những chi phí trực tiếp liên quan đến một số đối tượng kế
toán tập hợp chi phí sản xuất. Căn cứ vào chứng từ gốc về chi phí phát sinh để
tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng.
- Phương pháp phân nổ gián tiếp chi phí sản xuất
Áp dụng với những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp
chi phí sản xuất khác nhau, được tiến hành tập hợp phân bổ theo các bước sau.
Lựa chọn tiêu thức phân bố hợp lý và tính hệ số phân bổ chi phí, sự thay
đổi tiêu thức này tương quan tỷ lệ thuận với các chi phí sản xuất cần phân bổ.

2.2.Kỳ tính giá thành sản phẩm.
Là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá
thành cho các đối tượng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành thích hợp
giúp việc tính giá thành khoa học hợp lý cung cấp số liệu kịp thời, đầy đủ thực
hiện chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp kế toán phải căn cứ vào:
-Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm.
-Quy mô của sản phẩm
-Loại sản phẩm.
2.3.Phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Là phương pháp sử dụng số liêu chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ để
tính toán tổng hợp giá thành và giá thành đơn vị theo từng khoản mục chi phí
quy định cho các đối tượng tính giá thành. Tuỳ theo từng trường hợp yêu cầu
cụ thể có thể chọn một trong các phương pháp tính giá thành sau.
2.3.1.Phương pháp tính giá thành đơn giản (tính trực tiếp)
Z = C + Dđk – Dck
Z
đơnvị
=
Trong đó:
Z: Là tổng giá thành từng đối tượng tính giá thành
Z
đơnvị
: Giá thành đơn vị từng đối tượng tính giá thành
C: Tổng chi phí đã tập hợp trong kỳ
S: Sản lượng thành phẩm

Dđk, Dck: Chi phí của sản phẩm dở dang đầu và cuối kỳ
Trường hơp sản phẩm dở đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc không có sản
phẩm dở đầu kỳ và cuối kỳ thì chi phí sản xuất tập hợp được trong kỳ chính là

kết chuyển song song.
+
= x
+
=

=
n
i 1
(Chi phí phát sinh ở giai đoạn i)
=
2.3.3.Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Khi đơn đặt hàng hay hàng loạt sản phẩm mới đưa vào sản xuất. Kế toán phải
mở cho mỗi đơn đặt hàng hay loạt hàng đó một bảng tính giá thành, cuối tháng
căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp ở từng phân xưởng theo đơn đặt hàng
hoặc loạt hàng trong sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất để ghi sang các bảng
tính giá thành liên quan. Khi nhận được chứng từ xác nhận đơn đặt hàng hay
loạt hàng đã được sản xuất hoàn thành, kế toán ghi tiếp chi phí sản xuất trong
tháng của đơn đặt hàng đang còn sản xuất dở dang thì chi phí đã ghi trong các
bảng tính tính giá thành đều là chi phí của sản phẩm dở dang.
2.3.4.Phương pháp tính loại trừ chi phí
Áp dụng trong trường hợp đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là
toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, còn đối tượng tính giá thành chỉ là sản
phẩm chính, sản phẩm hoàn thành, sản phẩm lao vụ phục vụ các bộ phận không
phải là sản xuất phụ.
Z = C + D
đk
– D
ck
– C

chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ để tính ra trong giá thành thực tế
của cả nhóm sản phẩm.
2.3.7.Phương pháp tính giá thành theo giá thành định mức
Áp dụng đối với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất đã
định hình và sản phẩm đã đi vào sản xuất ổn định, các loại định mức kỹ thuật đã
hợp lý, chế độ quản lý định mức đã kiện toàn đi vào nề nếp, trình độ kế toán
vững vàng.
- Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí được
duyệt để tính giá thành định mức của sản phẩm.
Chứng từ gốc
Sổ nhật ký chungSổ nhật ký đặc biệt Sổ, thẻ KT chứng từ
Sổ cái Bảng tổng hợp SL CT
Bảng cân đối số phát sinh
Báo cáo kế toán
(2)
(1)
(3)
(2)
(1) (4)
(5)
(7)
(7)
(6)
Ghi chú:Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu kiểm tra
- Tổ chức hạch toán riêng biệt số chi phí sản xuất thực tế phù hợp với định
mức và số chi phí sản xuất chênh lệch thoát ly mức.
- Khi có thay đổi định mức cần tính toán lại kịp thời giá thành và chênh
lệch chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang (nếu có).
- Xác định giá thành thực tế của sản phẩm.
Z

II. HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ
NGHIỆP XÂY LẮP.
1.Đặc điểm xí nghiệp xây lắp.
Đặc điểm của xí nghiệp xây lắp có ảnh hưởng đến việc tổ chức công tác kế
toán trong qúa trình đầu tư xây lắp điện nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền
kinh tế quốc dân, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh. Xây
dựng điện cũng như bất kỳ một ngành sản xuất vật chất nào khác hoạt động của
các đơn vị xây lắp thực chất cũng là quá trình biến đổi đối tượng lao động thành
sản phẩm. Hay nói cách khác ngành xây dựng điện là một ngành sản xuất đặc
biệt mang tính đặc thù riêng của nó.
Do tổ chức quy trình công nghệ, quá trình thi công phải đúng quy trình.
sản phẩm xây lắp điện được coi như là những công trình xây dựng có quy mô
lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc và có giá trị lớn. Quá trình sản xuất
sản phẩm phải tuân theo kỹ thuật về thiết kế, dự toán định mức đã quy định.
Trong suốt quá trình thi công, các định mức về nguyên vật liệu phải đúng tiêu
chuẩn thì mới đảm bảo về chất lượng công trình. sản phẩm xây lắp thi công theo
dự toán thiết kế.
Xuất phát từ đặc điểm của phương pháp lập dự toán thiết kế trong xây
dựng cơ bản dự toán được lập theo từng hạng mục chi phí để có thể so sánh
kiểm tra, chi phí sản xuất được phân loại theo chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp,chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Đặc thù cuủa ngành
xây dựng là có hạch toán chi phí máy thi công nhưng để cho đơn giản ban lãnh
đạo xí nghiệp đã quyết định gộp chi phí máy thi công vào 3 chi phí nêu trên.
Chi phí sản xuất của xí nghiệp xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống
và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất, thi công và cấu thành
trên giá thành sản phẩm xây lắp. Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí
bỏ ra để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo quy định.
2.Phương pháp hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp, các
doanh nghiệp xây lắp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên, đối tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status