Lời nói đầu
Trong xu thế đổi mới chung của cả nớc, từ nền kinh tế hàng hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc ngày càng có thêm nhiều
doanh nghiệp ra đời và lớn mạnh không ngừng. Để có thể hội nhập tồn tại và phát
triển trong sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trờng, đòi hỏi các doanh nghiệp
phải có phơng thức quản lý mới phù hợp, xác định cho mình những hớng đi đúng
đắn sao cho kết quả đầu ra là cao nhất với giá cả và chất lợng sản phẩm có mức
thu hút đợc ngời tiêu dùng.
Để làm đợc điều này các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ các yếu tố chi
phí của quá trình sản xuất nh vật t tiền vốn, giá thành, doanh thu, lợi nhuận
Ban lãnh đạo doanh nghiệp chỉ có thể có đợc những thông tin này một cách chính
xác, đầy đủ và kịp thời thông qua bọo máy kế toán trong đó kế toán tập hợp chi
phí và tính giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố có ảnh hởng quyết
định tới tính hiệu quả của công tác quản lý kinh tế tài chính trong doanh
nghiệp.
Nội dung của chuyên đề này gồm 3 phần:
Phần I: Đặc điểm tình hình chung của Xí nghiệp lắp máy và xây dựng điện
Phần II: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
của Xí nghiệp lắp máy và xây dựng điện.
Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi
phí và tính giá thành sản phẩm.
Phần I: Đặc điểm tình hình chung của Xí nghiệp lắp máy
và xây dựng điện.
I. Quá trình hình thành và phát triển
Căn cứ vào nghị định số 47-HĐBT ngày 5-3-1987 của HĐBT quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy của Bộ trởng năng lợng. Xét nhu
cầu về sản xuất gia công, sửa chữa các thiết bị, vật liệu phụ kiện điện, phục vụ cho
nhiệm vụ xây lắp lới điện của Công ty xây lắp điện 1.
Ngày 14-11-1988 quyết định thành lập Xí nghiệp cơ khí điện thuộc Công ty
xây lắp điện 1.
Nhiệm vụ và quyền hạn của xí nghiệp là:
trình công nghệ có ảnh hởng rất lớn đến tổ chức sản xuất và quản lý trong công
ty, làm cho công việc này có nhiều điểm rối các ngành sản xuất khác. Điều này
đợc thể hiện rõ nét qua cơ chế giao khoán của đơn vị. Nội dung của nó là công
trình hoặc hạng mục công trình của xí nghiệp nhận thầu thi công những khối lợng
công việc và đặc thù riêng rẽ có tỷ lệ giao khoán riêng thể hiện thông qua hoạt
động giao khoán.
Các đơn vị nhận khoán phải tổ chức thi công, chủ động cung ứng vật t, nhân
liệu, đảm bảo đúng tiến độ thi công, chất lợng kỹ thuật, an toàn lao động và phải
tính đến chi phí cần thiết cho việc bảo hành công trình, đơn vị nhận khoán tổ chức
công tác ghi chép và luân chuyển chứng từ nhằm phản ánh đầy đủ chính xác,
khách quan, kịp thời mọi hoạt động kinh tế phát sinh. Cuối quý phải kiểm tra khối
lợng sản phẩm dở dang.
Nếu lỗ đơn vị nhận thi công phải tự bù đắp.
+Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm chủ yếu.
Sản phẩm chủ yếu của xí nghiệp đó là những công trình về định đờng dây
220 KV hay 110 KV và trạm biến áp.
Đây là những công trình có quy mô lớn, thời gian sản xuất dài, phức tạp và
nhất là không thi công tại một nơi cố định mà dọc theo chiều dài tính bằng km
của các tuyến đờng dây. Sản phẩm làm ra mang tính đơn chiếc, chi phí lớn. Xuất
phát từ đặc điểm đó nên quy trình sản xuất những sản phẩm chủ yếu của xí nghiệp
là liên tục, phức tạp, phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi công trình đều
có dự toán riêng, tuy vậy hầu hết các công trình đều phải tuân theo một quy trình
nh sau.
- Nhận thầu thông qua đấu thầu hoặc giao thầu trực tiếp.
- Ký hợp đồng xây lắp với chủ đầu t đại diện bên A.
- Tiến hành khảo sát địa chất.
-Tổ chức bố trí lao động, máy móc, cung ứng vật t.
- Quy trình đợc hoàn thành với sự giám sát của chủ đầu t công trình về tiến
độ và kỹ thuật.
- Bàn giao và quyết toán công trình với chủ đầu t.
chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác kế toán, tổ chức, kiểm tra giám sát việc thực
hiện chế độ ghi chép ban đầu, chếc độ báo cáo thống kê định kỳ, tổ chức bảo
quản hồ sơ tài liệu kế toán, thể lệ về quản lý kế toán tài chính nói chung và chế độ
kế toán nói riêng. Đồng thời theo dõi phần kế toán tổng hợp và các phần kế toán
khác .
Kế toán trởng chịu trách nhiệm báo cáo đầy đủ, phản ánh kịp thời các thông
tin tài chính cho giám đốc xí nghiệp từ đó rút ra kinh nghiệm, vận dụng sáng tạo
cải tiến hình thức và phơng pháp kế toán sao cho hợp lý, chặt chẽ phù hợp với
điều kiện của xí nghiệp. Kế toán tổng hợp giúp kế toán trởng kiểm tra đôn đốc
công tác kế toán hàng ngày, lập sổ cái, làm báo cáo kế hoạch, phân tích kinh
doanh
- Phòng tổ chức lao động có nhiệm vụ tăng cờng hay giảm bớt số công nhân
viên trong xí nghiệp sao cho phù hợp, xem xét và trình giám đốc giải quyết thoả
đáng các nhu cầu và quyền lợi cho ngời lao động, phòng tổ chức lao động có
quyền điều hành, luân chuyển công nhân viên trong xí nghiệp sao cho hợp lý.
- Phòng kế hoạch phát triển kinh doanh
Phòng này có trách nhiệm báo cáo kế hoạch phát triển kinh doanh trong quý
tới (năm tới)phải trình lên ban giám đốc phơng hớng phát triển kinh doanh cho
quý sắp tới.
+ Phòng vật t
Đây là sơ đồ bộ máy sản xuất ở xí nghiệp.
III.Tình hình chung về công tác kế toán tại xí nghiệp Lắp
máy và xây dựng Điện.
xí nghiệp Lắp máy và xây dựng Điện là đơn vị sản xuất kinh doanh ngành
xây lắp thực hiện việc phân cấp quản lý trên do vậy bộ máy kế toán của xí nghiệp
đợc tổ chức theo hình thức phân tán và áp dụng hình thức kế toán nhật ký tuy ở
xí nghiệp có phòng kế toán của xí nghiệp còn ở các đội xây lắp có kế toán viên
của Đội. Phòng kế toán của xí nghiệp đã đợc trang bị máy vi tính, toàn bộ kế toán
tổng hợp và một phần kế toán phân tích đã đợc thực hiện trên máy, với phần mềm
kế toán đã đợc nâng cấp lên nhiều lần, đội ngũ kế toán có trình độ cao, công tác
2
Đội thí
nghiệm
Phân xư
ởng sản
xuất
NV L phụ
Kế toán đội luôn cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các số liệu kế toán
thống kê theo yêu cầu của công trình lập và giữ đúng kỳ hạn các báo cáo kế toán,
báo cáo thống kê định kỳ theo đúng mẫu biểu về phòng kế toán xí nghiệp.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của xí nghiệp Lắp máy và xây dựng Điện
* Chức năng của từng bộ phận.
-Đứng đầu bộ máy kế toán hiện nay là kế toán trởng kiêm trởng phòng tài
chính có nhiệm vụ tổ chức bộ máy kế toán của công ty đảm bảo bộ máy gọn nhẹ
hoạt động có hiệu quả, kế toán trởng chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác kế toán
theo quy định của xí nghiệp. Kế toán trởng chịu trách nhiệm báo cáo đầy đủ, phản
ánh kịp thời các thông tin tài chính cho giám đốc, từ đó rút ra kinh nghiệm vận
dụng sáng tạo, cải tiến hình thức phơng pháp kế toán sao cho hợp lý nhất, chặt chẽ
nhất.
- Kế toán tổng hợp giúp kế toán trởng kiểm tra đôn đốc công tác kế toán
hàng ngày, lập sổ cái, làm báo cáo kế hoạch, phân tích kinh doanh
- Kế toán tập hợp chi phí và tính tổng sản phẩm, phải tổng hợp đợc tất cả các
chất lợng dùng để sản xuất sản phẩm và cuối quý phải xác định chi phí bỏ vào các
công trình và tính giá thành các công trình hoàn thành.
Kế toán trưởng
(trưởng phòng)
Kế
toán
tổng
hợp
thu chi tồn quỹ tiền mặt, thanh toán nội bộ và bên ngoài công ty. Với tình hình
vay vốn và quá trình thanh toán tiền vay, kế toán thanh toán với nhà nớc có nhiệm
vụ xác định số thuế các khoản phải nộp và tình hình thanh toán các khoản phải
nộp thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quy định (nộp đúng, nộp đủ và kịp thời)
- Kế toán vốn bằng tiền có nhiệm vụ theo dõi việc thanh toán quy ngân hàng
số liệu có và tình hình biến ddộng của các khoản tiền gửi của công ty tại ngân
hàng, kế toán phải mở sổ theo dõi chi tiết theo từ ngân hàng và tình hình sử dụng
từng loại tiền gửi để tiện cho việc kiểm tra đối chiếu.
- Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm là tổ chức hạch toán chi tiết và
tổng hợp thành phẩm, tổng hợp tiêu thụ thành phẩm, giám đốc nên chấp hành quy
định xuất nhập tiêu thụ thành phẩm xác định kết quả tiêu thụ và doanh thu. Đồng
thời theo dõi các khoản nợ của khách hàng, tình hình thanh toán của khách hàng.
- Thủ quỹ cùng với kế toán tiến hành trực tiếp thu chi tiêu theo hoá đơn
chứng từ và chịu trách nhiệm quản lý hết tiền của xí nghiệp.
Phần II: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp Lắp máy
và xây dựng Điện.
A. Sở lý luận của kế toán tập hợp chi phí và tính
tổng sản phẩm.
I. Sự cần thiết nghiên cứu công tác kế toán tập hợp chi phí
và tính tổng sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung
và các doanh nghiệp sản xuất nói riêng có toàn quyền phát huy tính năng động
sàng tạo, độc lập, tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mình để đem lại kết quả nh mong muốn. Tuy nhiên các doanh nghiệp này
luôn phải chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật nếu có của nền kinh tế thị tr-
ờng (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu ) và để tồn tại và
phát triển đợc, các nhà sản xuất luôn phải quan tâm đến các vấn đề nh: sản xuất
cái gì, sản xuất nh thế nào và sản xuất cho ai và khi sản phẩm đ ợc sản xuất ra
để sản phẩm tiêu thụ đợc thì chất lợng sản phẩm phải tốt và giá thành thấp và
- Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật t, tài sản , tiền vốn của doanh
nghiệp bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì. Tổng chi tỉêu cho một chu kỳ sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp chính là các chi phí cho quá trình sản xuất sản
phẩm và chi phí cho quá trình tiêu thụ.
- Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhng lại có quan hệ mật thiết
với nhau, chi tiêu là cơ sở hình thành chi phí, không chi tiêu thì không có chi phí.
- Chi phí và chi tiêu không chỉ khác nhau về lợng mà còn khác nhau về thời
gian. Có những khản chi tiêu kỳ này nhng lại đợc tính vào kỳ sau (chi mua hàng
hoá, vật t cha sử dụng). Có những khoản trích vào chi phí kỳ này nhng thực tế cha
tiêu nh chi phí trích trớc.
Nh vậy sở dĩ có sự khác nhau giữa cơ và chi tiêu là do đặc điểm tổ chức vận
dụng và phơng thức dịch chuyển của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất là
yêu cầu kỹ thuật hạch toánchung.
2. Phân loại chi phí sản xuất.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh là việc sắp xếp các chi phí sản xuất
kinh doanh theo từng loại, từng nhóm khác nhau theo đặc chng nhất định. Xét về
mặt lý luận cũng nh trên thực tế, có nhiều cách phân loại khác nhau nh phân loại
theo nội dung kinh tế, theo công dụng, theo vị trí, theo quan hệ giữa các chi phí
với quá trình sản xuất. Mỗi cách phân loại đều dáp ứng ít nhiều cho mục đích
quản lý hạch toán kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh ở góc độ khác nhau. Vì
vậy các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau giữ vai trò nhất định.
a.Phân loại theo các yếu tố chi phí
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dụng kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, đặc điểm phát sinh của chi
phí, chi phí đợc phân theo yếu tố nhng thực chất chỉ có 3 yếu tố đó là: sức lao
động, đối tợng lao động, và t liệu lao động.
Tuy nhiên để có thể thông tin một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc
xây dựng và phân tích định mức vốn lu động, việc lập và kiểm tra có thể theo yêu
cầu và trình độ quản lý ở mỗi giai đoạn kinh tế xã hội nhà nớc độ chi tiết có thể
khác nhau. Theo quy trình hiện hành ở nớc ta toàn bộ chi phí chia làm 7 yếu tố:
phân xởng sản xuất.
c. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với đối tợng chi phí.
Mục đích của cách phân loại này giúp cho việc xác định phơng pháp kếtoán
tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tợng một cách chính xác hợp lý.
Theo các này chi phí sản xuất đợc chia làm 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc thi
công công việc nhất định, những chi phí này kế toán có thể căn cứ vào số liệu
chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tợng chi phí.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc cùng
một lúc thi công nhiều công trình khác nhau những chi phí này kế toán phải tiến
hành phân bổ cho các đối tợng có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
3. Bản chất và nội dung giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công việc, sản phẩm,
lao vụ đã hoàn thành trong kỳ.
Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm hai mặt hao phí sản xuất
và kết quả sản xuất. Tất cả những chi phí phát sinh trong kỳ, kỳ trớc chuyển sang
và các chi phí trích trớc có liên quan đến khối lợng sản phẩm lao vụ, dịch vụ đã
hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành.
= + -
Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc không có
sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm = tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hay
gián tiếp vào quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm. Nhng chi phí phát sinh trong
kỳ dựa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh đợc giá trị thuộc các t liệu sản xuất
tiêu dùng cho sản xuất sản phẩm, là các khoản chi tiêu khác có liên quan đến bù
đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan không phản ánh
đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ quan hệ
hàng hoá, tiền tệ, không xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đ-
ợc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn
thành.
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn
thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm dở dang cuối kỳ và cả sản phẩm hỏng.
Giá thành sản phẩm thì không liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm dở dang
cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhng lại liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm dở
dang từ kỳ trớc chuyển sang.
Tuy vậy cả hai khái niệm trên có mối quan hệ rất mật thiết vì nội dung cơ
bản của chúng đều là biểu hiện bừng tiền của những chi phí doanh nghiệp đã bỏ
ra cho hoạt động sản xuất. Nó là căn cứ cơ sở, là tiền đề để tính giá thành sản
phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí của doanh
nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm thấp hay
cao. Do đó giá thành sản phẩm gắn liền với chi phí sản xuất.
II. Đối tợng và phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm ở xí nghiệp.
1. Đối tợng, phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất.
1.1. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi phí sản xuất
cần đợc tập hợp theo những phạm vi giới hạn đó.
- Nơi phát sinh (địa điểm) tại phân xởng, tổ đội hay bộ phận sản xuất
- Nơi gánh chịu chi phí (đối tợng chi phí) sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt
hàng hay trang mục công trình.
Các yếu tố để xác định đúng tập hợp chi phí
- Đặc điểm tổ chức sản xuất hoá doanh nghiệp.
- Quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm.
- Địa điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí.
-Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
-Đối với doanh nghiệp sản xuất đối tợng tập hợp chi phí sản xuất thờng là
sản phẩm, nhóm sản phẩm tại các phân xởng bộ phận sản xuất.
1.2.Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất.
- Phơng pháp tập hợp trực tiếp chi phí sản xuất
-Dạ vào yêu cầu hạch toán kế toán, hạch toán nội bộ doanh nghiệp, yêu cầu
xác định hiệu quả kinh tế của sản phẩm.
- Khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp nói chung và của cán bộ
hạch toán nói riêng.
Nh vậy đối tợng tính giá thành có nội dung khác so với đối tợng tập hợp chi
phí sản xuất nhng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Số liệu chi phí sản
xuất tập hợp là cơ sở căn cứ để tính giá thành cho từng đối tợng tính giá thành.
2.2.Kỳ tính giá thành sản phẩm.
Là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá thành
cho các đối tợng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành thích hợp giúp việc
tính giá thành khoa học hợp lý cung cấp số liệu kịp thời, đầy đủ thực hiện chức
năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp kế toán phải căn cứ vào:
-Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm.
-Quy mô của sản phẩm
-Loại sản phẩm.
2.3.Phơng pháp tính giá thành sản phẩm.
Là phơng pháp sử dụng số liêu chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ để tính
toán tổng hợp giá thành và giá thành đơn vị theo từng khoản mục chi phí quy định
cho các đối tợng tính giá thành. Tuỳ theo từng trờng hợp yêu cầu cụ thể có thể
chọn một trong các phơng pháp tính giá thành sau.
2.3.1.Phơng pháp tính giá thành đơn giản (tính trực tiếp)
Z = C + Dđk Dck
Z
đơnvị
=
Trong đó:
Z: Là tổng giá thành từng đối tợng tính giá thành
Z
đơnvị
+
= x
Chi phí NVL
chính (bỏ vào 1
lần từ đầu)
Giá thành NTP
giai đoạn 1
chuyển sang
Giá thành NTP
giai đoạn (n-1)
chuyển sang
Chi phí sản xuất
khác ở giai đoạn 1
Chi phí sản xuất
khác ở giai đoạn 2
Tổng Z và Zđk
nửa thành phẩm ở
giai đoạn 2
Tổng Z và Zđk
nửa thành phẩm ở
giai đoạn 1
Chi phí sản xuất
khác ở giai đoạn n
Tổng Z và Zđk
của thành phẩm
+
=
∑
=
n
phẩm chính khác nhau. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công
nghệ sản xuất. Đối tợng tính giá thành là từng loại sản phẩm do quy trình công
nghệ sản xuất đó đã sản xuất hoàn thành
- Chọn hệ số cho các sản phẩm
- Căn cứ sản lợng thực tế hoàn thành để tính
=
=
n
i 1
Si x Hi
Trong đó:
Si: Sản lợng thực tế của loại sản phẩm i
Hi: Hệ số quy đổi cho sản lợng sản phẩm i
2.3.6.Phơng pháp tính giá thành theo tỷ lệ
Căn cứ vào một tiêu chuẩn hợp lý tính tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế cho các
sản phẩm trong nhóm, tiêu chuẩn phân bổ thờng đợc lựa chọn:
- Tính tổng giá thành của từng quy cách với đơn giá giá thành đơn vị định
mức hoàn thành kế hoạch từng khoản mục
- Tính tổng giá thành định mức kế hoạch của cả nhóm theo số lợng thực tế
dùng làm phơng thức phân bổ.
- Căn cứ chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ cho cả nhóm sản phẩm vào chi
phí sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ để tính ra trong giá thành thực tế của cả
nhóm sản phẩm.
2.3.7.Phơng pháp tính giá thành theo giá thành định mức
áp dụng đối với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất đã
định hình và sản phẩm đã đi vào sản xuất ổn định, các loại định mức kỹ thuật đã
hợp lý, chế độ quản lý định mức đã kiện toàn đi vào nề nếp, trình độ kế toán vững
vàng.
- Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí đợc